Peter Can Trường: Bí Ẩn Trung Hoa Thời Hiện Đại

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Vì lý do chính trị cùng nhiều duyên cớ khác, việc liên lạc giữa vài nhân vật bên xứ Trung Hoa và thân bằng quyến thuộc của họ tại khu phố Tàu phải diễn ra trong vòng tuyệt mật. Ở Thượng Hải, Moore từng có dịp quen biết Ching Gow Ong, một tay cộm cán trong giới buôn tơ lụa, dưới những hoàn cảnh mang đôi phần bí ẩn.

Theo lời những kẻ thạo tin, Moore từng ra tay giúp Ching Gow Ong một ân huệ mà chẳng ai rõ ngọn ngành. Song điều có lẽ cũng hệ trọng không kém là nếu Moore mở lời, Ching Gow Ong sẵn lòng dâng tặng anh bất cứ báu vật nào trong tầm tay.

Thế nhưng dường như Moore chẳng màng tư lợi hay bổng lộc, điều này càng củng cố thêm niềm tin của người đời rằng anh sở hữu một phẩm chất hiếm hoi: một tâm hồn phiêu lưu thuần khiết. Anh thắt chặt mối thâm giao kỳ lạ ấy bằng việc giúp chuyển những phong thư viết bằng chữ Hán mà bản thân chẳng buồn đọc, đi lại giữa Ching Gow Ong và người em trai tên Lo Ong. Gã em này trên giấy tờ coi như đã chết, song thực chất vẫn đang cai quản một sào huyệt nồng nặc mùi xú uế nằm sâu dưới lòng khu phố Tàu.

Peter Moore luồn lách qua những con hẻm ngày càng thu hẹp, men theo mê cung của những bức tường xám xịt trơ trụi, bước xuống cầu thang đá ẩm ướt rồi gõ cửa sắt đen. Cánh cửa lập tức hé mở; một bàn tay dài khẳng khiu như móng vuốt chìa ra đón lấy phong bao màu vàng từ tay người nhân viên điện đài, rồi chậm rãi, lặng lẽ thụt vào trong. Cánh cửa khép lại nhanh chóng và êm ả hệt như lúc mở ra.

Chẳng một lời nào được thốt lên. Xong xuôi việc được nhờ, Peter Moore quay trở lại những con ngõ rộng rãi và sáng sủa hơn, nơi tạo nên một khu phố Tàu quen thuộc trong mắt du khách thập phương.

Anh rảo bước chậm rãi, đầu hơi nghiêng sang một bên—thói quen hình thành sau chuỗi ngày đằng đẵng áp tai vào ống nghe cao su cứng ngắc. Cứ thế bước được một quãng trên vỉa hè dốc và hẹp, anh bỗng cảm thấy, đúng hơn là trực giác mách bảo, có một ánh mắt đang nhìn chòng chọc vào mình từ khung cửa sổ tầng hai.

Đó là đôi mắt của một thiếu nữ người Hoa, nhưng thoạt nhìn anh đã cảm nhận ngay nàng chẳng phải hạng con gái thuyền bè sông nước hạ lưu. Mái tóc đen nhánh của nàng được búi lộng lẫy, đôi hoa tai vàng rủ xuống, còn khuôn mặt thì dặm phấn gạo dày cộm. Trên đôi môi tô son điểm một nét biểu cảm đầy ác ý.

Trong khóe mắt xếch ẩn chứa một lời cảnh báo nghiêm nghị. Rồi anh nhận ra nàng dường như đang giằng co, như thể đang ra sức cản trở cử động của một kẻ nào đó đứng phía sau.

Hẳn là trong những chuyến lang bạt khắp ngõ ngách Quảng Châu, Bắc Kinh hay Thượng Hải, Peter Moore đã chạm trán không ít phụ nữ thuộc tầng lớp này. Nét mặt nàng sắc sảo, kiêu kỳ, dấu hiệu của dòng dõi quý tộc thuần chủng. Một người phụ nữ phi thường—khiến kẻ khác phải giật mình! Nàng lén nhìn xuống phố, giơ bàn tay đeo đầy trang sức quý giá lên—một cử chỉ uy nghiêm như lệnh truyền bảo anh dừng bước—rồi thoái lui vào bóng tối. Anh liền ghé vào bậc cửa một tiệm đồ ngà rồi đứng chờ.

