Tháng Một năm 2010
Sau khi đưa ra ý kiến, cô đã đi ngủ. Càng về sáng thì việc đó lại càng trở nên cần thiết. Cô hiểu nó cũng rất đáng sợ. Cô dành cả buổi sáng một mình trong văn phòng, nhìn chằm chằm vào tấm thảm như thể đôi tình nhân bé nhỏ ở trong ấy có những ý tưởng tuyệt vời. Nhưng khi nhìn vào thế giới nhỏ bé bị đóng khung và treo trên tường đó, cô chỉ nhận ra mình sẽ mất nhiều thứ nếu Carl Scatlock không sớm bị ngăn chặn. Từ khoảnh khắc ấy, cô đã quyết định phải tỏ ra chuyên nghiệp trong việc này, xem việc giết người có chủ ý cần phải theo sát, đúng giờ và không được thất bại. Ý nghĩ này giúp cô có thể nói về chuyện đó bằng một giọng điệu tự tin và sẽ không còn chỗ cho việc trì hoãn nữa, dù từ phía Paul hay lương tâm đang cắn rứt của cô.
Paul đã đề nghị họ là mấy ngày còn lại này, họ nên ở khách sạn. Cô đã có chút tự ái khi cậu cứ khăng khăng đòi trả tiền, coi nó như một món quà Giáng sinh muộn và đưa ra chủ ý muốn tắm chung với cô. Tuyết tan chậm khiến họ nóng ruột, mỗi ngày chỉ lộ ra một vài vết đất nâu và chiếc caravan. Nếu họ có thể tới chỗ chiếc xe được, thì sẽ để lại dấu chân và Carl biết chính xác nơi có thể tìm thấy họ. Hai người đều không tin Carl sẽ không làm gì trong bốn ngày và việc nhường cho ông ta lợi thế chủ động là một điều ngu ngốc, dễ chừng đến mức tự tử.
Họ dừng chân ở một nhà trọ tại một khu đất văn phòng ảm đạm ở giữa Leamington và Warwick. Nó khá xa Kelstice và số lượng ít ỏi khách trọ ngắn ngày đặt cọc trước cho phép họ giấu danh tính thật. Cả hai gọi đây là thánh đường nhưng Louisa cũng biết kỳ nghỉ nhỏ này là lần vui vẻ cuối. Những gì họ dự định làm sẽ thay đổi mọi thứ giữa họ. Mối quan hệ của hai người vẫn chưa từng trải qua “những bài kiểm tra cơ bản nhất” ở nơi công cộng. Ai nói họ có thể ở cùng nhau sau khi thông đồng giết người? Và đấy là nếu như mọi việc đi đúng hướng. Nếu nó sai thì... chẳng ai trong hai người muốn nghĩ đến việc ấy. Không có kế hoạch B.
Họ ấp ủ kế hoạch A với tâm trạng nghiêm túc tại quầy bar của nhà nghỉ Motel, ngồi trên dãy ghế dài có hoa văn giống hoa văn của rèm cửa và ga trải giường trong phòng. Cô nhận trách nhiệm, cô phải làm thế, không chỉ bởi nó là ý tưởng của cô và bởi cô lớn tuổi hơn, mà còn bởi cô sợ nếu cô buông bỏ quyền kiểm soát, cậu sẽ hoảng sợ. Cậu nói cậu cũng chắc chắn như cô rằng đây là điều không thể tránh khỏi, nhưng sự im lặng của cậu khi họ bàn về cách thực hiện đã cho thấy điều ngược lại. Họ uống hàng vại bia và thì thầm một cách buồn bã dưới con mắt lo lắng của người phục vụ quầy bar, cũng đồng thời là lễ tân đã cho họ thuê phòng và là người phục vụ họ bữa sáng.
