Tháng Một năm 2010
Viện dưỡng lão Roseberry trông không giống như bức ảnh trên trang web. Trên mạng, góc chụp thông minh và lấy nét mềm quanh rìa khiến tòa nhà trông như một căn hộ dài, thấp, nằm gần công viên. Trong thực tế, đó là một dãy sáu căn nhà nhỏ sau chiến tranh, quay mặt ra phía vịnh, cùng chung một con đường nhỏ và được sơn màu đỏ xấu xí. Khoảng sân trước đã được quét sạch tuyết để lộ ra chỗ đỗ xe sát với tòa nhà khiến cho những chiếc xe đỗ tại đây xả khói thẳng vào bức tường, có lẽ đó là nguyên nhân vì sao các rèm cửa ở đây đều có màu xám nâu. Louisa luôn cho thấy cô xem thường các khu vườn và lối xe vào có lát đá, và cậu nhìn toàn bộ khu vực qua đôi mắt của cô, cho rằng nơi đây sẽ đẹp hơn nhiều nếu được rải đá cuội. Và cả những cây ngọc giá đặt trong chậu bằng nhựa nữa chứ, họ nghĩ cái quái gì vậy? Bên dưới lớp tuyết phủ, các cây hoa đã trở nên giòn rụm và ngả vàng; chúng sẽ cần một lớp bọc bằng vải dày để trụ thêm một đêm nữa.
Ở chỗ cổng vào, Paul dừng lại một lúc để đá tuyết khỏi giày và gạt đế giày lên tấm thảm xù trước khi ấn chuông. Người y tá mở cánh cổng kép có mái tóc hai màu nâu và đỏ không hợp với nhau, nhưng cậu cũng chẳng thể nhìn ra đâu mới là màu nhuộm. Biển tên của cô, được cài lên bộ y phục quá chật khiến nó nhìn như thể lún sâu vào ngực cô, cho cậu biết tên cô là Lenka.
“Tôi đến gặp bà Murray.” Paul nói. Lenka yêu cầu cậu điền tên vào sổ thông tin khách ghé thăm. Đó không phải loại sổ mà người ta để lại những dòng bình luận đáng yêu, kể về niềm vui họ đã có tại đây, mà là một danh sách những người đến và đi. Đã luyện tập từ trước, cậu viết chữ Dan Smith vào sổ, bàn tay này đã từng giả chữ của Daniel.
“Mời đi theo tôi!”
Paul và Lenka, cô gái có cặp mông đẹp, rất đẹp là khác, đi theo hành lang lắt léo với hai bên tường được sơn màu nước nhàn nhạt, lớp nhựa bảo vệ phủ lên toàn bộ thảm trải sàn và cả phần tường cao ngang eo. Toàn bộ chỗ này tanh mùi cá và nước tẩy rửa. Ở hướng ngược lại, một ông già khoác áo bu-dông gắn nhiều huân chương đang đi lại chậm chạp, bám vào tường bằng hai bàn tay chưa cắt móng. Họ có vẻ đang tiến về nơi phát ra tiếng ồn duy nhất trong tòa nhà, một căn phòng lớn đầy những chiếc ghế có lưng tựa cao và ti vi đang bật ở mức âm lượng làm méo mó cả ngôn từ.
Không ai ngước lên khi Paul đi vào. Một trong số khách trọ của trung tâm (còn cách nào khác để gọi họ đây?) nhìn chằm chằm vào cậu, lưỡi lè ra khỏi khuôn miệng đã rụng hết răng. Paul cứ nghĩ rằng bà Ball đã là già lắm rồi, nhưng những người ở đây còn hơn thế, quá già tới mức họ chẳng còn giống người nữa, và cậu đã tự nhủ sẽ tự sát trước khi bước vào ngưỡng tuổi này. Cũng như việc bà Ball khăng khăng rằng tất cả người da màu đều trông giống nhau trong mắt bà, đối với Paul, tất cả người già đều giống hệt nhau. Theresa Murray có thể là bất cứ ai ở đây.
“Ừm, đã rất lâu rồi tôi không gặp bà ấy”, Paul nói, và rồi được dẫn tới một chiếc ghế màu hoa hồng sẫm nơi cậu trông thấy một người già nhất cậu từng gặp. Bà có nước da tựa như đáy sông khô cạn. Tuy nhiên, ngay lập tức có thể nhận ra Theresa Murray thuộc tầng lớp hoàn toàn khác với bà Ball và bà ngoại cậu. Bà cũng đeo trang sức, nhưng chỉ là một chiếc vòng cổ với những hạt màu hổ phách và một sợi dây đeo mắt kính.
