Frankenstein Hay Vị Thần Prometheus Hiện Đại

Lượt đọc: 419 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Chẳng mấy chốc, tôi được dẫn diện kiến quan tòa, một cụ ông nhân hậu với phong thái điềm đạm và ôn hòa. Tuy nhiên, cụ nhìn tôi với ánh mắt có phần nghiêm khắc; rồi quay sang những người áp giải, cụ hỏi ai là nhân chứng trong vụ việc này.

Khoảng nửa tá người bước lên phía trước; và sau khi được quan tòa chỉ định, một người khai rằng vào đêm hôm trước, ông cùng con trai và anh vợ là Daniel Nugent đi đánh cá, thì vào khoảng mười giờ, họ thấy một trận cuồng phong từ phương bắc nổi lên, thế là họ liền chèo thuyền vào bờ. Đêm đó rất tối vì trăng chưa mọc; họ không cập bến ở cảng mà ghé vào một lạch nước cách đó khoảng hai dặm về phía hạ nguồn như mọi khi. Ông đi trước, mang theo một phần ngư cụ, còn những người đồng hành theo sau cách một khoảng. Khi đang bước đi trên bãi cát, chân ông vấp phải vật gì đó và ngã dúi dụi xuống đất. Những người đi cùng liền chạy tới đỡ ông dậy; và nhờ ánh đèn lồng, họ phát hiện ông vừa ngã lên thi thể của một người đàn ông trông có vẻ đã chết. Suy đoán ban đầu của họ là đây là xác chết của một người nào đó bị đuối nước rồi bị sóng đánh dạt vào bờ; nhưng khi kiểm tra kỹ hơn, họ thấy quần áo không hề bị ướt và cơ thể thậm chí còn chưa lạnh. Họ lập tức khiêng thi thể ấy đến căn lột của một bà cụ gần đó và tìm mọi cách cứu chữa nhưng vô ích. Nạn nhân có vẻ là một thanh niên khôi ngô, chừng hai mươi lăm tuổi. Anh dường như đã bị bóp cổ, bởi chẳng có dấu vết bạo lực nào ngoài vết ngón tay thâm tím trên cổ.

Phần đầu của lời khai này chẳng mảy may khiến tôi chú ý; nhưng khi nhắc đến vết ngón tay, tôi chợt nhớ đến vụ sát hại em trai mình và cảm thấy vô cùng chấn động; chân tay tôi run lẩy bẩy, trước mắt tối sầm lại khiến tôi phải bấu lấy một chiếc ghế để trụ vững. Quan tòa quan sát tôi bằng một ánh mắt sắc sảo và dĩ nhiên đã rút ra những suy đoán bất lợi từ thái độ của tôi.

Người con trai xác nhận lại lời khai của cha mình; nhưng khi Daniel Nugent được gọi lên, anh ta khẳng định chắc nịch rằng ngay trước khi người đồng hành vấp ngã, anh ta đã nhìn thấy một chiếc thuyền chở duy nhất một người đang trôi ở một khoảng cách ngắn sát bờ biển; và theo những gì anh ta có thể nhận định qua ánh sáng lấp lánh của dăm ba vì sao, thì đó chính là chiếc thuyền mà tôi vừa dùng để cập bến.

Một người phụ nữ khai rằng bà sống gần bãi biển và đang đứng trước cửa lột ngóng chồng con quay về, chừng một tiếng đồng hồ trước khi nghe tin tìm thấy thi thể, thì bà nhìn thấy một chiếc thuyền chỉ chở một người duy nhất đang chèo rời khỏi đúng khúc bờ biển nơi sau đó người ta phát hiện ra xác nạn nhân.

Một người phụ nữ khác xác nhận việc nhóm ngư dân đã đưa thi thể vào nhà mình; lúc đó người nạn nhân vẫn chưa lạnh. Họ đặt anh lên giường và xoa bóp; còn Daniel thì chạy vào thị trấn gọi y sĩ, nhưng sự sống đã hoàn toàn tắt lịm.

Nhiều người khác cũng được thẩm vấn về việc tôi cập bến; và họ đều thống nhất rằng với cơn gió bắc dữ dội nổi lên suốt đêm hôm ấy, rất có thể tôi đã bôn ba lênh đênh suốt nhiều giờ liền và buộc phải quay trở lại gần đúng nơi mình đã xuất phát. Hơn nữa, họ nhận xét dường như tôi đã chở thi thể từ một nơi khác tới, và có khả năng vì không rành đường sá bờ biển, tôi đã tấp vào bến cảng mà hoàn toàn không biết khoảng cách từ đó đến thị trấn —— xa xôi nhường nào.