Họ bắt đầu bằng việc tìm chỗ giấu xác của Scatlock và những việc cần làm sau đó. Louisa biết rằng nơi duy nhất mà đất đủ mềm để đào là bãi đỗ xe. Vị trí trên cao của nó cho thấy rằng nó luôn nhận được ánh nắng cả ngày, không bao giờ bị che khuất bởi bóng của Lodge. Tất cả chỗ tuyết ở đó đã tan và nền đất ở đó bị cô lập bởi một màng bán thấm, được thiết kế để nước mưa có thể chảy vào hồ chứa đồng thời ngăn cỏ dại. Sỏi được chất đống bên cạnh, chờ được Nathaniel chia sang bên kia vào ngày đầu tiên anh ta đi làm trở lại. Mở tấm ga giường ra cũng khá dễ dàng và nó còn dễ hơn khi quấn xác ông ta trong đó. Quan trọng là người đào hố sẽ phải chờ sẵn trên đỉnh đồi.
“Chúng ta cần dụ ông ta đến đấy bằng cách nào đó”, cô nói. Cô nói về việc đó bằng một giọng bình tĩnh không chừa bất kỳ chỗ nào để cậu nghi ngờ, cũng là để giúp chính cô. “Nếu chúng ta làm ở chỗ nào khác thì chúng ta sẽ phải lăn hoặc kéo thi thể ông ta vào bãi đỗ xe. Việc đó sẽ mất hàng giờ và chúng ta sẽ để lại những vết kéo lớn hướng đến bãi đỗ xe trên mặt tuyết.” Paul co rúm lại. “Cách duy nhất để chúng ta có thể áp đảo ông ta là lặng lẽ đi theo. Chị sẽ đến từ phía sau và đập ông ta bằng một cái xẻng hay thứ gì đó. Chị chỉ cần đánh ngã ông ta ngay lần đầu tiên.”
Cô nhìn cậu chờ đợi phản ứng nhưng chỉ nhận lại một cái gật đầu chậm chạp. Khi cô nói ra mọi suy nghĩ, thì cậu lại như đang có một cuộc độc thoại diễn ra bên trong mà cô chỉ có thể đoán mò. Đó là một trong những điều ở cậu khiến cô cảm thấy cuốn hút lúc đầu, sự tĩnh lặng này, nhưng giờ cô muốn cậu chủ động hơn. Họ không còn thời gian cố gắng lý giải tâm trạng đối phương nữa. Cô cố không để sự thất vọng xuất hiện trong giọng nói. “Chị rất lo về việc để lại dấu vết”, cô tiếp tục. “Chúng ta chỉ có ngày cuối tuần để khiến nó như chưa bao giờ xảy ra. Mọi người sẽ quay trở lại vào sáng thứ Hai. Lý tưởng nhất là tuyết rơi thật nhiều hoặc tuyết tan hết sạch để họ không thể biết chúng ta đã làm gì.”
Paul nhắm mắt lại và yên lặng. Trong một vài giây, Louisa nghĩ rằng cậu đang sợ và bụng cô nhộn nhạo lo lắng, nhưng khi cậu mở mắt cô thấy cậu chỉ đang suy nghĩ.
“Em không nghĩ chúng ta cần lo lắng về điều này”, cuối cùng cậu cũng trả lời. “Con người chỉ chú ý đến những gì họ đang tìm kiếm. Có bao giờ chị thấy một ít đất vụn và nghĩ, tôi cá là có một người đang nằm dưới này không? Họ sẽ chỉ nghĩ là vừa có một cái ô tô đỗ ở đây hay đại loại thế.”
“Chị cho là vậy. Và chỉ có Nathaniel ở đó. Anh ta không phải người lúc nào cũng nghi ngờ.”
“Tội nghiệp Nathaniel già cả”, Paul nói, nốc ừng ực chỗ bia còn lại ở đáy cốc và quay sang người phục vụ quầy bar lấy thêm hai cốc y hệt. “Anh ta đã làm gì để bị lôi vào chuyện này chứ?”
“Nathaniel không bị lôi vào chuyện gì cả. Anh ta sẽ đổ sỏi lên khắp bãi đỗ xe và sẽ không ai chú ý đến. Chúng ta không có lựa chọn, Paul.”
“Em biết.”
