Những lần say xỉn của Louisa càng thưa hơn thì nó càng kéo dài hơn trước. Cô đã thực hiện nghi lễ của mình vào đêm thứ Sáu và những hiệu ứng của nó đã kéo dài đến hết ngày thứ Bảy, sang Chủ nhật cũng không thấy khá hơn mấy. Và giờ đã là sáng thứ Hai, nhưng cô vẫn thấy mệt mỏi. Những mệt mỏi về thể xác khiến cô yếu đi, nhưng chính những đau đớn về tinh thần mới là không thể chịu đựng nổi. Chẳng khác nào hành xác khi cô nhớ lại toàn bộ quá trình, từ ngụm vodka đầu tiên đến việc ôm lấy ti vi, khóc, quỳ, thật không thể chấp nhận được. Nhưng nó đã có tác dụng, điều đó mới quan trọng. Khi bước đến văn phòng cô cảm thấy nhẹ nhõm, không phải vì cô đã ăn uống không điều độ suốt cuối tuần. Cô thường cảm thấy sạch sẽ và thanh thản sau mỗi lần như vậy, nhưng giờ đây là một cảm giác dứt khoát, một niềm tin rằng con quỷ cuối cùng đã bị đuổi đi. Hơn nữa, cô cảm thấy mình được bảo vệ, mặc dù lớp vỏ cô tạo nên trong những năm qua đã dày hơn và trở nên bất khả xâm phạm.
Cô vừa kịp đến chỗ làm việc, nhưng so với mọi ngày, cô đã đến trễ một cách bất thường. Những người khác đều đã ở đó. Mưa phùn nhè nhẹ rơi, bầu trời như một bức màn màu xám dự báo một ngày làm việc vất vả. Nhưng cô thấy ổn vì ngày hôm nay cô sẽ gọi điện và làm việc trong nhà. Ross bước ra khỏi phòng, được gọi là phòng khởi động, khi cô bước hai bước đến văn phòng.
“Chào buổi sáng, Ross!” Cô nói, nhận ra cậu ta là người cuối cùng cô nói chuyện cuối tuần trước và cũng là người đầu tiên cô gặp mặt đầu tuần này.
“Chào buổi sáng. Ôi trời, tóc của tôi!” Ross nói, quay về phía mưa và vuốt phần tóc mái của mình xuống. Louisa bối rối. Cô đã luôn nghĩ rằng tóc của Ross là một thất bại của ngành công nghệ tóc. Ross hất một phần tóc qua bên tai, như cách một ông hói chải chuốt, mặc dù cậu ta còn trẻ và tóc khá dày. Việc có một người cố tình để kiểu tóc như vậy khiến cô thấy bối rối và sự bối rối ấy làm cô phát hoảng. Đó cũng là bản năng khiến cô muốn đến gần Dilan và kéo cao cạp quần cậu ta lên để che đi chiếc quần lót. Cô đã là một phụ nữ trung tuổi nên luôn thấy bối rối trước thời trang của giới trẻ. Nó sẽ xảy ra với tất cả mọi người, cô nghĩ, nhưng chắc không phải ở cái tuổi ba mươi chín này chứ?
Liếc qua Ingram, anh ta đang cắm cúi phía sau bàn làm việc của mình, điều đó khiến cô thấy vui. Anh ta làm quản lý cho cô được hai năm nhưng đối với cô, anh ta luôn giống như một cô gái hai mươi mốt tuổi. Mái tóc dày được buộc lên gọn gàng, kiểu đuôi ngựa thời trung cổ. Hoàn toàn phù hợp với đôi lông mày trên cặp kính vuông. Hôm nay, anh ta không để ý đến quần áo lắm, anh ta mặc một chiếc áo len đan tay với những họa tiết cành cây nằm chéo qua ngực. Louisa nửa tin nửa ngờ rằng sẽ có một con thỏ biết nói hoặc một con kỳ lân nào đó nhảy ra khỏi nách anh ta và bắt đầu chạy xung quanh cổ áo.
