Khi Nella lên ra ngoài để nhặt con búp bê đóng băng ở bậc tam cấp trước nhà, con đường vẫn trống trơn. Sương mù giăng như những luồng hơi hình xoắn bên trên mặt băng.
“Mọi người đâu cả rồi?” Tại bữa sáng nàng lên tiếng hỏi, Jack vẫn được giấu trong túi. Marin khéo léo xẻ con cá trích, không nói gì.
“Các thị trưởng lại thành công lần nữa.” Otto mang vào một cái khay chất đầy herenbrood[1] và một đĩa sâu đựng phô mai Gouda vàng cho Nella, nói giọng nặng nề. Sự mệt mỏi của anh ta đối với bộ máy quan liêu của nhà nước nghe gần như mong mỏi và hy vọng khá giống Johannes.
Marin bỏ đó con cá trích và khuấy tô mứt quả, những đầu ngón tay cầm thìa hơi xanh nhợt đi. Cô ta nhìn chằm chằm vào chỗ mận dầm sáng lấp lánh, liên tục khuấy. “Đã công bố là búp bê và rối bị cấm.” Cô ta nói. Nella có thể cảm thấy con búp bê bị đóng băng cọ vào chân nàng, món đồ bị vứt bỏ làm thành một vòng tròn đen ẩm ướt trên lớp len. “Chủ nghĩa giáo hoàng...” Marin tiếp tục. “Sự sùng bái thần tượng... Một nỗ lực cực kỳ tàn ác để giam giữ linh hồn con người.”
“Có vẻ như cô sợ những thứ đó nhỉ?” Nella nói. “Cứ như là chúng sẽ sống dậy ấy.”
“Ai mà biết được thế nào.” Cornelia bình phẩm. Nàng, cũng như hai phụ nữ còn lại, bị bó chặt trong những lớp quần áo, bọc trong những tấm khăn choàng Haarlem.
“Đừng ngớ ngẩn!” Marin vặc lại.
Nella mường tượng những mẩu đường nhỏ xíu tụ lại như tuyết nơi khóe môi nghiêm nghị của cô em chồng khi than khóc trong một lần tắm khuya khác. Mặc áo lông gấu bên trong, lén lút ăn những quả óc chó tẩm đường, bao che cho người anh trai vô đạo của mình, Marin sống trong hai thế giới. Sự luôn luôn đúng mực trước mắt công chúng của cô ta thực ra là do sợ Chúa hay sợ chính bản thân mình? Thứ gì đang đập trong trái tim được che chăn cẩn thận đó?
Không khí lạnh căm xuyên qua những kẻ nứt trên bức tường của phòng ăn. Ở trong nhà mà cũng lạnh đến tê điếng người, cứ như thể không khí lẻn vào từ hồi đêm và ở rịt lại luôn.
“Lò sưởi được nhóm lên cả rồi mà chẳng thấy ấm lên chút nào cả. Mọi người thấy vậy không?” Nella nói.
“Vì củi dự trữ của chúng ta vơi rồi.” Otto nói.
“Chịu lạnh một chút cũng chẳng chết ai.” Marin nhấm nhẳng nói.
Tất thảy quay sang nhìn Marin. “Có chịu khổ mới tìm thấy cái tôi đích thực.” Cô ta nói.
Nella theo Cornelia xuống nhà bếp chính ấm áp, Jack vẫn ở trong túi. Cornelia cất lọ mứt quả mận làm phát ra một tiếng lanh canh và bắt tay vào việc lăn ít bột nhão để làm bánh nướng. Otto đi theo, cầm một miếng vải để đánh bóng những đôi bốt mùa xuân của Johannes được xếp thành hàng dọc theo cửa nhà bếp.
“Otto, anh lấy trộm ít than bùn trên gác xếp được không? Phu nhân Marin không để ý đâu.”
Anh ta lơ đãng gật đầu.