Vào thứ Năm, họ quay lại Kelstice để tập dượt. Chiếc xe trượt trên mặt băng. Đôi lúc, Paul gần như mất kiểm soát với chiếc xe, đôi tay không đeo găng của cậu chảy đầy mồ hôi. Louisa cũng lo lắng và thấy lạnh lẽo khi họ đi xuôi theo con đường, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy Scatlock đã ở đó khi họ vắng mặt; vết bánh xe duy nhất là vết bánh xe của họ và của ông ta để lại khi đến đây lần đầu. Cách quay xe ba điểm của ông ta tạo thành những vệt quay và đường vòng trên bùn.
Căn phòng để dụng cụ là một phòng chứa không cửa sổ, những tấm tôn dợn sóng tạo nên một màu xanh u ám bên trong, và chỉ được chiếu sáng bởi một cái bóng đèn huỳnh quang mà phải mất đến vài giây mới bật sáng được. Trong điều kiện ánh sáng yếu ớt, họ quan sát những dụng cụ được sắp xếp ngay trước mặt, bừa và cuốc được treo trên những giá trên tường. Louisa bắt gặp hình ảnh của cô và Paul được phản chiếu trên một cái xẻng sáng loáng. Đứng cạnh nhau, những ngón tay đan lại, trông họ như bất kỳ cặp đôi bình thường nào đang lựa chọn dụng cụ cho khu vườn của mình tại một cửa hàng vào một chiều Chủ nhật. Cô vươn những ngón tay rảnh rang lần theo cán cầm của những dụng cụ mà cô dùng hàng ngày một cách đầy chuyên nghiệp, băn khoăn liệu mình sẽ chọn thứ gì để chuyển từ dụng cụ sang hung khí. Tay cô ngập ngừng trên chuỗi dây thừng bện màu xanh lá có thể dùng như dây thòng lọng. Cái bừa kia có thể làm mù mắt ông ta. Cô không thích cái cuốc chim lớn, kích cỡ và đường viền của mỏ cuốc thực sự quá sức với cô, cô sẽ không thể sử dụng một cách chính xác. Mọi thứ phụ thuộc vào độ chính xác của cô. Cô chọn một con dao tỉa nhỏ.
“Đừng lấy dao”, cậu khăng khăng. “Mọi thứ, ngoại trừ dao.”
Tay cô đưa gần đến một cái xẻng cùn lớn, nặng phần lưỡi nhưng có tay cầm làm bằng thép rỗng, nhẹ. Với bề mặt to và cùn, cô được phép mắc nhiều sai lầm hơn so với những dụng cụ khác. Cô bắt gặp ánh mắt của Paul. Trông cậu như sắp sửa ốm đến nơi, nhưng cậu gật đầu. Dưới sự giám sát của cậu, cô tập sử dụng cái xẻng hàng giờ liền, như một người đánh golf luyện tập cú phát bóng. Cô dồn hết sức vào mỗi cú giáng. Điều khó khăn ở đây không phải là có tập trung đủ lực hay không, mà là do cô vung xẻng không đủ cao để đập vào sau gáy Scatlock. Họ đi đến chỗ những cái cây, nơi có vô số mục tiêu bằng gỗ. Sau một vài giờ cô đã có thể đập mặt sau của lưỡi xẻng lên bất kỳ vật nào được đánh dấu chỉ trong vài giây. Tập trung vào động cơ của nhiệm vụ đã khiến cô quên đi sự đáng sợ của việc này. Mục tiêu của cô là cú đầu tiên sẽ làm ông ta bất tỉnh; cú thứ hai hoặc ba sẽ là cú kết liễu. Trong thâm tâm, cô biết rằng việc vung xẻng lần thứ hai sẽ là phần khó khăn, vì thách thức lúc đó không phải đánh gục, mà là kết liễu ông ta.