Khu phố Tàu lúc này thật yên ắng, bởi đương buổi trưa và nơi đây đang chìm vào nếp tĩnh lặng thường lệ lúc ban trưa. Những bóng người bước đi lẹp bẹp dần trở nên mờ ảo dưới làn sương mù lạnh lẽo, nhợt nhạt đang từ vịnh biển tràn vào. Thoáng chốc người đàn bà lại xuất hiện, đưa mắt dò xét đường phố với vẻ thù địch, giơ lên một mảnh giấy xuyến vuông vức rồi thong thả gấp lại.

Peter Moore khẽ gật đầu mỉm cười. Nụ cười ấy vốn là một thói quen cố hữu. Mỗi khi bồn chồn hay căng thẳng, hệ thần kinh nhạy cảm của anh lại tự giải tỏa bằng một nụ cười kín đáo, khó đoán. Anh rảo bước tới cửa hiệu ngay dưới khung cửa sổ của nàng, nhận ra đó là tiệm vàng của Ah Sih King. Tủ kính trưng bày la liệt những món đồ kim hoàn lộng lẫy từ phương Đông. Anh cúi xuống nhặt một mẩu giấy đỏ vo tròn nằm trên vỉa hè rồi nhét tọt vào túi áo khoác.

Với một người quan sát tinh ý, vẻ thờ ơ khi Moore quay lại giả đò ngắm nghía đồ trang sức bằng vàng trong tủ kính tiệm Ah Sih King có phần quá gượng gạo, và nụ cười nở trên môi anh, nếu nói thẳng ra, lại càng chẳng hợp cảnh chút nào.

Đang lúc chờ đợi, một tiếng rơi khẽ vang lên ngay dưới chân anh, đồng thời một vệt đen trắng vút qua bờ vai. Anh nhanh chân dẫm lên vật nọ, đúng lúc khuôn mặt nhờn bóng, nham nhở của Ah Sih King hiện ra nơi ngưỡng cửa. Khuôn mặt nhợt nhạt ấy ngự trên bộ quan phục đắt tiền khoác chỉnh tề, một tấm áo lam tráng lệ thêu kim tuyến tinh xảo và đính ngọc ngà tuyệt mỹ. Giờ khắc này, gã dường như toát ra một vẻ ngờ vực mơ hồ.

"Chào ông!" đôi môi mỏng khẽ nhếch cất tiếng chào, giọng điệu thân mật đến mức khả nghi.

"Tôi không mua gì đâu," Peter Moore cộc lốc đáp.

"Ngộ thấy nỉ—nỉ thấy ngộ," Ah Sih King nhận xét, rồi quay ngoắt sang thứ tiếng bồi quen thuộc cho phải phép.

Người nhân viên điện đài bất lịch sự quay lưng đi; Ah Sih King cũng làm y như vậy. Nhưng khi gã ngoắt ngoắt quay lại, nụ cười nhờn bóng đã biến mất, thay vào đó là nét lo âu hằn lên khuôn mặt già nua ranh mãnh, còn bờ vai hơi còng của chàng trai trẻ láu cá hơn gã nhiều phần đã cách xa chừng vài bước chân.

Một tiếng suỵt khẽ như lời cảnh báo phát ra từ bờ môi đỏ thắm của người phụ nữ Trung Hoa. Khung cửa sổ sau đó khép lại không một tiếng động, và khu phố Tàu, chẳng mảy may để tâm đến biến cố vừa rồi, lại tiếp tục nhịp sống tất bật đa đoan, chẳng ai hay biết điều gì.

Có một điều gì đó khó nắm bắt trong sự việc này khiến trán Moore nhíu lại thành từng nếp nhăn. Cớ sao lại có tới hai mảnh giấy được ném xuống? Câu đố tựu trung lại một khả năng: Kẻ nào đó nấp sau lưng người phụ nữ đã ném mẩu giấy đỏ vo tròn xuống đường.