“Có một bài viết về cô trên tạp chí cuối tuần này.” Anh ta nói với Louisa. Cảm giác bình yên ngay lập tức được thay thế bởi nỗi hoảng sợ quen thuộc. Cô cảm thấy hụt hơi, như thể một kẻ vô hình đấm mạnh vào bụng, khiến lưng cô cong lại.
“Có vấn đề gì thế?” Ingram hỏi.
“Tôi bị đầy bụng.” Cô trả lời khi dạ dày trống rỗng của mình đang sôi sục a-xít. Cô thấy choáng váng khi nỗi sợ hãi trỗi dậy quá nhanh và cô chợt hiểu ra cảm giác bình yên của mình đã dựa vào không gì hơn ngoài sự mê tín rằng cô đã, đáng lẽ phải, trưởng thành nhanh hơn. Anh ta ra dấu bằng cách gật đầu về phía một tờ báo đặt trên bàn. Cô kéo lê bàn chân nặng như chì qua phòng, nhận thấy anh ta đã cắt và đánh dấu một bài viết có tên Luddite thế hệ mới*, về một thế hệ những con người từ chối công nghệ có lợi mà lựa chọn phong cách sống và làm việc truyền thống. Cô thở phào nhẹ nhõm.
Thành viên trong các đoàn thể lao động Anh, tham gia vào việc đập phá máy móc, đặc biệt trong các xưởng dệt và thuộc da, vì họ nghĩ rằng máy móc sẽ đe dọa đến công việc của họ.
“Chà, dữ dội nhỉ!” Cô nói. “Tôi biết, tôi đang lãng phí cuộc sống của mình, một thợ làm vườn cắm cúi trong khu vườn cả ngày thay vì nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính. Thật kỳ lạ, phải không? Bất cứ ai cũng sẽ nghĩ tôi thực sự thích công việc của mình.”
“Việc của tôi không phải in các email ra cho cô.” Ingram sẽ tiếp tục tranh luận cả ngày nếu có cho phép.
“Vậy thì đừng!” Cô nói, “Để họ gọi cho tôi. Để họ viết thư cho tôi. Để tôi đến với họ.”
Một tiếng bíp khác vang lên trên máy tính, anh ta báo với Louisa rằng một tin nhắn khác mới nháy lên trên màn hình. Anh ta nhăn mặt khi đọc nó.
“Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ có một kẻ vô vọng nữa từ Demetra. Tôi nghĩ là cô đã biết rồi?” Ingram tỏ vẻ khó chịu. Giờ cô đã nhớ ra: Demetra đã nói với cô vào cuối tuần trước khi sự khó chịu về Adam đã trở nên quá tải và cô đã quên khuấy mất.
“Giới trẻ, Ingram.” Họ đã thử cả triệu lần mới tìm được một cụm từ ngắn gọn, phù hợp để tóm tắt tất cả những lý do phức tạp khiến những đứa trẻ đó kết thúc tại Kelstice. Những kẻ có tiền án, những người dễ bị tổn thương, những người nghiện, đang phục hồi nhân phẩm, thanh niên... cuối cùng, tất cả được gói gọn là Giới trẻ.
Ingram khịt mũi, “Cậu này đã làm gì nhỉ, cô nghĩ sao?”
“Chẳng phải quan trọng nhất là chúng ta không nên hỏi bọn họ đã làm gì ư?” Louisa hỏi. “Chúng ta phải đối xử với bọn họ như không có gì xảy ra chứ?” Cô luôn rất nghiêm túc về điều đó, về cơ hội thứ hai, bản tính có thể thay đổi. “Không phải tất cả đều là kẻ cướp hay những tên hiếp dâm. Hãy nhìn Ross xem. Chúng ta đã làm những điều kỳ diệu cho cậu ta. Cậu ta sẽ học đại học trong năm tới.”