Họ kết thúc lúc 4 giờ, khi cơn đói, sự mệt mỏi và mặt trời đã dần tắt buộc họ quay trở lại phòng trọ. Paul lái xe trong khi cô mát xa cổ và vai. Phần thân trên của cô đau nhức và mỏi nhừ, như thể ai đó đã nhét một cái mắc áo vào phần cầu vai của chiếc áo phông mà cô không thể gỡ bỏ. Nhưng cô cảm thấy hài lòng với ý nghĩ mình đang nắm trong tay quyền sinh sát. Paul sẽ là tòng phạm của cô và đó là tất cả. Dù cậu nghĩ gì đi nữa, thì cô đã làm việc đó từ khi mới mười tám tuổi. Cô đã cho Paul mọi cơ hội để rút lui. Cô biết cậu hiểu rằng việc giết Scatlock là cần thiết - không có cách nào khác để giữ bí mật chuyện cô đã làm với Adam, và đó cũng là cách duy nhất để Paul được tự do đứng ra làm nhân chứng chống lại Daniel. Nhưng sự miễn cưỡng của cậu quá rõ ràng đến mức nó buộc cô phải che giấu sự miễn cưỡng của chính mình. Cô không có thời gian để làm quen hay hưởng thụ sự tự do đáng lẽ phải có sau tiết lộ của Paul về việc Adam vẫn còn sống, và giờ cái tội danh giết người lại choàng nặng lên hai vai cô một lần nữa.
“Chị không ngại làm một mình đâu”, cô nói khi cậu theo cô qua cửa xoay của nhà nghỉ Motel, mặc dù cô chỉ đang lừa cậu thôi; cô biết cô không thể vượt qua chuyện này nếu không có sức mạnh và sự khuyến khích của Paul. “Em không cần phải tham gia vào chuyện này. Chị sẽ không đổ lỗi cho em, chị hiểu.”
“Kể cả chị có thể tự làm việc này thì em cũng sẽ không bỏ rơi chị”, cậu nói. “Em chính là lý do để ông ta tìm đến, và em mới chính là người ông ta thực sự muốn. Chị chỉ là... người đi kèm.”
Cái nhiệm vụ kinh khủng sắp tới khiến cô mất cảm giác thèm một số thứ - thức ăn, giấc ngủ - còn những thứ khác thì lại gấp đôi - rượu, tình dục. Cô thấy ngạc nhiên và lo lắng, khi biết được rằng có lẽ cái chết là chất kích dục tốt nhất cô từng biết. Paul cũng cảm thấy thế; cậu thường ít nói ngoại trừ trên giường, nơi sự căng thẳng của cả tuần được giải phóng. Giá như có thể cảm nhận được điều này mà không cần phải giết Scatlock. Bốn ngày ở nhà nghỉ Motel là khoảng thời gian hoàn hảo một cách u ám. Rượu dởm, ga trải giường rẻ tiền và một chiếc ti vi không hoạt động bình thường đối với họ lại chính là những chai rượu vang chất lượng, ga trải giường bằng lụa và một nghệ sỹ violin dưới ban công chơi những bài họ thích.
Vào sáng thứ Bảy, họ tỉnh dậy lúc 6 giờ, ăn một bữa sáng căng thẳng và im lặng gồm một hộp ngũ cốc và bánh sừng bò từ ngày hôm qua; 7 giờ sáng nhà bếp mới làm việc. Đêm trước, sự lo lắng của Paul đã ảnh hưởng đến cô như những con virus. Giết Scatlock vẫn là cần thiết nhưng giờ chuyện đó không còn có vẻ gì là hấp dẫn hay dễ dàng. Việc lên kế hoạch và luyện tập vào những ngày cuối có cảm giác như một trò chơi. Họ không phải Bonnie và Clyde. Họ là một người làm vườn đã bước sang độ tuổi trung niên và một chàng trai chỉ vừa tốt nghiệp trung học, đảm nhận vai trò của một cựu binh với nỗi sợ máu.
