Tối đó, Cornelia được phép đến nhà tù Stadhuis. Vẫn chưa hết bàng hoàng trước tin dữ, cô ta bắt tay vào làm món chả gà bọc bột và bê nướng, bí ngô tẩm đường và nước hoa hồng, bắp cải và thịt bò. Chúng tỏa ra mùi gia đình, mùi tổ ấm, mùi nhà bếp ấm áp với đầy đủ vật dụng và một đầu bếp tháo vát nắm quyền chỉ huy.
“Tôi đi đây, phu nhân.”Cô hầu nói. Sự cương quyết đưa thần sắc trở về trên khuôn mặt cô ta.
“Đừng cho ông ấy biết ở nhà xảy ra chuyện gì nhé.”
Cornelia giữ cái gói thức ăn vẫn còn ấm nóng vào sát người mình, mắt ậng nước. “Tôi thà chết còn hơn khiến tim ông chủ tan vỡ, thưa phu nhân.” Cô hầu nói, giấu những chiếc bánh vào sâu trong tạp dề.
“Tôi biết.”
“Nhưng nếu chúng ta cho ông chủ biết về Thea, một em bé, một sự bắt đầu...”
“Chỉ khiến ông ấy tiếc nuối cuộc đời mình sắp lìa xa hơn mà thôi. Tôi không nghĩ ông ấy có thể chịu đựng được Chuyện đó.”
Cornelia tỏ vẻ không hài lòng với những quyết định họ buộc phải đưa ra. Nella dõi theo dáng cô hầu gái xa dần khi cô ta đi ngược lên bờ kênh.
Bà Lysbeth đang trong nhà bếp chính, gấp khăn sạch cho Thea. “Bà ở nhà với con bé vài giờ để tôi ra ngoài một lát được không?” Nella hỏi.
Bà Lysbeth nhìn lên. “Vâng, phu nhân cứ đi đi.”
Nella hài lòng khi bà Lysbeth không hỏi nàng đi đâu; không như Cornelia. Nàng tự hỏi bà ta sẽ nghĩ gì về đống đổ nát trong phòng nàng, một cô dâu trẻ con trút sự giận dữ lên món đồ chơi của mình. “Trên lầu có củi ấy.” Nàng nói với bà vú. “Ta nên giữ ấm cho Thea.”
Nella được phép bước qua cánh cửa phòng của kerkmeester[1] đằng sau Nhà thờ cổ. Mục sư Pellicorne đang ngồi nơi bàn. Vì Cornelia mà Nella đến đây. Còn nàng thì muốn chôn Marin lặng lẽ ở nhà thờ St. Anthonis hơn, tránh khỏi sự nhòm ngỏ của dân chúng. “Chẳng phải đó là điều cô ấy cũng muốn hay sao?” Nàng đã hỏi Cornelia vậy.
“Không đâu, phu nhân. Phu nhân Marin chắc sẽ muốn thành phố này nhìn nhận mình là công dân danh dự cao quý nhất.” Đó âu cũng là điều bình thường. Như vậy là di sản của Marin vẫn tiếp tục tồn tại; việc cô hầu gái vẫn giữ nguyên nỗi ám ảnh về những mối ưu tư của Marin nghe sao quá ngậm ngùi.
Pellicorne nhìn Nella, cố không để lộ sự ghê tởm. Ông biết tôi là ai mà, nàng nghĩ, lòng trào lên sự căm ghét. Ông đứng bên ngoài Stadhuis, rống to cho tất cả nghe thấy cơ mà. Nella đến với vẻ ngoài được bọc trong sự giàu sang, chuỗi ngọc trai và chiếc đầm bạc như thể là bộ áo giáp mỏng manh trước vẻ mặt khinh bỉ của Pellicorne.
“Tôi đến để báo tử.” Nàng nói, nhìn thẳng vào ông ta, giọng rành mạch.
Pellicorne vùi cằm vào cổ áo quá cỡ. “Tôi nghĩ vẫn chưa tới Chủ nhật mà?” Ông ta nói, kéo về phía mình cuốn sổ khai tử dày cộp - một cuốn sách bọc da lớn kê khai toàn bộ người chết của thành phố này, rời trần gian để lên Thiên đường hoặc xuống Địa ngục. Ông ta nhúng cây bút vào mực.