“Phu nhân ấy muốn sống thiếu thốn, nhưng chúng ta là những người thích hưởng thụ.” Cornelia bình phẩm. “Tôi dám cược toàn bộ số xoong chảo của tôi là đằng sau những cánh cửa đóng kín, những chiếc bánh gừng hình đàn ông đang chạy tọt vào dạ dày của cánh phụ nữ, mặc kệ các thị trưởng muốn nói gì thì nói.”
“Hoặc những người chồng đang nhâm nhi hình nộm của vợ mình.” Nella nói. Câu đùa của nàng về chuyện những người vợ và những người đàn ông có thể nằm vừa vặn trong lòng bàn tay, nặng nề, lơ lửng giữa không gian, không chịu tan biến. Chưa từng được “nhâm nhi”, Nella đỏ bừng mặt lên vì xấu hổ. Để xua khỏi đầu óc những hình ảnh không mong đợi, nàng mường tượng những cảnh vui tươi hơn đằng sau những cánh cửa ngoài nhà họ. Những buổi tiệc ăn mừng chuyển vào bên trong, những ngôi nhà được trang hoàng bằng những vòng giấy đủ sắc màu và những nhánh gỗ linh sam, bánh sữa nhỏ mới ra lò, tiếng cười và rượu quế vàng. Hôm nay, Ngày lễ thánh Nicolas, vị thành bảo trợ của trẻ em, diễn ra khắp thành phố, và cánh thủy thủ ăn mừng bằng lễ hội hóa trang với sự thách thức ngấm ngầm. Sinterklass[2] thuộc về họ, giống như thói phàm ăn và tội lỗi của họ vậy.
Giờ đây, thật khó lòng tưởng tượng những nhà thông thái đi trong sa mạc khô bỏng để thể hiện lòng tôn sùng đối với người sắp trở thành Chúa Jesus. Nella muốn mở toang hết cửa lớn và cửa sổ, để đón nhận tinh thần mặc khải. Một cửa sổ mở có thể duy trì một tâm hồn mở.
“Sắp sửa đến Giáng sinh...” Cornelia nói. “Rồi đến Lễ Hiển linh.” Giọng cô ta ẩn chứa niềm hớn hở riêng tư.
“Lễ Hiển linh có gì mà đặc biệt vậy?”
“Ông chủ cho Toot và tôi diện đồ đẹp và ăn chung bàn với ông. Và đương nhiên là rảnh rang cả ngày.” Cornelia nói thêm. “Nhưng tôi vẫn phải nấu ăn. Phu nhân Marin không nuông chiều chúng tôi quá đâu.”
“Tất nhiên là không rồi.”
“Tôi cũng sẽ làm một chiếc bánh Vua.” Cornelia nói. “Giấu một đồng xu ở chính giữa. Ai ăn trúng nó sẽ làm vua cả ngày.”
Otto cười, nghe chua chát, khiến Nella quay đầu lại nhìn. Anh ta không có vẻ gì giống ngày thường. Và khi nàng nhìn anh ta, anh ta không hề nhìn lại.
“Cái này gửi cho chị.” Marin vừa xuống cầu thang nhà bếp vừa nói.
Tim Nella đập rộn lên khi nghĩ chắc nhà tiểu họa gửi gì mới đến cho nàng, nhưng chữ viết trên mặt trước là thư quét sạch sự u sầu trong nàng ngay trước cả khi lá thư được mở ra. Đó là tuồng chữ rõ ràng của mẹ nàng: “Mời con gái và con rể về Assendelft chơi vài ngày lễ. Carel nhớ con đấy.” Những nét số và nét tròn là sự nhắc nhở đầy đau đớn về một cuộc sống mà Nella đã bỏ lại sau lưng.
“Chị về chứ?” Marin hỏi.