Họ trả phòng trong yên lặng. Cô không thể thôi nghĩ về cuộc hành trình sắp tới. Paul thanh toán trong vài giây, sử dụng tấm thẻ tín dụng mà cậu bị buộc phải xuất trình như một điều kiện để khách sạn chấp nhận cho đặt phòng. Bọc hành lý nhẹ của họ được vứt vào trong xe. Cô ngoái lại nhìn phía bên ngoài tòa nhà, biết rằng trong vòng vài phút tới, cô sẽ quên mất nó trông như thế nào. Họ là những người duy nhất trong cái sân đỗ xe rộng lớn này. Trời vẫn còn tối, nhưng cô đã quen với bóng tối đặc biệt của tuyết trong vài tuần trước. Ánh sáng màu đào phát ra từ đèn đường đã làm thay đổi toàn bộ khung cảnh. Kể cả bóng tối và ánh sáng cũng không thể tin tưởng được nữa.
Cô giữ cho xe ở số hai, mừng vì việc lái xe đã thu hút toàn bộ sự tập trung của mình. Phải mất đến năm phút mới vượt qua được vòng xuyến giao giữa khu đất văn phòng và con đường vòng. Phương tiện khác duy nhất trên đường là một chiếc xe chở hàng của siêu thị, đống hàng hóa lắc lư điên cuồng sau cabin khiến cô phải lùi lại để tránh.
“Chị đang nghĩ gì vậy?” Paul hỏi khi họ bắt đầu đi vào đường Kelstice.
Thực ra cậu chợt có một ý tưởng tồi tệ là có thể Scatlock sẽ không đi một mình. Cô tự hỏi tại sao, khi họ đã trải qua tất cả những khó khăn để mưu tính những bước đi của ông ta và nơi ông ta sẽ đỗ xe, họ lại không tính đến việc này. Tuy ông ta trông như một người đàn ông đơn độc, nhưng ông ta cũng có thể có vài người bạn chí thân, dĩ nhiên là ông ta phải có. Cô chỉ hy vọng bản năng của mình sẽ đúng, rằng vì đó là một người đàn ông tự phụ - và, đúng, tham lam - nên ông ta sẽ đi một mình. Cô biết nếu mình nói ra nghi vấn đáng sợ này cậu sẽ hoàn toàn sụp đổ, vì thế cô cố gắng làm cho tình huống bớt căng thẳng.
“Chị cứ nghĩ rằng thật là lãng phí phân bón nếu chúng ta chôn ông ta tại bãi đậu xe. Thật tiếc khi chôn ông ta xuống dưới những tầng đất sét và sỏi nơi sẽ chẳng có gì mọc lên. Đây lẽ ra có thể là điều tử tế duy nhất mà ông ta từng làm.”
Lời nói đùa đã có tác dụng: Paul bắt đầu cười. “Chị đã hiểu khi em bảo ông ta là đồ tồi chưa?” Cậu nói. “Ông ta còn không thể khiến mình bị giết vào mùa xuân khi đất tơi xốp và khi chúng ta trồng cây.”
Nỗi lo lắng dịu đi trong thoáng chốc; tràng cười đã bị thay thế bởi cảm giác sốc khi họ vòng qua chỗ rẽ gần cầu Kelstice. Có một hàng xe dài từ chỗ rẽ. Điều này khá lạ lùng; thỉnh thoảng vẫn xảy ra kẹt xe tại đường Kelstice vào giờ cao điểm, nhưng vào sớm thứ Bảy thì hiếm khi nào có xe đi trên đường. Nhưng đó không phải là điều làm môi cô khô lại. Mà là biển báo ở giữa làn đường bên trái, màu trắng trên nền xanh, là một tấm biển cánh sát chặn đường không cho đi qua.
Cô quyết định để xe không cài số và cô không nhận thấy những ngón tay mình đang gõ rất nhanh lên vô lăng cho đến khi Paul đặt bàn tay lên tay cô và vẫn để đó để làm cô bình tĩnh lại. Cô có thể cảm nhận mạch trên ngón tay cái của cậu, nóng và nhanh.
Cậu nói yếu ớt, “Ông ta sẽ không làm thế.”
