Một xác chết nổi lềnh bềnh trên mặt dòng kênh Herengracht, một người đàn ông cụt cả tay cả chân, chỉ còn mình và đầu. Mấy người đàn ông đập vỡ băng để lấy thi thể đó ra khi Marin nép mình đằng sau cửa trước đứng xem. Con kênh cả năm nay là bãi đổ rác và khi nó rắn lại vì tiết đông giá, đủ thứ hổ lốn bên dưới trồi lên phơi bày trước mắt bàn dân thiên hạ: nào là bàn ghế gãy, mấy cái bô, mười con mèo con dính chùm vào nhau. Nella mường tượng cảnh sưởi ấm cho chúng, quan sát chúng sống lại, và rồi sự tra tấn mà chúng phải chịu chỉ còn lại là một giấc mơ. Khi những nhà chức trách mang thi thể người đàn ông đi hệt như một cái đùi nai hỏng, Marin dự đoán là vụ án mạng của anh ta sẽ mãi chìm vào bóng tối.
“Thứ gì được tạo ra trong bóng tối thì sẽ ở lại mãi trong bóng tối.” Cô ta nói. Nella gần như ngửi thấy mùi oải hương từ bồn tắm của Marin. Cô ta có vẻ thất thần, vừa đi vẩn vơ khắp các căn phòng vừa nhìn ra những ô cửa sổ.
Còn lại một mình trong phòng, quấn quanh người đến hai chiếc khăn choàng, Nella cầm con búp bê Jack Philips trên tay. Dường như khi Johannes không có nhà, nàng cảm thấy làm điều này dễ dàng hơn. Jack trông khỏe mạnh và dẻo dai trong chiếc áo khoác da được làm rất khéo. Nella nhè nhẹ kéo tóc anh ta, tự hỏi liệu ở đâu đó Jack có cảm thấy đau đầu không. Có thể lắm chứ. Mình hy vọng là vậy, Nella nghĩ. Một cảm giác quyền lực chạy xuyên khắp người nàng, một khát khao được phá hủy. Cưỡng lại được, nhưng vẫn còn phấn khích, nàng đặt anh ta lên đỉnh của ngôi nhà, đứng nghiêng sang một bên.
Bên ngoài, những đứa trẻ vô gia cư trượt trên mặt kênh đóng băng, những cơ thể nhẹ bẫng của chúng không đe dọa gì đến lớp băng mới được hình thành. Chúng khiến Nella nhớ Carel, trượt và lướt, reo hò vui vẻ. Nàng mở cửa trước, nghe chúng gọi nhau: Christoffel! Daniel! Pieter! Nella bước ra ngoài, theo quán tính, nàng nhìn lên bầu trời và chờ đợi một mảng màu xanh thân thương bay vụt qua - nhưng chỉ hoài công.
Một đứa trong đám ấy là thằng bé mù, chính là đứa trẻ đã lấy cắp của bà bán cá trích hôm đầu tiên Nella đến đây. Nghe bọn bạn gọi nó là Bert. Bert trông thiếu dưỡng chất, nhưng ít nhất nó có vẻ tận hưởng hết mình khoảnh khắc tạm gác lại những âu lo thường nhật nhờ việc trượt băng mang lại, nô đùa thoải mái với đám bạn. Nella lấy làm ngạc nhiên trước cái cách thằng bé trượt đi nhanh không thua kém gì những đứa khác - một tay dang ra, chuẩn bị cho một cú ngã nếu có. Độ trơn của mặt phẳng là mối nguy hiểm chết người nhưng nó cứ thế lướt đi trong cái vô tận của dải ánh sáng bị đông cứng.