Nghe xong những lời khai này, ông Kirwin yêu cầu đưa tôi vào căn phòng quàn thi thể chờ ngày mai táng để quan sát xem cảnh tượng đó sẽ tác động thế nào đến tôi. Ý tưởng này có lẽ xuất phát từ sự hoảng loạn tột độ mà tôi đã bộc lộ khi phương thức gây án được miêu tả. Thế là tôi được quan tòa cùng vài người nữa áp giải đến quán trọ. Tôi không khỏi bàng hoàng trước những sự trùng hợp kỳ lạ đã diễn ra trong đêm đầy biến động này; nhưng vì biết rằng mình vẫn trò chuyện với một vài người trên hòn đảo nơi tôi cư trú vào khoảng thời gian người ta phát hiện ra xác chết, nên tôi hoàn toàn bình thản trước hậu quả của vụ việc.

Tôi bước vào căn phòng đặt thi thể và được dẫn lại gần chiếc quan tài. Làm sao tôi có thể diễn tả nổi cảm giác của mình khi nhìn ngắm thi thể ấy? Cho đến giờ, tôi vẫn cảm thấy cổ họng khô khốc vì kinh hoàng, và chẳng thể nghĩ lại khoảnh khắc khủng khiếp đó mà không thấy rợn tóc gáy cùng nỗi đau đớn xé lòng, gợi nhắc tôi đôi chút về sự quằn quại trong giây phút nhận ra người quen. Cuộc thẩm vấn, sự hiện diện của quan tòa cùng các nhân chứng, tất cả trôi tuột khỏi trí nhớ tôi tựa một giấc mơ khi tôi tận mắt nhìn thấy thân hình không còn sự sống của Henry Clerval đang trải dài trước mặt. Tôi thở hồng hộc; và lao bổ vào cái xác, tôi thét lên: “Chính những mưu đồ giết người của tôi đã cướp đi sinh mạng của anh sao, Henry dấu yêu của đời tôi? Đã hai kẻ mạng vong dưới tay tôi; những nạn nhân khác hãy còn chờ định mệnh giáng xuống: nhưng còn anh, Clerval, người bạn thân thiết, người ân nhân của tôi”——

Thể xác con người chẳng thể nào chịu đựng nổi nỗi đau đớn cùng cực mà tôi đang gánh chịu, và tôi ngất lịm, được khiêng ra khỏi phòng trong cơn co giật dữ dội.

Sau đó là một trận bạo bệnh. Tôi nằm liền hai tháng ròng bên bờ vực cái chết; những lời sảng của tôi, theo như sau này tôi nghe kể lại, thật đáng sợ; tôi tự nhận mình là kẻ sát hại William, Justine và Clerval. Có lúc tôi van nài những người chăm sóc hãy giúp mình tiêu hủy con ác thú đang hành hạ bản thân; có lúc tôi lại cảm thấy những ngón tay của con quái vật ấy đang siết chặt lấy cổ mình, và gào lên trong nỗi thống khổ cùng sự kinh hoàng tột độ. May mắn thay, vì tôi nói tiếng mẹ đẻ, nên chỉ có một mình ông Kirwin hiểu được tôi; nhưng điệu bộ và tiếng kêu thảm thiết của tôi cũng đủ khiến những nhân chứng khác phải khiếp vía.

Sao tôi lại không chết đi cho rồi? Khốn khổ hơn bất kỳ kẻ nào từng sống trên đời này, sao tôi không chìm vào cõi lãng quên và nghỉ ngơi đi? Thần Chết cướp đi biết bao đứa trẻ đang độ xuân sắc, niềm hy vọng duy nhất của những bậc sinh thành cưng chiều chúng; biết bao cô dâu và đôi trẻ yêu đương thắm thiết hôm trước hãy còn phơi phới sức xuân và hy vọng, mà hôm sau đã thành mồi cho giun bọ và nấm mồ hoang phế! Tôi được nặn bằng thứ chất liệu gì mà có thể chống chịu nổi chừng ấy đòn roi, tựa như chiếc bánh xe tra tấn cứ quay đều mãi, hành hạ thể xác tôi không ngừng nghỉ.

Nhưng tôi bị kết án phải sống; và hai tháng sau, tôi tỉnh dậy tựa như vừa choàng dậy từ một giấc mơ, nằm trong một nhà giam, trên chiếc giường tồi tàn, xung quanh là lính canh, kẻ giữ chìa khóa, những chiếc ổ khóa bu lông cùng toàn bộ cỗ máy khốn cùng của một ngục thất. Đó là buổi sáng, tôi nhớ vậy, khi trí khôn tôi hồi phục: tôi đã quên mất những chi tiết của sự việc vừa xảy ra, và chỉ cảm thấy như một tai họa lớn vừa bất ngờ giáng xuống đầu mình; nhưng khi đưa mắt nhìn xung quanh, thấy những ô cửa sổ có chấn song cùng sự nhếch nhác của căn phòng, tất cả ào ạt ùa về trong trí nhớ và tôi rên rỉ đầy cay đắng.