Một sỹ quan trong chiếc áo khoác màu vàng, trông tuổi đời còn rất trẻ nhưng có vẻ vẫn nhiều tuổi hơn Paul, đang cố điều hướng cho dòng xe ở bên kia cầu lùi lại để chiếc xe buýt, vừa leo lên chân đồi, có thể quay đầu lại. Trong lúc anh ta đang đợi dòng xe đi theo sự chỉ dẫn của mình, người lái buýt xe đang run lẩy bẩy, hút thuốc và đi lên đi xuống dọc theo hàng xe. Louisa hạ kính cửa xuống.
“Chuyện gì vậy?” Cô hỏi.
Người lái xe buýt gật đầu chào Paul, cậu đang ngồi trên ghế phụ, và nhíu lông mày để đáp lại.
“Một kẻ tội nghiệp nào đó đã đâm vào cây cầu.”
“Ôi trời, hy vọng không ai bị thương”, Louisa tự động nói.
“Tôi nghĩ anh ta chỉ bị vài vết cắt và trầy xước,” người tài xế hít mạnh, “nhưng, anh ta đã chết, cô gái. Không thể nào sống sót được. Chiếc xe bị đè bẹp hoàn toàn. Bây giờ thì tôi được rảnh rang để đi tán dóc. Đây đúng là một cơn ác mộng khủng khiếp, xin lỗi cuộc đời.”
Louisa cố gắng thể hiện nét mặt thông cảm, nhưng ông ta đã đi khỏi, truyền tin tức xấu đến những tay lái phía sau họ.
Hai người bắt đầu một cuộc hội thoại ngắn ngủi, rời rạc.
“Chúa ơi, chị cứ nghĩ là...”
“Em cũng vậy.”
“Chị không vui khi có cảnh sát quanh đây.”
“Ừ, em biết.”
“Nhưng ít ra không...”
“Đúng.”
“Chúng ta vẫn đi chứ?”
“Dĩ nhiên.”
Phải một lúc lâu họ mới được phép quay đầu xe. Vào lúc đó, mặt trời hiện ra và một chủ đất ở Kelstice, mặc dù không phải là người cho cô thuê đất, anh ta bước vào làng và nói với cảnh sát rằng anh ta rất sẵn lòng cho những chiếc xe nhỏ đi vào làng, thông qua một con đường đất cắt ngang mảnh đất của anh ta. Chiếc xe nhỏ của Louisa lùi lại vào con đường ngập tuyết, gần như bỏ cuộc khi nó phải vượt qua một cây cầu đá thấp bắc ngang qua con suối Kelstice. Có một chiếc xe thuộc sở cảnh sát Warwickshire mà họ đã trông thấy trước đó, người sỹ quan trẻ đang gào thét một cách khó hiểu vào bộ đàm treo trước ngực. Cô tiến lên chậm rãi, không chỉ bởi tại con đường nguy hiểm mà còn để xem chuyện gì đang diễn ra, việc đã xảy ra với Adam vẫn không thể làm vơi đi tính tò mò của cô với những vụ đụng xe. Từ góc này, có thể cảm nhận rõ độ rùng rợn của vụ tai nạn. Cây cầu cổ vẫn còn y nguyên - không một viên đá nào bị rơi ra khỏi tường - đúng là điều kỳ diệu khi so với những gì đã xảy ra cho chiếc xe. Các cọc tiêu giao thông bao lại hiện trường tai nạn, chu vi của nó khá rộng, từ cây cầu cho đến cánh đồng xanh. Những vết bánh xe chồng chéo một cách khó hiểu đến mức không thể biết được chiếc xe tới từ hướng nào. Louisa có thể thấy một mảnh kim loại đen bị vặn xoắn - Cái hãm xung? Nắp bảo vệ căm xe? Khung cửa sổ? - nằm ngay giữa đường. Những tinh thể vỡ vụn của kính chắn gió lấp lánh trong nắng. Paul cũng vậy, mặc dù với vẻ chán ghét khủng khiếp không thể che giấu, đang vặn vẹo người trên ghế để nhìn rõ hơn. Cậu trông thấy vài thứ khiến cậu cảm thấy khó thở.
“Dừng xe lại”, cậu nói.