Sau đó, nàng mới ra hiệu bảo anh đợi, rồi viết mảnh giấy thứ hai, có lẽ là để cảnh báo anh tránh xa. Anh liếc nhanh vào mẩu giấy thứ hai, thấy toàn chữ Hán, bèn quyết định nhờ vả Lo Ong dịch hộ, xem như đền đáp cho bao ân huệ bấy lâu.

Khu phố Tàu lúc này dần biến mất khỏi tầm mắt, bị nuốt chửng bởi tấm chăn sương mù xám xịt từ Thái Bình Dương cuồn cuộn tràn qua cửa vịnh. Dò dẫm quay lại lối cũ giữa màn sương, Moore bước xuống cầu thang đá hẹp và dùng chiếc nhẫn ấn nặng trịch gõ lên tấm sắt hình chữ nhật. Một ô then kêu lách cách, đôi mắt đầy vẻ bất an săm soi nhìn anh, rồi tiếng then cài trượt mở vang lên. Anh đẩy cửa bước vào, gạt then đóng lại như cũ.

Căn phòng thấp tè, sâu hun hút và tối tăm dưới ánh sáng bập bùng của chiếc đèn duy nhất, treo lơ lửng từ trần nhà bằng một chùm xích đồng mảnh buộc túm. Mùi thuốc phiện nồng nặc đến mụ mẫm bủa vây bầu không khí ngột ngạt. Ngọn lửa màu cam lặng ngắt như đúc từ kim loại đặc chiếu rọi gian phòng trống hoác, chỉ có vài chiếc chiếu cói trải rải rác trong khoảng bóng tối tròn trịa, méo mó bên dưới.

Về phía một trong những chiếc chiếu ấy, Lo Ong—tiều tụy, tò mò, thậm chí mang vẻ thù địch—lùi lại rồi ngồi xếp bằng, hai bàn tay gầy guộc thanh mảnh đan vào nhau đặt trước bụng. Một thoáng nhận ra người quen khẽ khuấy động vẻ bình thản trên gương mặt vàng bủng, nhưng cũng chỉ trong chớp mắt.

"Hổng tới mua đồ à?" gã ngân nga cất giọng, như thể Peter Moore chưa từng chạm trán ánh nhìn sắc lẹm đó bao giờ.

"Ngộ chẳng bao giờ mua đồ," người nhân viên điện đài cộc lốc bảo. "Cần nỉ giúp một tay; hiểu không?"

"Chắc đặng," Lo Ong khẳng định, bằng cái giọng và điệu bộ của một kẻ tối ngày bị đám người xin xỏ bám riết. Cánh tay thụng dài của Lo Ong, như thể tách rời khỏi cơ thể và điều khiển bằng một bộ máy móc từ bên ngoài, chỉ về phía chiếc chiếu. Moore ngồi bệt xuống theo tư thế bắt chéo chân quen thuộc, châm một điếu thuốc rồi phả khói vào bầu đèn.

"Muốn cho tiền boa hả?" người đàn ông Trung Hoa ngập ngừng hỏi dồn.

Peter Moore chẳng thèm đáp lời, móc hai mẩu giấy vo tròn ra, nhét một mảnh xuống dưới đầu gối rồi mở mảnh kia ra, trong khi Lo Ong đưa mắt nhìn qua vai anh về phía cửa với vẻ khó chịu. Ba hàng chữ Hán ngoằn ngoèo được viết vội trên đó. Thân hình Lo Ong bắt đầu đung đưa qua lại theo một nhịp điệu sốt ruột.

"Lo Ong," Moore nói dứt khoát, "ngộ muốn nỉ ngậm miệng lại—lúc nào cũng phải kín miệng—hiểu chưa?"

"Đặng mà," Lo Ong lẩm bẩm vẻ dửng dưng. Gã với tay lấy mảnh giấy xuyến, dùng những ngón tay dài khoằm nâng niu nhấc lên rồi hơ sát vào ngọn lửa. Gã dường như không tin vào mắt mình trước những gì vừa đọc, bèn lật ngược tờ giấy lại, nhìn chổng ngược, rồi ngồi thụp xuống, những ngón tay gầy guộc co giật từng cơn.

"Hổng đặng đâu," gã lầm bầm, đặt tờ giấy lại lên đầu gối vị khách. "Ngộ hổng hiểu."

