Đồng hồ ở sảnh chờ chỉ 4 giờ rưỡi khi tôi rời bệnh viện. Vẫn còn hai tiếng rưỡi nữa mới đến giờ hẹn ăn tối với Patricia. Tôi phân vân trong vài phút về điều mình nên làm: tôi nên trở lại đồn cảnh sát hay là đi gặp những người hàng xóm của ông Harald Olesen quá cố? Cuối cùng tôi quyết định chọn phương án hai. Tôi muốn biết liệu bà vợ ông gác dan có gì bổ sung vào câu chuyện của chồng mình hay không. Hơn thế nữa, một ý tưởng hấp dẫn vừa lóe lên trong đầu tôi. Rõ ràng là tôi không thể đề cập đến quyển nhật ký với bất kỳ người hàng xóm nào. Nhưng trên đường đi, tôi thay đổi quyết định của mình ít nhất tám lần về việc tôi có nên đối chất với họ về cái tên Chân nai và những chữ viết tắt C, J, P, O hay không.
Bà vợ ông gác dan đang ngồi ở vị trí trực khi tôi đến. Bà ta xác nhận câu chuyện của chồng trong chiến tranh, nhưng cũng không bổ sung được chi tiết quan trọng nào. Bà ta vẫn nhớ rõ cậu thiếu niên tị nạn, người đã trở lại sau đó mười năm cùng với quà cáp và nhũng lời cảm ơn. Đó cũng là một trong những điểm sáng trong hồi ức của bà những năm sau chiến tranh. Bà ta chưa từng gặp lại những người khác và ký ức của bà về họ mơ hồ hơn. Tuy nhiên, bà ta có thể xác nhận chuyện một cặp vợ chồng trẻ đi cùng một đứa bé đã trốn ở đây trong vài ngày, và ông Harald Olesen đã đưa họ đi vào đêm trước khi bọn Gestapo ập đến. Bà ta hình như đã từng nghe chồng mình đề cập đến cái tên Chân nai, nhưng không nhớ ông Olesen có nói gì về người này.
Bà vợ ông gác dan có vẻ tần ngần khi tôi cảm ơn bà. Sau đó với vẻ sợ sệt, bà rút ra từ trong túi áo một tờ giấy gấp lại.
“Cậu nhân viên giao điện tín đã đến vào hôm nay. Việc này từng xảy ra trước đây - nhưng không hẳn thế. Ông Harald Olesen nhận một số lượng lớn các điện tín khi còn làm việc cho chính phủ. Nhưng cái này được gửi cho tôi!”
Bà run rẩy đưa nó cho tôi. Nội dung bức điện khá ngắn gọn:
GỬI BÀ RANDI HANSEN SỐ 25 PHỐ KREBS OSLO THEO DI NGUYỆN CỦA ÔNG HARALD OLESEN QUÁ CỐ, BÀ ĐƯỢC MỜI CÓ MẶT TẠI PHÒNG HỌP CỦA CHÚNG TÔI SỐ 28B PHỐ IDUN VÀO THỨ TƯ NGÀY 10 THÁNG 4 LÚC 12 GIỜ TRƯA STOP LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐỌC DI CHÚC CỦA ÔNG OLESEN STOP HÃNG LUẬT RONNING, RONNING & RONNING.
Tôi gật đầu tỏ vẻ quan tâm và hỏi xem những người hàng xóm khác có nhận được bức điện tương tự vào hôm nay. Bà vợ ông gác dan gật đầu một cách chậm rãi.
“Vâng, vâng - tất cả bọn họ đều được nhận một bức. Anh người Mỹ đã ra ngoài nên nhân viên giao điện tín đi đến Đại sứ quán. Ông Konrad Jensen không chịu mở cửa cho đến khi nghe tiếng tôi, nên tôi phải đi cùng với cậu ta. Tôi dám chắc nó không có ý nghĩa gì đặc biệt đâu, ngoại trừ việc đây là lần đầu tiên có ai đó gửi cho tôi một điện tín. Nhưng dù sao, tôi vẫn nghĩ…”
Bà ta đột nhiên đỏ mặt như một cô nữ sinh và quay nhìn sang hướng khác. Một phút sau bà cười hối lỗi và nói tiếp.
“Ồ, ai cũng có một giấc mơ nhỏ… Ông Harald Olesen là một người tử tế, anh biết đấy, ông ấy luôn nhớ tặng quà cho chúng tôi vào Giáng sinh và những dịp tương tự. Và chồng tôi cũng đã giúp đỡ ông ấy trong chiến tranh. Suy cho cùng, tôi đã dọn dẹp nhà cho ông ấy suốt chừng ấy năm tháng. Do vậy, tôi trộm nghĩ biết đâu có một cơ hội mong manh rằng trong di chúc của mình, ông ấy để lại cho chúng tôi một khoản tiền nho nhỏ.”