Cứ hễ Nella định đi đến phố Kalverstraat, Marin lại tìm thấy điều gì đó cho nàng làm. Không có món hàng nào được giao tới kể từ khi nàng nhận được tám con búp bê và Peebo, và Nella bắt đầu thấy sốt ruột. Khi tháng Mười hai đến, Johannes đi đã được hai tuần, và nàng thông báo là nàng phải đi mua cho gia đình mình vài món quà. Nàng đi mua sắm khắp những con phố Amsterdam, chọn một cái roi ngựa Milan cho Carel và một lọ hoa uất kim hương bằng gốm cho mẹ, những món đồ chứng tỏ nàng là vợ của một thương gia thành công. Nhưng khi đến con phố chuyên bán các loại bánh với Cornelia để mua bánh gừng ngon nhất cho em gái, nàng liên tục nhìn quanh mong tìm thấy mái tóc vàng hoe với đôi mắt lạnh lùng và đầy cảnh giác. Nella gần như muốn bị theo dõi vì điều đó khiến nàng cảm thấy mình tồn tại, Nàng muốn đi đến phố Kalverstraat, nhưng Cornelia bàn lùi rằng họ sẽ đến cửa hàng của Arnoud Maakvrede, nói rằng Arabella xứng đáng nhận được loại bánh nướng ngon nhất ở Amsterdam.
“Bánh gừng đã bị cấm.” Hanna nói, nét mặt buồn rầu. “Ít nhất là dạng hình nhân. Arnoud cứ như sắp đẻ ra một quả trứng hay sao ấy, ông ấy giận thôi là giận. Chúng tôi đành phải nghiền nát toàn bộ những gia đình và bán vụn vậy.”
“Cái gì? Tại sao?”
“Các thị trưởng.” Cô ta nói, như thể bao nhiêu đó có thể giải thích tất cả. Cornelia rùng mình.
Amoud xác nhận rằng bánh hình đàn ông và phụ nữ, con trai và con gái thực sự đã bị cấm, cũng như những ki-ốt bán búp bê trên đường Vijzeldam. Có liên quan gì đến những tín đồ công giáo ấy, ông ta nói. Những tôn sùng sai lệch, coi trọng vô hình hơn hữu hình.
“Búp bê vui mà.” Cornelia khịt mũi.
“Điều đó đâu có khiến Giáo hội trở nên đúng đắn.” Arnoud nói. “Nghĩ về tổn thất đi.”
“Chúng tôi sẽ chuyển sang làm hình chó.” Hanna nói giọng quả quyết.
Thay vì mua bánh gừng, Nella mua cho Arabella một cuốn sách về côn trùng. Nàng nghĩ em gái sẽ thích bánh quy ngon nhất của Arnoud hơn, nhưng tốt hơn cả là em gái nàng nên có một cuốn sách và bắt đầu học một chút. Mi hẳn đã không hề nghĩ được như vậy vào tháng Tám đâu, Nella thầm nhủ. Nàng cảm thấy khác lạ, như thể có thứ gì đó tác động lên nàng và nàng đã mắc câu.
Về nhà, Marin cầm cái roi ngựa. “Cái này giá bao nhiêu? Nó còn bé mà.”
“Chứ Johannes mua cho tôi nguyên một cái tủ có ngăn kéo thì sao.” Nella đáp lại, lâng lâng với những thứ vừa mua, cảm thấy đầy quyền lực và giàu có. “Tôi làm theo thôi.”
Đến tuần thứ ba Johannes vắng nhà, các trụ băng giăng khắp các khung cửa, mọi bậu cửa sổ, ngay cả những mạng nhện trong vườn, hệt như những cây kim thủy tinh nhỏ xíu. Bốn người ở nhà thức giấc trong lạnh cóng và lập cập run lúc đi ngủ. Nella ao ước đến mùa xuân, mùa hoa nở, mùi trái đất cựa mình, những sinh vật mới, mùi dầu nồng gắt trong lớp len lông cừu. Nàng đợi ở cửa xem nhà tiểu họa có gửi gì đến nữa không, nhưng lại chẳng thấy gì. Nhớ rằng Hanna có nhắc đến việc các thị trưởng cấm bán búp bê vào Giáng sinh, nàng tự hỏi liệu nhà tiểu họa có còn tiếp tục gửi gì cho nàng nữa không.