Nella hít sâu, cố giữ vẻ điềm tĩnh. “Tôi đến để trình báo cái chết của Marin Brandt.”
Cây bút của Pellicorne khựng lại. Ông ta nhìn Nella chồng chọc khuôn mặt đanh lại vươn qua cuốn sổ.
“Chết?” Ông ta thốt lên.
“Chiều hôm qua.”
Cây bút được đặt xuống, Pellicorne ngồi ngả người ra. “Cầu Chúa cho linh hồn cô ấy được siêu thoát!” Rốt cuộc ông ta nói. Ông ta nheo mắt. “Thế cô Marin Brandt lìa trần như thế nào?”
Nella hình dung thi thể của Marin, những tấm khăn đẫm máu, Thea mới sinh, rồi nàng lại nghĩ ngược về quá khứ; Otto và Marin quấn lấy nhau, vùi sâu vào cơ thể sống của Marin cái bí mật giữa họ.
“Bị sốt, thưa mục sư.”
Trông ông ta thất kinh. “Cô có nghĩ là bệnh sốt phát ban không?”
“Thưa không, cô ấy ốm một thời gian.”
“Đúng rồi, mấy tuần vừa qua ta không thấy cô ấy đi lễ.” Pellicorne chụm hai bàn tay vào nhau, cằm tựa trên mấy đầu ngón tay búp măng. “Ta đã tự hỏi sự vắng mặt của cô ấy có liên quan gì đến anh trai mình không.”
“Không phải do sốc đầu, thưa mục sư. Cô ấy đã yếu sẵn rồi ạ.” Nella nói khẽ, sự căm ghét giờ ứ lên đến mức không chịu nổi, gần như khiến nàng tức thở.
“Đương nhiên là không sốc rồi.” Nella im lặng. Nàng không để mình bị người đàn ông này làm kích động.
“Thế gebuurte[2] có đến giúp không?” Ông ta hỏi.
Nàng nhớ lại đám tang của cha mình ở Assendelft, hàng xóm đã đến giúp người mẹ đau đớn của nàng như thế nào: cởi đồ ông ra, mặc vào cho ông chiếc áo tang, khiêng thân thể cứng đờ của ông lên một tấm thép, đặt rơm vào để thoáng khí. Rồi những cô gái trẻ chưa chồng trong làng đến để đặt lá cọ và hoa, những chiếc lá nguyệt quế. Chẳng có lấy một gebuurte nào đến giúp lo hậu sự cho Marin, chỉ có Cornelia và chính nàng cùng tình trạng đơn độc luồn vào cơn hoảng loạn của họ và bà Lysbeth, một phụ nữ thậm chí chưa từng trông thấy Marin lúc sinh thời. Ít nhất Cornelia đã kịp châm những chiếc đèn dầu.
Nella đau đớn bởi sự thiếu tươm tất Marin phải chịu khi chết đi. Lẽ ra nên có một gebuurte, vì Marin là một người tốt và kiên cường. Trong kiếp nào đó hẳn cô ta đã chỉ huy cả một đội quân. Nhưng cuối cùng, Marin chẳng có lấy một người bạn nào thân cận chỉ duy có một, mà người ấy thì mất tích.
“Vâng, thưa mục sư.” Nàng đáp. “Hàng xóm có đến. Nhưng chúng tôi phải đưa cô ấy ra ngoài sớm. Chúng tôi phải mang cô ấy đến nhà thờ.”
“Cô ấy chưa từng kết hôn nhỉ?” Pellicorne nói. “Một sự phí hoài.”
Đối với vài người chúng ta, Nella nghĩ, kết hôn là sự phi hoài.
Bên ngoài trời đã tối hẳn. Trong gian chính của nhà thờ, nàng có thể nghe thấy người đánh đàn ống luyện tập, đuốc đã được thắp để chuẩn bị cho buổi cầu kinh tối. Ông mục sư đứng lên, vuốt chiếc áo thụng đen như thể nó là một cái tạp dề. “Nếu cô định chôn cô ấy ở đây...” Ông ta nói. “Thì không thể.”