Giọng nài xin trong câu hỏi của cô em chồng khiến nàng kinh ngạc. Có điều gì đó đã len lỏi vào con người Marin trong ba tuần vừa qua, và giữa những cơn bực bội thất thường, một điểm yếu mới xuất hiện nơi cô ta. Kỳ thực, trông Marin có vẻ như muốn mình ở lại, Nella nghĩ. Và liệu mình có thể về nhà với cái bụng phẳng lì trong chiếc đầm lụa Bengal mà chẳng có em bé nào đang lớn lên bên trong để mà khoe, và cuộc hôn nhân của mình là một chiến thắng rỗng tuếch? Johannes có thể không gặp chút khó khăn nào để đóng tròn vai một người chồng hết mực yêu thương vợ. Ông tự tin khi đến lúc cần tỏ thái độ vui vẻ dí dỏm. Nhưng mình thì sẽ buông vai - nó sẽ rơi khỏi nắm tay của mình ngay giây phút mình trông thấy khuôn mặt khấp khởi hy vọng của mẹ.
“Không!” Nàng đáp. “Tôi nghĩ tốt hơn cả là tôi nên ở lại đây. Tôi sẽ gửi những món quà đã mua. Sang năm chúng tôi sẽ về.”
“Nhà ta sẽ tổ chức tiệc.” Marin ướm.
“Không cá trích chứ?”
“Không!”
Lời cam kết của chị dâu và em chồng bay vụt qua giữa hai người như một đôi bướm đêm, mang vào không khí một thứ năng lượng mới.
Nella cho Jack trở lại vào tủ với nhiều cảm xúc hỗn độn. Hình như để anh ta ở trong tầm mắt của nàng vẫn tốt hơn, dù sự hiện diện đó vẫn khiến nàng cảm thấy khó chịu.
Tối muộn hôm ấy, một vài nhạc công trái phép đánh liều đến chơi nhạc bên ngoài để kiếm tiền, và Nella nhoài người ra cửa sổ sảnh chính để nghe tiếng hát cất lên khe khẽ của họ. Otto và Cornelia ngập ngừng do dự, nửa muốn ra xem, nửa sợ Marin mắng.
“Lực lượng dân quân St. George có thể đến đấy. Cornelia nói. “Phu nhân nên để ý những thanh kiếm của họ. Họ tuần tra để giữ an ninh trật tự nhưng cũng có thể có đổ máu bất kỳ lúc nào.”
“Những chiếc đàn vĩ cầm bị đập nát đúng không? Tôi mong được thấy cảnh đó.” Nella nói, giọng khô lạnh.
Cornelia bật cười. “Giọng phu nhân nghe giống ông chủ quá.”
Marin bảo Nella nên đóng cửa sổ và kéo rèm lại. “Người ta sẽ trông thấy chị, chồm người ra cửa sổ hệt như một mụ thợ giặt hoặc tệ hơn.” Cô ta rít lên và Cornelia ù té chạy. Marin đi tới đi lui đằng sau Nella trong bóng tối của tiền sảnh chưa được thắp nến, nhưng Nella vẫn cứ lắng nghe những nhạc công, và cả Otto - lúc này đang đứng cách xa một chút - cũng vậy.
Khi tiếng nhạc trở nên dồn dập hơn, tay trống vỗ một nhịp điệu hung hãn và dứt khoát lên tấm da lớn căng đét, trùng khớp với nhịp tim của Nella. Otto đã nói nàng không nên đụng vào tổ ong, nhưng xét về bản chất, dù ít dù nhiều nàng vẫn là một cô gái nông thôn. Nàng nghĩ về Jack ở trên lầu - tất cả họ, được xếp vào trong những căn phòng nhỏ xíu, đang chờ đợi điều gì đó sẽ xảy đến. Không, Nella quyết định. Mình không sợ bị đốt bởi bất cứ con gì.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Hà Lan, nghĩa là bánh mì trắng.
[2] Tiếng Hà Lan, nghĩa là thánh Nicolas.