Bà có mái tóc ngắn và thẳng, quàng một chiếc khăn paisley lớn được gấp đôi và phủ đều lên hai vai, hai phần đầu khăn thả xuống đối xứng trên khuỷu tay. Một cuốn kinh Tân Ước nhỏ đặt trên đùi. Bà trông tinh nhanh và minh mẫn. Paul thoáng cảm thấy hoang mang. Chẳng đời nào anh có thể nịnh hót được người phụ nữ này, anh nghĩ. Và rồi bà lên tiếng.
“Alan”, bà thốt lên, và vươn người về phía trước. Chỉ đến lúc này anh mới nhận ra chiếc xe lăn.
“Không phải Alan”, Lenka nói, “là Dan.”
“Tôi thừa sức nhận ra con trai mình nếu tôi nhìn thấy. Cô còn chưa bao giờ gặp nó. Các người còn chưa ở trên cõi đời này khi nó sinh ra, thế nên đừng có nói với tôi ai là nó và ai không phải nó.” Lenka bực bội quay người rời đi. “Alan, con yêu.” Bà Murray tiếp tục. “Con chẳng hề nói với mẹ là con sẽ đến! Thật là một bất ngờ đáng yêu. Đến đây với mẹ nào.” Bà vỗ lên cái đầu gối nhìn giòn rụm của mình như thể bà chờ mong cậu sẽ ngồi vào lòng mình vậy. Paul ngồi xuống ghế bên cạnh và bà siết chặt tay cậu trong tay mình. Bàn tay bà như một nắm củi khô bọc trong một găng tay da cũ kỹ và cậu có một suy nghĩ kỳ cục rằng nếu bị cắt, bà sẽ tan thành bụi. Cậu chưa hề nghĩ đến việc bị hiểu nhầm thành Alan, dù vậy lúc này, khi nghĩ về điều đó, nếu bà góa phụ già không có nhiều khách ghé thăm và nhớ con mình da diết, việc nhầm lẫn cũng là lẽ hiển nhiên thôi. Cậu hiểu được rằng mình cần hành động nhanh, khi bà vẫn còn đang mụ mẫm.
“Trông con khá hơn nhiều so với nhiều năm trước. Có phải con đã ngừng uống rượu không?” Paul gật đầu. “Thật ư? Ôi con yêu, điều đó thật tuyệt vời. Mẹ rất tự hào về con. Mẹ đã vô cùng lo lắng. Họ nghĩ rằng con đang sống vất vưởng ngoài đường, con biết đấy, khi họ không thể tìm được con.”
“Khi ai không thể tìm được con cơ?” Paul đánh liều hỏi.
“Ôi Alan, chúng ta đã nói về việc này cả triệu lần rồi. Mẹ tưởng trí nhớ của con đã khá hơn? Con có đang uống thuốc đều không đấy?”
Paul gật đầu. “Chỉ là một ngày tồi tệ thôi. Kể cho con nghe chuyện đã xảy ra lần nữa đi.”