Im lặng bao trùm một lúc. Nella cố đứng vững, giữ lưng thẳng.
“Tại sao, thưa mục sư?”
Giọng nàng dứt khoát và biết điều, vì nàng cố tình thế. Nàng sẽ không để giọng mình run rẩy, hoặc lộ ra cảm xúc thật của mình. Pellicorne đóng cuốn sổ lại và nhìn nàng ngỡ ngàng, như thể ông ta không quen với việc bị yêu cầu giải thích vậy. “Chúng ta không thể cho cô ấy chôn ở đây được, phu nhân. Cô ấy bị ô uế bởi là người thân của một phạm nhân. Giống như cô.” Ông ta ngừng lời, nhìn xoáy vào nàng bằng ánh mắt lạnh lùng. “Tôi rất thông cảm với cô, phu nhân.”
“Nhưng không nhân từ.”
“Lượng người chết đặt ở đây đã quá tải rồi. Tôi giảng đạo cho những xác chết nhiều hơn là người sống. Chúa ơi, cái mùi...” Ông ta nói với chính mình. “Có loại tinh dầu Ả Rập tốt nhất đi nữa cũng không thể át nối cái mùi bốc ra từ những người Hà Lan đang thối rữa này.” Với Nella, ông ta chỉ nói thêm. “Tôi rất tiếc về cái chết của em chồng cô, nhưng tôi không thể cho cô ấy chôn ở đây.”
“Thưa...”
“Hãy đến nhà thờ St. Anthonis, họ sẽ giúp cô.”
“Không, mục sư. Không được ra ngoài những bức tường thành phố. Cô ấy đã đi lễ ở đây cơ mà.”
“Ngày nay chôn cất người chết trong thành phố không còn là một lựa chọn nữa, phu nhân.”
“Nhưng Marin Brandt thì phải được chứ.”
“Ta không còn chỗ. Cô nghe rồi chứ?”
Nella lấy hai trăm gun-đơn của Arnoud ra khỏi túi và đặt lên cuốn sổ của Pellicorne. “Nếu mục sư lo liệu mộ chí, hòm, đội khiêng hòm và một chỗ dưới sàn nhà thờ, khi xong việc tôi sẽ đưa thêm gấp đôi.” Nàng nói.
Pellicorne nhìn chỗ tiền. Đó là tiền của vợ một kẻ kê dâm. Đó là tiền của một phụ nữ. Là cội rễ của mọi cái ác, nhưng lại rất nhiều tiền. “Ta không thể nhận.” Ông ta nói.
“Lòng tham giống như thứ mụn nhọt lở loét chúng ta phải cắt bỏ.” Nella đáp, nét mặt rầu rỉ.
“Chính xác.” Nàng có thể nhận thấy ông ta hài lòng khi nghe lời giảng của mình được nhắc lại.
“Mục sư, người phụng sự Chúa, chắc chắn là người thích hợp nhất để giao cho việc canh chừng cái mụn nhọt đó.” Nella tiếp tục.
“Một khi nó đã được cắt bỏ...” Ông ta đáp, lia mắt vào chỗ tiền.
“Đương nhiên.”
“Những kẻ không may trong thành phố chúng ta rất cần được bố thí.”
“Và phải làm cho họ điều gì đó, nếu không mụn nhọt sẽ sinh sôi nảy nở.”
Họ ngồi trong im lặng.
“Có một chỗ trống nhỏ ở góc phía Đông của nhà thờ.” Pellicorne nói. “Đủ chỗ cho một phiến đá vừa phải thôi, không gì hơn.”