Quay về phòng, nàng thấy Marin lục gì đó trong chiếc tủ có ngăn kéo. Điếng người, Nella chạy ào tới cố kéo rèm lại.
“Chưa được phép của tôi sao cô dám vào phòng này?”
“Ừ đấy!” Marin đáp. “Tôi muốn biết cảm giác thế nào thôi.” Cô ta cầm gì đó trên tay, và hình như bị kích động. “Petronella, chị đã kể cho ai đó nghe về chúng ta phải không?”
Chúa ơi, xin Người, Nella nghĩ. Đừng để cô ta tìm thấy con búp bê của chính mình. Marin xòe tay và trên đó là Philips, đẹp như người thật. “Chị định làm gì chúng tôi?”
“Marin...”
“Đặt mua nội thất và chó tôi còn hiểu được. Đằng này... Con búp bê của Jack Philips là sao đấy hả?”
Nella há hốc miệng sửng sốt khi Marin mở toang cửa sổ ném Jack ra ngoài, rồi nhoài người nhìn nó rơi xuống. Con búp bê rơi xuống chính giữa dòng kênh đóng băng, chơ vơ và cô độc giữa một màu trắng toát. Một cơn sợ hãi chạy dọc theo người nàng. “Lẽ ra cô không nên làm thế, Marin.” Nàng nói. “Quả thực là không nên.”
“Đừng đùa với lửa, Petronella!” Marin vặc lại.
Tôi cũng có thể nói với cô như vậy đấy, Nella nghĩ và đau khổ nhìn con búp bê bị quẳng đi không thương tiếc. “Chiếc tủ này là của tôi, không phải của cô!” Nàng hét lên khi Marin đóng cửa phòng lại.
Jack vẫn ở bên ngoài trời băng giá. Nella cố dụ con Rezeki tha con búp bê vào, nhưng khi nhìn thấy nó, con chó gầm gừ, nhảy chồm chồm và lông cổ dựng lên. Nella muốn tự mình ra lấy, nhưng nàng không nhẹ bằng Bert hay những đứa trẻ đường phố khác, mà bọn chúng thì chẳng còn thấy đâu nữa để mà nhờ. Nàng hình dung mình rơi xuống dòng kênh đóng băng và chết chìm chỉ để cứu một con búp bê. Thấy bức bách muốn bảo vệ nó dù nàng không biết tại sao. Giữ Jack trong tầm mắt dường như là điều cần làm nhất lúc này. Nella bất đắc dĩ quay vào nhà, thầm chửi rủa Marin.
Đêm đó, Nella rơi vào một giấc ngủ lơ mơ, những ngôn từ trong bức thư tình bị xé nát của Marin bồng bềnh trong đầu nàng. Jack đang đọc nó, giọng Anh của anh ta đập vào các con chữ như một chiếc xuồng nhỏ vật lộn với những con sóng cồn. “Em là tia nắng ấm áp xuyên qua cửa số nơi tôi đứng. Từ đầu đến cuối tôi vẫn mãi yêu em. Ngàn lần nhung nhớ.” Jack chạy xuyên qua những hành lang trong đầu Nella, ướt sủng vì băng, trên mái đầu tóc xoăn đội một cái sọ động vật của Marin. Nella choàng tỉnh, giấc mơ sống động đến mức nàng tin rằng Jack đang ở ngay trong góc phòng.
Sáng hôm sau là ngày thánh Nicolas, ngày Sáu tháng Mười hai. Khi Nella kéo rèm ra nhìn xuống bên dưới, hơi thở bị chặn lại nơi họng. Con búp bê của Jack đang ngồi tựa người vào cánh cửa trước, sáng lên trong không khí lạnh băng.