Nàng nghĩ anh ta vẫn chưa hoàn hồn trước điều vừa chứng kiến, vì nàng phải kéo tay áo anh ta lôi đi, chân họ lướt trên mặt đá lát đường.
“Về nhà đi!” Nàng nói. “Về nhà...” Nella đang trong cơn đau đớn tột cùng, gần như không thở nổi. Ráng chiều đã nhạt, và hoàng hôn bao trùm lên họ. Nàng cố xua đi hình ảnh vòng nước trắng xóa ban nãy, âm thanh của Johannes bị kéo tuột xuống đáy biển. Nàng rảo chân bước thật nhanh vì sợ nỗi đau sẽ khiến nàng tê liệt, rằng nàng sẽ cuộn lại thành một quả bóng trên bờ kênh và không bao giờ lăn được.
Otto quay mặt nhìn nàng bằng ánh nhìn hoang mang cực độ, kéo áo khoác của Johannes sát vào người. Anh ta dừng lại, chỉ tay về phía cầu cảng.
“Phu nhân, chuyện gì xảy ra ở đây vậy?”
“Tôi không thể. Tôi không biết nói sao cả, Otto. Ông ấy đi rồi.”
Anh ta lắc đầu, vẫn chưa hết bàng hoàng. “Tôi không biết ông ấy bị bắt. Tôi tưởng đi London sẽ bảo vệ được mọi người, phu nhân. Hẳn tôi đã không bao giờ...”
“Ta đi nào.”
Khi họ về đến đường Herengracht, Otto mất tự chủ khi đứng trước ngôi nhà. Anh ta nắm lấy cái gọi cửa hình cá heo để giữ mình khỏi ngã, khuôn mặt giằng xé giữa hai trạng thái đớn đau và kìm nén. Điều anh ta sắp sửa phát hiện ra đằng sau cánh cửa này tựa như một bông hoa độc đang xòe cánh trong cơ thể Nella, vì dường như một người khó lòng chịu được cùng lúc hai nỗi đau. Nàng tần ngần đứng sau Otto khi anh ta sắp sửa đón nhận điều kinh khủng nhất trong lần trở về này; nhưng sự tĩnh lặng bên trong không khiến người ta nghĩ Marin đã đi rồi.
“Vào đây.” Nàng đưa anh đến phòng khách, nơi bà Lysbeth Timmers đã nhóm lò sưởi, những ngọn lửa nhảy nhót vui tươi hồn nhiên mang lại cho họ sự ấm áp hơn hẳn so với những tuần vừa qua. Nella cảm thấy lòng nhẹ nhõm và thanh thản. Ở sau ngọn lửa, những cái chĩa bằng hợp kim thiếc cong oằn lại, những tấm gỗ khảm đồi mồi vỡ ra nổ tanh tách.
Bà Lysbeth đứng giữa phòng, ôm chặt Thea vào ngực, săm soi Otto khi anh ta chằm chằm nhìn đứa bé.
“Ai đây?” Bà ta hỏi.
Nella quay sang anh ta, băn khoăn liệu anh ta có thể tự giới thiệu mình không, liệu trong đầu anh ta có cùng câu hỏi của bà Lysbeth Timmers không. Như thể trong một giấc mơ, Otto chìa hai lòng bàn tay mong mỏi về phía đứa bé. Nella nhận ra nàng đã từng trông thấy anh ta làm cử chỉ giống như thế trước đây, hai bàn tay chìa ra vào ngày đầu tiên nàng đến đây, khi anh đưa cho nàng đôi giày để giữ ấm chân.
Bà Lysbeth lùi lại.
“Bà Lysbeth, đây là Otto. Bà đưa đứa bé cho anh ấy đi.” Nella nói.
Giọng nói uy quyền của nàng quá rõ ràng đến mức bà Lysbeth tuân theo ngay lập tức.
“Bồng cho khéo đấy!” Bà vú lầm bầm. Otto ôm lấy Thea áp vào ngực như thể con bé là nguồn sống, như thể trái tim nhỏ bé đang đập kia có thể giữ anh ta tiếp tục tồn tại. Ngay cả bà Lysbeth cũng câm nín, nhìn màn giới thiệu quá lạ lùng giữa những mất mát này vô cùng lạ lùng, nhưng cũng rất mực tự nhiên.
“Bà Lysbeth...” Nella nói nhỏ. “Gọi Cornelia dậy đi.”
Ngay khi chỉ còn lại hai người với nhau, Nella biết rằng nàng phải nói.
“Tên con bé là Thea.” Nàng nói. “Otto. Tôi phải nói với anh điều này.”
Nhưng mải nhìn mặt Thea, mải mê với bản sao nhỏ xíu của mình, dường như Otto không nghe thấy.
“Otto à...”
“Phu nhân Marin bảo nó sẽ là con trai.” Anh ta nói.
Nella không biết đáp lại thế nào. Có cảm giác như mọi ngôn từ bay biến.
“Vậy là anh đã biết?” Cuối cùng nàng cũng lên tiếng.