Ông ta thật khờ, Nella nghĩ. Ông ta chỉ là một người đàn ông như mọi người đàn ông khác, không gần Chúa hơn người kế tiếp là bao. Nàng tự hỏi số tiền bốn trăm gun-đơn ấy ông ta nẫng bao nhiêu trước khi trả cho đội khiêng quan tài và dùng vào việc phát chẩn. Liệu Marin có thích được chôn vào trong một cái xó như thế không? Cô ta đã sống cả đời trong góc rồi, có lẽ cô ta thích yên nghỉ ở gian giữa giáo đường hơn. Nhưng nói cho cùng, ở gian giữa, người ta sẽ đi tới đi lui nện chân lên trên cô ta. Một vài thị dân có thể mong có được kết cục như thế, để họ sẽ không bao giờ bị quên lãng, được người khác nhớ đến và được cầu nguyện cho nhưng Nella nghĩ điều này không xứng đáng với Marin chút nào. Ở trong góc là tốt hơn cả.
“Ta nói sự thật, phu nhân.” Pellicorne nói. “Hết chỗ rồi. Cái góc đó là ta đã cố gắng hết sức.”
“Chỗ đó thích hợp rồi.” Nàng đáp. “Nhưng tôi muốn quan tài được làm từ gỗ du loại tốt nhất.”
Pellicorne lấy cây bút và mở cuốn sổ trở lại. “Ta sẽ lo liệu chuyện đó. Đám tang có thể diễn ra vào tối thứ Ba tuần tới, sau khi xong lễ.”
“Vậy quá tốt rồi.”
“Ban đêm thì dễ dàng hơn. Cái mùi bốc lên khi nắp sàn được mở sẽ khiến con chiên mất đi sự tịnh tâm khi cầu nguyện.”
“Tôi hiểu.”
“Bao nhiêu người sẽ đến?” Ông ta hỏi.
“Không nhiều.” Nella đáp. “Cô ấy sống khá ẩn dật.” Nàng nói ra điều này gần như là một lời thách thức, để xem liệu ông ta có cãi lại không, hoặc cho nàng biết thêm những thông tin khác ngoài cuộc sống kín đáo của Marin: những hiệu sách cô ta tới chẳng hạn, hay những người bạn cô ta có, người da đen cô ta đi cùng qua những con phố.
Nhưng Pellicorne chỉ bĩu môi. Ẩn dật là điều không hay ho; Nella biết nét mặt ông ta ám chỉ thế. Quan tâm đến cộng đồng, giám sát hàng xóm, ai cũng phải dòm ngó người khác - đó là điều giữ thành phố này luôn vận động. Không được lẩn trốn khỏi những cặp mắt săm soi.
“Lễ tang sẽ ngắn gọn thôi.” Ông ta nói, kẹp những đồng gun-đơn vào sổ.
“Chúng tôi không thích phô trương.” Nàng đáp.
“Chính xác. Và ngoài tên và ngày tháng sinh tử ra, cô muốn khắc lên mộ chí thứ gì nữa không?”
Nella nhắm mắt và hình dung Marin trong chiếc đầm đen dài, sự hoàn hảo của chiếc mũ và những cổ tay áo giấu quá nhiều sự hỗn độn bên dưới. Luôn lớn tiếng phản đối việc dùng đồ ngọt nhưng lại lén lút ăn quả óc chó tẩm đường, giấu những lá thư tình của Otto, chú giải những đất nước chưa từng đến trên mấy tấm bản đồ chôm được từ anh trai. Marin, ngoài mặt phản đối Nella cho đặt làm những con búp bê cho cái tủ có ngăn kéo của nàng, nhưng lại ngủ với con búp bê Otto bên dưới gối. Marin, khăng khăng không muốn làm vợ, nhưng có sẵn trên đầu lưỡi cái tên Thea cho con gái mình.
Nella cảm thấy lòng trĩu nặng bởi cái chết vô nghĩa của Marin, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa có lời đáp. Frans, Johannes, Otto - ba người đàn ông này, họ có biết em chồng nàng hơn gì nàng không?
“Sao hả?” Pellicorne hỏi sốt ruột.
Nella dọn giọng. “T’can vekeeren[3]” Nàng đáp.
“Thế thôi?”
“Vâng!” Nàng nói. “T’can vekeeren.”
Mọi thứ đều có thể thay đổi.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Hà Lan, nghĩa là người trông giữ nhà thờ.
[2] Tiếng Hà Lan, nghĩa là hàng xóm.
[3] Tiếng Hà Lan, nghĩa là mọi thứ đều có thể thay đổi.