Tôi im lặng. Điều đó rõ ràng làm bà căng thẳng, nên bà vội nói tiếp.
“Vâng, tôi hiểu - thật tồi tệ khi nghĩ như thế. Nhưng rất dễ bị cuốn vào giấc mơ giữa ban ngày đó nếu như anh cũng nghèo như tôi trong thời gian lâu như vậy. Chỉ cần ba trăm hoặc năm trăm kron, đó đã là một gia tài nhỏ đối với tôi… Hai ngàn kron sẽ đủ cho tôi mua cà phê, mua quà Giáng sinh cũng như sinh nhật cho con cháu cho đến khi tôi đủ bảy mươi tuổi và nhận lương hưu. Tôi sẽ suốt đời biết ơn ông Harald Olesen. Dĩ nhiên sẽ không có nhiều đến như vậy. Nhưng ông ấy tốt bụng và giàu có, nên biết đâu tôi có thể hy vọng được vài trăm kron. Tôi đã chuẩn bị gói gém đồ đạc do tôi phải rời đi ngay khi ông Anton qua đời. Sau đó tôi sẽ sống với một trong số các con gái của mình; mỗi đứa sẽ luân phiên làm từ thiện bằng cách nuôi tôi trong vài tháng. Thật vui khi gặp các con và các cháu, nhưng sẽ dễ sợ biết bao nếu chỉ ngồi đó mà không có tiền để mua thứ gì đó cho chúng.”
Bà ta nhìn xuống rồi lại ngẩng lên.
‘Thứ lỗi cho tôi, nhưng tôi phải nói điều này với ai đó’, bà ta nói rất khẽ.
Tôi tha lỗi cho bà ta ngay; sau đó tôi nói lời cảm ơn và bỏ đi. Tôi không nỡ nói điều gì có thể gây cho bà hy vọng hão huyền. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận rằng bức điện không hề giúp tôi giảm đi cảm giác hoang mang đối với vụ án này - hay sự tò mò của tôi về bản di chúc.
Bức điện giúp tôi quyết định dứt khoát phải thử nói ra cái tên Chân nai với tất cả những người hàng xóm. Ai nấy đều ở nhà vào giờ này, nhưng rồi tôi chẳng tìm hiểu được gì nhiều.
Một lần nữa Darrell Williams lại tỏ ra rộng lượng và bặt thiệp. Anh ta cười phá lên và cho biết đó thật là một bí danh đầy sáng tạo, nhưng không hề biết là ai hay điều gì ở phía sau. Anh ta gắn cái tên Chân nai với những quyển sách về Thổ dân da đỏ (có phải James Fenimore Cooper đã viết không nhỉ?) mà anh ta đã đọc vào những năm 1930. Anh ta cũng ngạc nhiên khi nhận được bức điện thông báo về việc mình được yêu cầu có mặt khi mở di chúc. Anh ta không hiểu tại sao, nhưng giờ chuyện đó đã ít bí hiểm hơn khi anh ta biết mọi người đều nhận được một bức điện. Dĩ nhiên là anh ta sẽ đến dự, vì tò mò và lịch sự.
Vợ chồng Kristian và Karen Lund đang ăn tối khi tôi gõ cửa, cậu con trai của họ ngồi trong một cái ghế cao ở cuối bàn. Một gia đình hoàn hảo. Họ xác nhận với tôi đã nhận điện tín và quá đỗi tò mò vì lí do. Chị vợ vẫn thờ ơ như lần trước, còn anh chồng rõ ràng bình tĩnh hơn nhiều. Tôi hy vọng rằng điều đó không có nghĩa là anh ta đang che giấu điều gì với tôi, nhưng tôi cho qua. Họ khá ngạc nhiên khi nghe cái tên Chân nai, nhưng không biết gì về nó.
Cô Sara Sundqvist ban đầu ngập ngừng hé cửa với dây xích an toàn vẫn còn gắn trên chốt, nhưng tháo nó ngay khi thấy tôi. Cô ta cũng đã nhận điện tín và không chắc sẽ tham dự hay không, rồi hứa sẽ đi khi tôi nói cho cô biết tất cả mọi người có lẽ sẽ đến đó. Tôi đùa thêm rằng tôi sẽ có mặt ở đó, cho nên cô sẽ tuyệt đối an toàn. Ngay lập tức cô cười với tôi duyên dáng và hơi chồm người tới trước trên chiếc ghế. Tôi hiểu tại sao Kristian bị cuốn hút hoàn toàn bởi cô gái này, và thầm nghĩ có lẽ cô nên tập trung hơn cho sự nghiệp diễn xuất của mình.