“Ồ, tôi biết. Tôi đã phải viết thư giới thiệu tới một trường kỹ nghệ trá hình trường đại học. Đại học William Shakespeare, nếu cô không thấy phiền. Cậu ta đang học cử nhân ngành quản lý di sản. Thứ đó có ý nghĩa quái gì? Ở thời của tôi, chúng tôi xác định cứ có bằng cử nhân lịch sử cái đã, tốt nghiệp xong chúng tôi mới bắt đầu suy nghĩ về nghề nghiệp tương lai...”
Louisa lờ anh ta đi và quay lại bàn của mình. Cô đang trả giá cho sự bỏ bẵng của tuần trước bằng một tuần mới phải làm việc đến tận khuya và không có thời gian nghỉ trưa. Các email được in ra chất thành chồng cao và có hàng chục nhà máy cô còn chưa theo dõi, chứ đừng nói là đặt hàng. Trong sổ ghi chép của cô là một danh sách viết nguệch ngoạc những người cô đang kiếm đủ mọi cách để nhận được sự ủng hộ, với các ô trống cô sẽ đánh dấu vào sau mỗi cuộc điện thoại. Tất cả đều trống. Các đơn xin trợ cấp được đánh dấu nham nhở đang trễ hai tuần; các mẫu đơn vẫn còn trong phong bì. Bỏ bê công việc là không thể tha thứ. Cô lật một trang giấy, đập vào mắt là hình ảnh phác họa chân dung của Adam cô vẽ lúc nào không hay. Cô nhặt lấy bút và gạch chéo lên bức vẽ cho đến khi nó hoàn toàn bị che khuất, sau đó xé tờ giấy và ném nó vào thùng rác tái chế.
Cô xoay ghế ngồi quan sát tấm thảm, việc cô vẫn thường làm khi tìm cảm hứng. Đó không phải hàng thật, tất nhiên vì ngay cả chiếc điện thoại cũng không thể để hớ hênh tại nơi này, chứ đừng nói một món đồ vô giá. Tấm thảm có những họa tiết được thêu từ nhiều thế kỷ trước và có kích thước bằng đồ thật với độ phân giải cao nhất. Trên đó là một cặp đôi thời Elizabeth, cô gái trong bộ váy bồng từ thế kỷ XVI còn chàng trai trong bộ trang phục cùng niên đại, họ đứng trước một khu vườn rộng lớn, rậm rạp đầy các loại thảo mộc, dây leo, bờ rào và những lối mòn; có một đài phun nước bằng đá ở trung tâm; vườn cây ăn quả và những cánh đồng ẩn hiện phía xa xa. Phong cách thêu phẳng của những thợ thêu thời Tudor tạo nên một cảm giác hai chiều hoàn hảo cho mục đích nghiên cứu và thiết kế của cô. Cô chú ý đến đường viền tinh xảo, với vô số những cành lá và hoa cuộn vào nhau. Nhờ những hình ảnh đó cô có thể tái tạo lại hình ảnh khu vườn một cách chân thực. Cô nhìn không chớp vào một đóa hoa hồng trắng khiến cô bối rối trong nhiều tuần. Đó là hoa dã tường vi hay chỉ là một bông tầm xuân? Người khác nếu đã nghĩ đó là hoa dã tường vi thì sẽ không suy nghĩ nữa. Nhưng cô không gọi bừa tên một loài cây cho đến khi cô hoàn toàn chắc chắn, đó là việc Ingram thực sự trả tiền cho cô. Cô có thể bỏ ra hàng giờ nhìn chằm chằm vào một cánh hoa duy nhất. Công việc là nơi trú ẩn duy nhất của cô. Cho dù cô có săn lùng một loài cây hay chăm sóc nó, cô đã luôn luôn theo đuổi những khoảnh khắc khi quá khứ và tính cách của cô không còn quan trọng và tất cả trong cô chỉ là những kỹ năng đó. Cô lật trở lại trang giấy gồm đầy tên và các Con số, mỗi con số tượng trưng một bước tiến gần hơn đến sự hoàn thành của khu vườn. Cô thấy nhẹ nhõm và vui thích khi cảm thấy niềm đam mê và sự khả thi đang khuấy động bên trong cô. Cuộc gọi đầu tiên thậm chí được trả lời gần như trước khi đổ chuông.