Ngón trỏ trắng trẻo của người nhân viên điện đài chĩa thẳng tắp vào sống mũi tẹt của gã. "Đọc đi," anh ra lệnh.

Lo Ong ngoảnh mặt đi hướng khác, như thể chuyện đó chẳng còn chút hứng thú nào với gã nữa, rồi gõ gõ các khớp ngón tay xuống sàn.

"Muốn tiền—tiền boa hả?"

"Lo Ong," Moore gắt lên, bắt đầu mất kiên nhẫn, "nỉ coi như chết rồi đấy. Giờ thì hiểu chưa?"

"Chắc đặng," Lo Ong thều thào đáp.

Moore lướt ngón tay dọc theo hàng chữ mực còn mới đầu tiên.

"Ồ-ô-i," Lo Ong bình phẩm, cựa quậy người bồn chồn, "'Ngộ thấy nỉ hoài hoài, hồi lâu rồi trên tàu.' Hiểu không?"

"Tiếp theo là gì?"

"'Nỉ hổng thấy ngộ. Ngộ thấy nỉ hoài hoài.'"

Bờ vai xuôi dài của gã dường như giật nảy lên. "'Tránh xa ra.' Hiểu không?"

"Giấy viết thế thật à?"

"Coi thử coi," Lo Ong mời mọc, chọc móng vuốt vẻ lo lắng dọc theo cột chữ. "'Tránh xa ra. Tránh xa ra.' Một—hai lần lận đó. Hiểu không?"

Peter Moore trầm ngâm gật đầu.

Kẻ đã chết trên giấy tờ nọ rụt rè đặt lại mảnh giấy lên đầu gối, như thể nó là một công cụ tà ác. Những ngón tay xương xẩu của gã giật giật một hồi.

"Tiểu thư khuê các đó," gã bồn chồn bồi thêm; "quý phái dữ lắm. Nỉ lo mà tránh xa ra. Nghe hông?"

"Khoan đã." Peter móc cục giấy còn lại ra, mở hé bên ngọn lửa màu cam. Mặt trong giấy có màu đỏ, sắc đỏ thô mộc của đá vân hoa, chằng chịt vết nứt và lằn rách do bị vò nát. Gần như bị xóa nhòa bởi mạng lưới nếp nhăn và vết cào xước là một dòng chữ nguệch ngoạc, rõ ràng được khắc vào bề mặt tráng bóng bằng mũi dao. Phần trên hoàn toàn không thể dịch nổi. Ở mặt dưới, anh khó khăn lắm mới nhận ra được một chữ duy nhất: Vandalia. Anh mang nó lại gần cửa, kéo then chắn để chút ánh sáng xám xịt mờ ảo lọt vào soi rọi. Những từ khác đã bị cào rách nát đến mức không thể đọc ra.

"Này!"

Anh quay lại bên cạnh chiếc áo thụng của Lo Ong. Ngón tay xương xẩu của gã đang phấn khích chỉ trỏ vòng quanh một vết mực đen ở góc dưới mảnh giấy xuyến.

"Cái gì đây?"

"Len Yang. Len Yang đó! Hiểu hông?"

"Ồ! Thế Len Yang là ai?"

Lo Ong lắc đầu quầy quậy, lộ vẻ bấn loạn. "Len Yang—là thành phố. Hiểu hông? Thượng Hải—Len Yang—bốn ngày."

"Mười bốn ngày từ Thượng Hải tới Len Yang à?"

"Hổng phải. Hổng! Hổng! Bốn chục."

"Bốn mươi ngày?"

"Ồ-ô-i." Chiếc mũi tẹt gật lên gật xuống lia lịa. "Tránh xa ra—nghe hông?"

"Thôi đi," Peter đáp, ngụ ý đại khái là chẳng phải việc của lão.

Lo Ong rút then cài cửa, ám chỉ buổi nói chuyện thế là chấm dứt. "Nỉ ráng tránh xa ra—nghe hông?" gã lặp lại vẻ đầy lo lắng. Moore nở nụ cười kín đáo quen thuộc đến lạ lùng, đẩy toang cánh cửa sắt đen, và một vệt sương mù dài màu xám như cánh tay lặng lẽ vươn qua mặt Lo Ong mà luồn vào bóng tối.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.