Giọng điệu cậu không cho phép cô hỏi lại. Cô đỗ xe bên vỉa hè. Ngay trước khi cô gài thắng tay, cậu đã lao ra khỏi xe, không chạy về hướng hiện trường mà chạy lên một mô đất nhỏ ở nhánh sông Kelstice. Cậu bị ngã một lần, vấp vào một nhúm cỏ trên nền tuyết, và khi cậu lên đến đỉnh, cậu ngã ngửa ra như một người mới chơi trượt tuyết. Khi cậu đứng dậy được, cậu nhìn hé qua các ngón tay như đứa trẻ xem phim kinh dị. Cậu vẫn giữ nguyên tư thế đó khi cô leo lên gần đến đỉnh đồi, và chỉ bỏ tay ra để bắt lấy cô và kéo cô lại chỗ mình đứng.
Người lái xe buýt đã đúng; chiếc xe đã dẹp lép như một tờ giấy, khó mà nói được là toàn bộ phần trước xe đã bị nén lại hay cắt ra. Tuyết bị rửa trôi hoàn toàn bởi dầu máy, và thứ gì đó đỏ đỏ lẫn trên nền đen chảy đầy xung quanh.
Ở cuối một lối đi trong vườn, một chiếc giày đàn ông màu đen trơn bị quăng ra khỏi xe, vẫn còn cả tất bên trong. Louisa co rúm lại và băn khoăn, va chạm kiểu gì có thể tuột được giày và tất ra khỏi chân, rồi cô nhìn thấy một con mèo xám tiến đến và ngửi nó, lúc này Louisa đột nhiên kinh hoàng nhận ra là do trong đó có bàn chân của nạn nhân. Con mèo dụi mũi vào một bên chiếc giày, một vệt máu hiện ra trên hên tuyết trắng. Cô cố kiềm bữa sáng trong bụng lại. Bên cạnh cô, Paul hớp từng ngụm không khí và tóm chặt lấy khuỷu tay cô, nhưng khi cô quay lại, thậm chí cậu còn không nhìn vào cái chân kinh khủng hay nền tuyết hoen vết máu hay thậm chí là chiếc xe, mà vào thứ gì khác, cái gì đó đủ khủng khiếp để rút cạn máu trên mặt cậu và lời nói trên môi cậu. Cậu dán mắt vào hai nửa của thứ gì đó, những chữ đen trên nền nhựa hoặc vinyl màu vàng mà chỉ cần liếc qua một lần, Louisa đã nhận ra đó là biển báo “Trẻ em trên xe” cô từng thấy trên chiếc xe của gia đình Miranda.
“Ôi không”, Louisa nói, “xin đừng.”
“Em biết biển số xe này”, Paul nói, giọng cậu trầm xuống. “Em đã từng lái nó.”
Cô xem xét lại vấn đề sau lời nói của Paul và lần này đã nhận ra mảnh nhựa bị vỡ là phần còn lại của một chiếc biển số xe đã được đăng ký. Thậm chí sau đó, cô cũng mất vài giây mới hiểu được sức nặng của những điều cậu vừa nói.
“Lão khốn luôn lái xe như đồ điên”, Paul nói đều đều. Cậu bẻ khớp ngón tay. “Ra khỏi đây và về Lodge thôi.” Cậu bò quay lại về hướng chiếc xe mà không ngoái nhìn một lần nào, nhưng đôi mắt cô lại hướng đến cái bàn chân ấy một lần nữa. “Louisa, đi thôi.”
Mãi đến khi họ vượt qua quãng đường nửa dặm quay về Kelstice Lodge, lái xe vào lối đi, trông thấy hung khí giết người đặt trên gờ tường bãi đỗ xe, họ mới bắt đầu phá vỡ sự im lặng. Paul phát ra một âm thanh to, dài, như nửa vui mừng, nửa thổn thức. Cô không thể chia sẻ cảm xúc đó với cậu. Cảm giác nhẹ nhõm bị lấn át bởi ý nghĩ về việc mà họ đã định làm.