Otto gật đầu. Và khi mặt anh ta xoay về hướng ánh sáng hắt ra từ lò sưởi, Nella trông thấy anh ta chảy nước mắt. Anh ta cũng đang phải chật vật tìm lời để nói, bất kỳ lời nào có thể chống đỡ được sức nặng đè lên đôi vai mình. Anh ta đột nhiên chỉ lên sàn nhà chưa đánh bóng, vào những chiếc ghế gỗ hồng sắc bám bụi. “Cô ấy không còn ở đây đúng không?” Anh ta nói, như thể những vật vô tri này là minh chứng dễ hiểu nhất cho sự mất mát ấy.
“Vâng...” Nella nói. “Cô ấy không còn ở đây.” Nàng nuốt khan, biết cơn nức nở đang chực chờ, sợ rằng khóc có thế là một sự xâm phạm đến nỗi đau của anh ta. “Tôi rất tiếc, Otto!”
“Phu nhân...” Otto nói. Giọng anh ta đứt quãng, vụn vỡ.
Nàng nhìn lên và anh ta nhìn vào ánh mắt đau đớn của nàng.
“Phu nhân đã cứu đứa bé. Cô ấy hẳn đã hy sinh cuộc sống của mình cho sinh linh nhỏ bé này được sống.”
“Nhưng tại sao cô ấy phải làm như vậy?” Nella nói. Nước mắt nàng giờ đã tuôn trào, nàng không kìm giữ được nữa; nỗ lực ngăn chúng lại chỉ khiến chúng càng tuôn nhanh hơn, ồ ạt hơn, nhòa cả hai mắt nàng. “Cô ấy yếu đi nhanh chóng. Tôi... chúng tôi không thể cứu được cô ấy. Chúng tôi đã cố gắng, Toot, nhưng chúng tôi không biết...”
“Tôi hiểu...” Anh ta nói, nhưng từ khuôn mặt đau đớn của anh ta cho thấy một điều rõ ràng là anh ta không thể.
Nella cảm thấy hai chân nàng muốn khuỵu xuống và nàng với tìm ghế.
Anh ta vẫn còn đứng, nhìn chằm chằm vào đỉnh đầu Thea. “Tôi chưa bao giờ chứng kiến cô ấy kiên quyết bằng lúc cô ấy bảo tôi biết là mình đã mang thai.” Anh ta nói. “Tôi đã cầm chắc là thế giới sắp đến hồi kết. Tôi đã hỏi cô ấy: “Cuộc sống đứa bé này rồi sẽ ra sao?””
“Thế cô ấy nói sao?”
Otto ôm Thea chặt hơn. “Cô ấy nói: “Ai yêu sự sống của mình thì sẽ đánh mất nó, ai ghét sự sống của mình trong thế giới này thì sẽ giữ nó lại đời đời.[1]”
“Ôi, Marin...”
“Tôi biết nếu tôi bỏ đi mọi người sẽ được an toàn hơn. Nhưng tôi phải trở về. Tôi phải nhìn thấy...”
Sự có mặt của Thea, cách con bé được tạo ra lơ lửng trong không khí, sự sống đi liền với cái chết. Có lẽ đó là bí mật Otto sẽ luôn giữ, nàng nghĩ. Chúa biết Cornelia sẽ giúp anh ta, vờ như chuyện này chưa từng xảy ra, như thể Thea tự nhiên mà có, hoặc tìm thấy nó mọc ra từ một cái cây. Có lẽ một ngày nào đó anh ta sẽ kể chuyện giữa anh ta và Marin đã bắt đầu như thế nào, và tại sao... và liệu mỗi người có cảm thấy tình yêu giống như quyền năng hay sự ruồng bỏ, và liệu hai người có trao cho nhau tình yêu dưới ánh sáng của tự do và thanh thản, hay trĩu nặng suốt từ bấy đến giờ.
Thea, bản đồ của chính mình, con bé sẽ nhìn thấy nét mặt mình giống cha một nữa và tự hỏi, mẹ mình đâu? Mình sẽ đưa con bé con búp bê, Nella nghĩ. Mình sẽ cho nó thấy đôi mắt xám của cô ấy, cổ tay thon, thậm chí áo lót lông. “Chắc chắn sẽ không còn bí mật gì nữa”, mình đã nói vậy. Vậy nên mình sẽ cho con bé thấy cái bụng lùm lùm của mẹ nó, tài năng siêu phàm của nhà tiểu họa. Con đã nằm trong đó, Thea. Thậm chí bác ấy còn gửi cho con một cái nôi. Bác ấy kể câu chuyện của con trước khi con sinh ra, nhưng giờ thì con phải là người hoàn thành nó.
Vẫn còn chếnh choáng sau khi uống rễ cây nữ lang, Cornelia được bà Lysbeth đến tận giường lay dậy và đã ra đến phòng khách. Cô ta đứng nơi cửa với một dấu hỏi to đùng trên mặt và kinh ngạc với câu trả lời ở ngay trước mắt. “Toot...” Cô ta cất tiếng như hụt hơi.