“Chào Tim!” Cô nói. “Louisa, Louisa Trevelyan đây. Bây giờ, nghe này, điều này là rất táo bạo nhưng tôi vẫn hỏi vì nếu không, tôi sẽ không bao giờ có được. Hiện tại tôi đang làm việc cho một chương trình cộng đồng tuyệt vời, khôi phục khu vườn Tudor ở Warwickshire và tôi đang tìm nhà tài trợ.” .
“Sao tôi thấy vụ này có vẻ không hay ho cho lắm?” Tim nói. “Cô đang tìm cách moi tiền tôi hả?”
“Anh gọi nó thế nào cũng được, chà, tôi sẽ không đưa ra bình luận gì. Nhưng nếu anh cho chúng tôi mượn một cái máy đào đất hoặc hai cái, miễn phí, trong khoảng sáu tuần, anh sẽ có logo công ty trên tất cả các chương trình, tên đơn vị của anh trên tất cả các giấy tờ, mọi thứ. Giờ anh sẽ nói sao đây?”
Tim giả vờ phản kháng, Louisa lại giả vờ thuyết phục. Họ đã đồng ý nói chuyện thêm vào ngày mai khi anh có thời gian kiểm tra lại các con số. Cô đánh dấu vào ô trống cạnh tên anh.
Cô ăn trưa - món mì ngay tại bàn mình. Sau đó cô đi dạo trong vườn. Hơn bao giờ hết, cô cảm thấy phấn chấn khi bước ra khỏi “ánh nắng” giả tạo từ những chiếc đèn huỳnh quang ra ngoài trời, dù ánh nắng thực có yếu ớt như hôm nay. Cơn mưa phùn lúc này đã tạnh nhưng mặt đất đủ độ ẩm để đào xới và cũng đủ khô để đôi bốt của cô bám lấy mặt đất. Bước bốn bước dài qua gò đất, cô đi ra vòng ngoài đống đổ nát, quan sát xung quanh Kelstice. Nhìn vào khu đất bây giờ, sẽ không ai tin rằng chỉ trong hai năm nữa thôi nó sẽ hồi phục lại sự huy hoàng như trong bức tranh được thêu trên tấm thảm.
Chỉ có một mẫu đất bắt đầu được cải tạo, vườn cây của Nathaniel được đào hai lần từ bờ này sang bờ kia, được cắm cọc và đánh dấu vị trí của các cây với một sự tỉ mỉ đặc trưng. (Nathaniel giống như một anh hùng kiểu Thomas Hardy - với đôi má ửng hồng, mái tóc xoăn màu nâu đỏ và sự im lặng ẩn ý mà ban đầu Louisa cứ nghĩ đó là một bí ẩn - và cô đã rung động bất ngờ trước anh ta. Nhưng rồi cô thấy vừa thất vọng vừa nhẹ nhõm khi biết rằng anh ta đang sống hạnh phúc ở Stratford-upon-Avon với một người buôn đồ cổ tên Ian.) Những phần khác của khu vườn không thuộc thẩm quyền của Nathaniel vẫn là một mớ hỗn độn. Nhà kính hãy còn trống đến nửa, màu xanh sáng của đám cỏ dại vẫn sừng sững bất khả chiến bại. Ở bên phải của Lodge, đám bụi cây mọc hoang vẫn dày đặc như ngày đầu tiên cô nhìn thấy nó. Rõ ràng cái máy đào nên xuất hiện càng sớm càng tốt. Trong khi chờ đợi, bọn trẻ sẽ phải oằn lưng đào đất, hì hục làm những công việc lẽ ra một cỗ máy có thể làm mà không tốn nhiều công sức. Ingram phản đối ý tưởng máy đào đất, bề ngoài anh ta nói là do vấn đề kinh phí nhưng thực tế thì, Louisa ngờ rằng, anh ta nghĩ lao động nặng nhọc là cần thiết để làm cạn bớt năng lượng của bọn trẻ thay vì dùng vào những hành vi nổi loạn bạo lực. Nếu làm theo cách của anh ta thì toàn bộ dự án sẽ được hoàn thành với lưỡi hái và cuốc xẻng. Cuối cùng, cô nhìn ra bức tường ở rìa xa nhất. Giờ lá đã mỏng bớt nên có thể nhìn thấy mặt nhôm sáng lấp lánh nhưng tất nhiên phải chú tâm tìm kiếm mới nhìn thấy được và ở vị trí đó chắc chắn người nhìn sẽ nhầm sang một xe công nông hoặc một nơi động vật trú ẩn.