“Chẳng ai biết cả con yêu.” Bà sử dụng giọng điệu nhẹ nhàng, mãn nguyện của người mẹ đang kể câu chuyện gối đầu giường quen thuộc cho đứa con nhỏ. “Con đã mất tích, phải không nào, sau khi bị đuổi khỏi Wellington. Con đã không về nhà với mẹ nhưng chúng ta vẫn luôn liên lạc. Mẹ đã báo với con cái ngày bố con mất và khi con không đến dự đám tang, mẹ đã ở bước đường cùng. Mẹ biết có gì đó không ổn, cho dù có nhiều khác biệt giữa con và bố, nhưng mẹ biết con sẽ không bao giờ bỏ lễ tang. Một người mẹ sẽ biết, Alan à, một người mẹ sẽ luôn biết khi nào con mình gặp rắc rối, bất kể nó có già cách mấy và nghĩ rằng mình tự lập đến đâu. Cái đêm con sinh ra, con còn nhớ không? Khi bố con về nhà và chỉ còn lại mẹ con mình trong bệnh viện. Mẹ đã không ngừng cầu nguyện, cảm ơn Chúa khi con ngủ trong vòng tay mẹ.” Những giọt nước dãi nhỏ ra từ kẽ răng khi bà nói. Paul bắt đầu có cảm giác chán ghét, dù điều đó có vẻ phi lý, và băn khoăn liệu cậu có mắc chứng sợ người già giống như sợ máu không. “Mẹ đã không bỏ cuộc. Con ở trong danh sách những người mất tích và một ngày, họ nói rằng có một chàng trai bị hôn mê và đó chính là con.” Cậu rất khó khăn mới theo được câu chuyện lộn xộn của bà và thầm ước mình mang theo giấy bút. “Con chẳng nhớ được bất kỳ điều gì kể từ sinh nhật, tệ nhất trong tất cả... Mẹ phải báo tin cho con hết lần này đến lần khác... và chẳng lần nào dễ hơn lần nào mười sáu tuổi, khi con bỏ nhà đi. Mẹ phải dạy lại con tất cả mọi thứ. Con cứ quên bố mình đã qua đời. Và đó là phần tệ nhất trong tất cả. Alan con yêu, sao con dụi mắt vậy? Có phải con vẫn bị đau đầu không? Con biết là con phải đi khám thường xuyên. Và bỏ rượu cũng chẳng ích gì nếu con không chịu uống thuốc. Ở đây có bác sĩ, ông ấy có thể kiểm tra cho con ngay bây giờ, mẹ chắc ông ấy sẽ không thấy phiền đâu. Lenka! Lenka! Con trai tôi cần gặp bác sỹ Venables ngay lập tức.”
“Con không sao đâu, m...”, quá nhập tâm vào vai diễn nên cậu suýt gọi bà là mẹ.
Trong lúc Lenka cứng nhắc giải thích rằng bác sỹ Venables đang đi vắng và hơn nữa, công việc của ông là chăm sóc các bệnh nhân ở đây, chứ không phải người nhà của họ, Paul kết luận rằng cậu đã có đủ thông tin mình có thể lấy từ bà Murray.
“Con đang sống ở đâu? Con chẳng bao giờ kể cho mẹ về nơi con ở. Làm ơn đi Alan! Hãy để lại địa chỉ cho mẹ. Làm sao họ biết đường liên lạc với con nếu mẹ có mệnh hệ gì? Con là tất cả những gì mẹ có.” Bà nôn khan, rồi sau vài giây lấy hơi, bà bắt đầu khóc, “Con đã từng là một đứa bé đáng yêu. Chúng ta luôn mong có con, đã cầu nguyện để có con.”
Lenka quay trở lại và đứng khoanh tay trước họ. “Làm ơn ngừng lại”, cô nói. Paul đứng dậy, khinh bỉ chính mình vì đã khiến cho người phụ nữ già nua tội nghiệp này tưởng cậu là con trai bà, cho dù chính bà là người bắt đầu việc đó.
“Con rất vui vì được gặp mẹ”, cậu nói, “Nhưng con nên đi thôi. Tuyết bắt đầu rơi lại rồi.”
Nước mắt ứa ra từ cơ thể chỉ còn lại chút nước hiếm hoi, lăn dọc theo hai gò má bà. Bà giơ hai tay ra và Paul để bà ôm mình trong vài giây, cảm thấy rằng đây là điều tối thiểu cậu có thể làm. Cậu đã nghĩ mình sẽ bật lùi lại vì mùi của bà nhưng bà lại có mùi hoa và tro bụi. Cậu không cố gắng thoát khỏi vòng tay yếu ớt của bà.
“Con sẽ sớm quay lại.” Cậu nói, biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ có thể chịu được việc trở lại đây.
Trên đường ra, anh hỏi chuyện Lenka, “Cô làm ở đây bao lâu rồi?” Cô nhíu mày. “Tôi đang tò mò không biết có ai ở đây quen bà ấy một thời gian dài không.” Paul nói. “Tôi có vài điều muốn hỏi.” Cậu được đáp trả bằng một cái nhún vai.
“Bà Brown chăng? Có lẽ bà ấy biết.”
Bà Brown hóa ra là người quản lý ở đây, bà ta có văn phòng nằm ngay sau chỗ đặt sổ thông tin của khách. Bà ta ngước lên từ bàn làm việc và phải nhìn lại lần nữa cho chắc.
“Lạy Chúa tôi, tôi có thể thấy được nét giống nhau.” Bà ta nói.
“Ồ, đúng rồi.” Paul đáp, băn khoăn liệu bà này có “ngáo ngáo” như những bệnh nhân của mình hay không.