“Tôi đây...” Otto đáp, bồn chồn và lo lắng. “Tôi đã đến London, Cornelia. Người Anh gọi tôi là người da đen và cừu non. Chỗ tôi trọ là Emerald Parrot. Tôi cũng định viết thư báo tin cho cô. Tôi...”
Từ nọ xọ từ kia. Otto lại bị nhấn chìm trong cơn thủy triều của đau đớn trước khi nó ập lên đầu người bạn đầu tiên của mình.
Cornelia lảo đảo đi về phía anh ta. Cô ta chạm vào khuỷu tay và vai anh ta, đôi tay anh ta vẫn còn bồng Thea. Cô ta sờ lên mặt anh ta, bất kỳ chỗ nào để biết chắc là anh ta bằng xương bằng thịt. Cô ta đấm thụi thụi vào sau đầu anh ta trong cơn giận đầy âu yếm. “Đủ rồi đấy!” Cô ta nói, ôm choàng lấy anh ta, vẫn chưa tin nổi cuộc đoàn tụ này. “Đủ rồi...”
Vẫn còn nguyên áo khoác trên người, Nella để họ trong phòng khách, băng qua sàn nhà đá cẩm thạch ra cửa trước mà ban nãy nàng chưa kịp đóng vì vội vào nhà. Nàng mở toang nó ra, đứng nơi bậc cửa, không khí mát lạnh bên ngoài ùa vào mơn man hai má nàng. Chuông chiều ngày Chủ nhật đã bắt đầu ngân lên khắp những mái nhà của Amsterdam, và tiếng hát thánh ca từ các nhà thờ lanh lảnh vút cao. Dhana lóc cóc chạy đến mừng chủ nhân, nghểnh nghểnh đầu đòi một cái ve vuốt. “Họ cho mày ăn chưa, cô gái xinh đẹp?” Nella hỏi con chó, nựng đôi tai mềm mượt đáng yêu của nó.
Khi những tiếng chuông gióng lên báo hiệu màn đêm đang buông xuống, Nella trông thấy mảnh trăng lưỡi liềm bàng bạc nhỏ bé, hệt như móng tay thiếu nữ cong cong trên nền trời đen thẫm. Cornelia đi qua tiền sảnh, tạp dề ngang hông, đầu hướng về phía nhà bếp chính. “Lạnh đấy, phu nhân.” Cô ta gọi. “Vào nhà đi.”
Nhưng Nella vẫn nhìn chằm chằm vào con kênh đang trầm mình trong giá rét. Một dải băng tan giờ đang trôi lờ lững theo mép kênh. Con nước ấm hơn bắt đầu tấn công những tảng băng trên dòng kênh Herengracht, và với nàng nó trông như dải đăng ten lủng lỗ chỗ, lớp vải lót của một cái cũi trẻ con khổng lồ.
Trong bếp, Cornelia đánh rơi một cái chảo. Có tiếng suỵt trong phòng khách khi Thea khóc ầm lên. Giọng bà Lysbeth và Otto vọng khắp nhà. Nella lục trong túi áo khoác lấy ra ngôi nhà búp bê nàng đã cầm về từ ngôi nhà trên phố Kalverstraat, nhưng nó không còn ở đó nữa. Không thể nào, nàng nghĩ, cuống cuồng lục tìm. Đứa bé vẫn còn đó... và cả Arnoud. Vậy chắc mình đã đánh rơi khi chạy qua những con đường? Mình đã bỏ quên nó ở xưởng chăng? Mi nhìn thấy nó mà, nàng tự nói với mình. Nó có thật.
Dù có thật hay không, Nella không còn có nó nữa. Nhưng năm hình nhân mà nhà tiểu họa đã cho vào bên trong nó vẫn còn trong ngôi nhà này. Góa phụ trẻ, bà vú, Otto và Thea, Cornelia... có phải họ đến để biết những bí mật cuộc đời của nhau? Tất cả họ là những sợi chỉ lỏng lẻo. Nhưng cuộc đời lâu nay vẫn thế mà, Nella nghĩ. Chúng ta làm thành một tấm thảm thêu đầy hy vọng; không ai dệt nên nó ngoài chính chúng ta.
Trời đã tối hắn, và mùi nhục đậu khấu phảng phất. Thân người nhỏ bé của con Dhana ấm sực dụi vào chân váy Nella. Bầu trời là một đại dương khổng lồ chảy giữa những mái nhà; nó quá mênh mông để mắt trần có thể nhìn thấy nó khởi đầu như thế nào, hoặc sẽ kết thúc nơi đâu. Chiều sâu vô định ấy bắt đầu kéo Nella ra khỏi nhà.
“Phu nhân?” Cornelia gọi.
Nàng quay lại, hít hà mùi gia vị. Đưa mắt nhìn bầu trời lần cuối, Nella bước trở vào.
❀ ❀ ❀
[1] Sách John (quyển thứ tư trong Tân Ước), chương 12, câu thơ 25.