Louisa chuyển sự chú ý của mình trở lại đống đổ nát. Dù có nhìn nó bao nhiêu lần thì cô vẫn không thể ghi nhớ toàn bộ các hoa văn đá vào bộ nhớ. Cô lần bàn tay dọc theo bức tường ẩm ướt, ngón tay miết dọc theo những hình vẽ cổ xưa đã mờ nhạt thành những ký tự không thể đọc được, tự hỏi liệu đã có ai đứng ở đây trước cô, họ đã thấy những gì và liệu cô có thể tái tạo lại tất cả chân thực đến mức nào. Công việc của cô hẳn sẽ nhẹ nhàng đi nhiều nếu bức vách có cả miệng lẫn tai, nếu những viên đá cũ có thể hướng dẫn cô trong suốt dự án.
Cô không nghĩ sẽ có ai khác bước lên gò và rẽ vào một góc khuất mà không nhìn, đập đầu vào bộ ngực của cô. Cô lùi lại một bước và người đó cũng vậy, lời “xin lỗi” tự động thốt ra khiến cô chú ý. Louisa ngước lên nhìn. Lời xin lỗi chết cứng trên mỗi khi cô nhìn vào khuôn mặt của Adam Glasslake.
Từng ngụm không khí trôi vào phổi như nước đá, như thể cô đang chạy trong một ngày đông. Suy nghĩ đầu tiên xuất hiện trong cô hẳn là, nhờ sức mạnh từ nỗi khao khát cháy bỏng cuối cùng đã gọi anh trở về, rằng cô đã gặp được linh hồn anh. Đây hẳn là một bóng ma: Adam chưa hề già đi chút nào. Cô đột ngột đưa tay lên vuốt má mình đầy thương tâm, khi nhận thức được cô đã thay đổi ra sao trong mắt anh sau bao năm tháng trôi qua. Nhưng hơi thở của anh cũng mờ đi trong không khí như cô và ngực của anh chạm vào trán cô đầy ấm áp. Không có khuôn mặt nào hiện ra trong các đám mây, đây không phải một bóng ma. Cảm thấy bối rối, sợ hãi, cô dán lưng vào bức tường không bằng phẳng phía sau, những ngón tay bám vào vách đá. Adam có vẻ như đang hoảng sợ hơn cô.
“Cô có sao không?” Người đó hỏi. “Tôi làm cô bị thương ở đâu à? Tôi thật sự xin lỗi!”
“Không, tôi xin lỗi!” Cô thì thầm. “Ôi lạy Chúa, tôi rất... rất xin lỗi!” Cô gần như trượt khỏi dốc với mong muốn chạy đi càng nhanh càng tốt, chạy qua vườn cây chưa trồng, đạp phải các vệt đánh dấu và giẫm lên các luống đất. Cô sẵn sàng đập tan các bức tường kính để tránh mặt anh. Cô thậm chí còn sẵn sàng chui sâu vào lòng đất.