Sara giật mình khi tôi nhắc tới cái tên Chân nai, nhưng nhanh chóng điềm tĩnh lại và nói rằng mình không liên tưởng được gì với cái tên đó. Với giọng êm ái nhất có thể, cô ta hỏi tôi cái tên đó từ đâu mà ra. Cô ta gật đầu với vẻ thấu hiểu khi tôi nói rằng tôi không thể cho cô biết lúc này. Tôi cho rằng đây là thời điểm thích hợp để cáo lui.
Ông Konrad Jensen mở cửa cũng thận trọng như trước, tuy tỏ ra bình tĩnh hơn. Ông đã chấp nhận việc mất chiếc xe nhưng tương lai vẫn có vẻ trống trải khi thiếu nó. Khi cậu giao điện tín đến trước cửa nhà, ông đã tưởng ai đó định lừa ông nên chỉ mở cửa khi bà vợ ông gác dan bước đến và bảo rằng bà cũng nhận được một cái tương tự. Ông hoàn toàn không hiểu lý do của chuyện này. Cái ý tưởng rằng ông Harald Olesen có thể để lại chút gì cho ông thật nực cười, và ông hoàn toàn không hiểu được vì sao người anh hùng thời Kháng chiến lại muốn ông có mặt ở đó. Cả câu chuyện có thể chỉ là một cái bẫy để nhử ông ra ngoài phố. Ông ta không định đi, và thực tế là không có ý định đi đâu ra ngoài hết.
Cái tên Chân nai chỉ mang đến một tiếng cười nhạo, không hơn. Ông Konrad Jensen cho rằng khi còn trẻ ông đã nghe cái tên này trong một quyển sách hay cuốn phim nào đó. Ông không biết bất kỳ mối liên hệ nào giữa nó với ông Harald Olesen hoặc với tòa nhà. Tôi đưa ra cho ông ta một manh mối khi nhắc đến cuộc chiến tranh, nhưng ông tiếp tục lắc đầu. Với một chút bóng gió đầy lạc quan, tôi cũng cho ông ta biết rằng chúng tôi đã tìm được vài manh mối mới và sẽ sớm phá án. Ông ta thận trọng mỉm cười và chúc tôi may mắn, trước khi vội vàng đóng và khóa cửa.
Andreas Gullestad gật gù ra vẻ hiểu biết khi nghe nhắc đến cái tên Chân nai, mặc dù anh ta lại nhớ là quyển sách đó được viết bởi Ellis chứ không phải Cooper. Nhưng dù sao thì anh ta không liên hệ được cái tên đó với bất kỳ điều gì, kể cả trong và sau chiến tranh. Anh ta cũng nhận được một bức điện và cũng không rõ nguyên do, nhưng dĩ nhiên sẽ đến dự vì đó là mong muốn của người đã khuất. Bà vợ ông gác dan đã hứa sẽ giúp anh ta xoay xở với chiếc xe lăn và cũng đã giải thích cho anh rằng bà và những người khác đều được thông báo đến dự buổi công bố di chúc đó.
Sự tương phản thể hiện rõ rệt giữa một ông Konrad Jensen căng thẳng loanh quanh trong căn hộ kế bên và một Andreas Gullestad ung dung ngồi thoải mái trong chiếc xe lăn của mình. Tuy nhiên, Gullestad không có gì để nói. Tôi rời khỏi căn hộ đó lúc 7 giờ kém 10 với lí do có một cuộc họp quan trọng. Đó là một lời nói dối vô hại. Tôi phải miễn cưỡng cảm ơn những cuộc gặp gỡ của ngày hôm nay đã cung cấp cho tôi khá nhiều thông tin quan trọng, nhưng lại quá ít kết luận để có thể đẩy nhanh cuộc điều tra.
Khi bước xuống đường, tôi nhìn lại tòa nhà số 25 phố Krebs và cảm thấy hơi ấm trào dâng trong lồng ngực. Phần thưởng đúng như tôi hằng ước ao, nếu tôi được lựa chọn. Cửa sổ căn hộ của ông Harald Olesen dĩ nhiên tối đen và không có bóng người, cũng giống như cửa sổ nhà Darrell Willliams. Nhà ông Konrad Jensen sáng đèn, nhưng kéo rèm kín mít. Tôi thấy Karen Lund đang đi lòng vòng trong căn hộ bế đứa trẻ trên tay. Cửa sổ căn hộ nhà Andreas Gullestad sáng đèn, nhưng không có ai xuất hiện. Còn bên cửa sổ thứ sáu là cái dáng cao ráo và thân hình đẹp đẽ của một người phụ nữ, bất động. Dù điều này cần được diễn giải, có thể thấy cô Sara Sundqvist đang dõi theo tôi với nhiều mối quan tâm hơn.