“Lenka nói bà ấy nghĩ anh là con trai bà ấy. Tôi hy vọng anh không làm phiền lòng bà ấy.”
“Tôi không cố ý. Bà ấy nhầm lẫn như vậy với tất cả mọi người sao?”
“Không.” Bà quản lý nói. “Hoàn toàn không. Nhưng bà ấy không có nhiều khách ghé thăm, và chắc chắn là không phải Alan.”
Paul cảm thấy xấu hổ. “Đã bao lâu rồi từ lần cuối bà gặp anh ta?”
“Nhiều năm rồi. Chín? Mười? Có khi hơn. Một chàng trai trẻ rắc rối. Chắc anh không nghĩ anh ta còn trẻ, nhưng khái niệm về tuổi trẻ của anh sẽ thay đổi nếu anh làm việc ở đây. Bất cứ ai dưới sáu mươi tuổi đều là trẻ đối với tôi.” Bản thân bà ta trông không có vẻ gì nhiều tuổi hơn ngưỡng đó. “Tôi chỉ mới gặp anh ta một hai lần gì đó. Hiển nhiên là lần nào cũng say mèm.” Giọng bà ta trầm hẳn xuống khi nói ra điều tiếp theo. “Anh ta dần đánh mất vẻ ngoài của mình dù mới chưa đầy ba mươi tuổi. Có vẻ nó xảy ra sau vụ tai nạn, mặc dù tôi biết rằng anh ta có chút ương ngạnh và họ đã ghẻ lạnh anh ta một thời gian trước đó, sau khi anh ta quay lưng với nhà thờ. Mà cậu hẳn hiểu rõ chuyện đó hơn tôi, đúng không?”
Paul bắt đầu cảm thấy khó chịu vô cùng. Bà Brown hẳn đang vi phạm vài nội quy bảo mật thông tin bệnh nhân, và nguy hiểm hơn, cậu nhận ra dấu hiệu của việc buôn chuyện, sự thèm khát thông tin, và cậu biết chuyến viếng thăm của mình sẽ thành đề tài được nhắc đến ở phòng nghỉ của nhân viên trong vài ngày tới. Đã đến lúc cậu phải chuồn khỏi đây trước khi để lộ ra điều gì. Cậu nhìn lên bầu trời trắng xóa. Cậu đã sử dụng tuyết làm cái cớ nhưng thực sự thì tuyết đang rơi. Chuyến đi của cậu sẽ không trót lọt nếu cậu không cẩn thận.
“Alan mới là người anh đang tìm kiếm, chứ không phải bà mẹ, đúng không? Anh có phiền không nếu tôi muốn biết chính xác thì anh có quan hệ như thế nào với nhà Murray?” Bà ta đang nghĩ mình là con trai của Adam chăng? Ý nghĩ quá ghê tởm đến mức nó trở nên nực cười.
“Họ hàng rất xa.” Paul đáp, nhận ra biểu hiện của bà quản lý đang thay đổi vì câu trả lời cộc lốc của cậu khiến bà ta khó chịu. “Xem này, tôi sắp phải đi rồi. Liệu tôi có thể hỏi bà một câu kỳ lạ không?”
“Được, nhưng tôi không có nghĩa vụ trả lời anh đâu.” Giờ thì bà ta lại thể hiện sự chuyên nghiệp, giấu giếm thông tin trước cậu giống như cậu vừa làm với bà ta.
“Bà có nghĩ rằng anh ta vẫn còn sống không?”
Khuôn mặt bà quản lý khẽ nhăn lại cho đến khi ham muốn buôn chuyện vượt qua các nguyên tắc.
“Tôi thực sự không biết. Chúng ta sẽ chẳng thể nào biết cho đến lúc bà ấy mất, tôi đoán thế. Anh sẽ bị choáng trước những người chẳng gặp bao giờ. Những người họ hàng biến mất hàng năm trời đột nhiên xuất hiện, vẫn còn sống khỏe mạnh khi họ nghĩ rằng sẽ có tài sản thừa kế nào đó để lại. Nhưng không phải trong trường hợp này, ngôi nhà cũ đã được bán để chi trả cho việc điều dưỡng, nên tôi không nghĩ chúng tôi có nhiều lý do để đi tìm anh ta. Chúng tôi đã thử lúc bà mẹ bị đột quỵ và nghĩ rằng bà ấy không thể qua khỏi, nhưng vô ích. Vấn đề là, vài người không muốn bị tìm thấy, họ chẳng khác gì người đã chết rồi.”