Âm thanh ấy làm giấu giấc ngủ của một bà lão đang gục đầu trên chiếc ghế bên cạnh tôi. Bà ta là y tá được thuê, vợ của một tên canh ngục, và nét mặt bà ta phô bày trọn vẹn những phẩm chất tồi tệ thường thấy ở cái tầng lớp ấy. Những đường nét trên khuôn mặt bà ta thô kệch và cộc cằn, hệt như những kẻ đã quen nhìn ngắm cảnh đau khổ mà chẳng hề mảy may thương cảm. Giọng điệu của bà ta toát lên vẻ thờ ơ lạnh lùng; bà ta cất lời bằng tiếng Anh, và giọng nói ấy lọt vào tai tôi như thể tôi đã từng nghe thấy trong những ngày tháng đoạn trường:

“Ngài thấy đỡ hơn chút nào chưa, thưa ngài?” - bà ta hỏi.

Tôi đáp lại bằng chính thứ ngôn ngữ ấy, giọng yếu ớt: “Tôi nghĩ là mình đỡ hơn rồi; nhưng nếu tất cả những điều này là sự thật, nếu quả thực tôi không nằm mơ, thì tôi lấy làm tiếc vì mình vẫn còn sống để mà cảm nhận nỗi khốn khổ và kinh hoàng này.”

“Nói đi cũng phải nói lại,” bà lão đáp, “nếu ý ngài là về người quý ông mà ngài đã sát hại, thì tôi nghĩ ngài thà chết đi còn hơn, vì tôi đoán ngài sẽ khó lòng thoát tội; ngài sẽ bị treo cổ vào phiên tòa tới thôi. Dù sao đi nữa, đó cũng chẳng phải việc của tôi, tôi được phái đến để chăm sóc ngài và lo cho ngài khỏe lại; tôi làm tròn bổn phận với một lương tâm trong sạch, giá mà ai cũng được như thế thì hay biết mấy.”

Tôi quay đi với sự ghê tởm trước người đàn bà có thể thốt ra những lời vô tình đến thế với một con người vừa được cứu sống từ cửa tử; nhưng người tôi bủn rủn, chẳng còn chút sức lực nào để suy ngẫm về mọi chuyện đã qua. Toàn bộ chuỗi ngày trong cuộc đời tôi hiện lên trước mắt tựa một giấc mơ; đôi lúc tôi còn hoài nghi không biết mọi chuyện có thực là sự thật hay không, bởi nó chưa từng hiển hiện trong tâm trí tôi với sức nặng của thực tại.

Khi những hình ảnh chập chờn trước mắt trở nên rõ nét hơn, cơn sốt lại bùng lên trong tôi; một màn đêm đè nặng xung quanh; chẳng có lấy một ai ở bên vỗ về tôi bằng giọng nói dịu dàng đầy âu yếm, cũng chẳng có bàn tay thân ái nào nâng đỡ tôi. Viên bác sĩ đến kê đơn và bà lão sắc thuốc cho tôi; nhưng sự cẩu thả hiện rõ mồn một trong hành động của người thứ nhất, còn nét mặt người thứ hai thì hằn học vẻ tàn nhẫn. Nào có ai quan tâm đến số phận của một tên sát nhân, ngoại trừ kẻ đao phủ chờ nhận tiền công?

Đó là những suy nghĩ đầu tiên của tôi; nhưng chẳng mấy chốc tôi được biết ông Kirwin đã dành cho tôi sự quan tâm vô cùng tử tế. Ông đã cho sắp xếp căn phòng tốt nhất trong nhà giam để tôi ở (dù phòng tốt nhất cũng thật tồi tàn); và chính ông là người đã thuê bác sĩ lẫn y tá. Quả thực, ông rất ít khi đến thăm tôi; bởi dẫu khao khát cháy bỏng được xoa dịu nỗi đau của mọi sinh linh, ông lại chẳng muốn chứng kiến những cơn quằn quại và tiếng la hét điên dại của một kẻ sát nhân. Do đó, ông chỉ thỉnh thoảng ghé qua để xem tôi có bị bỏ mặc hay không; nhưng những chuyến thăm của ông rất ngắn và cách nhau một khoảng thời gian dài.

Một hôm, khi tôi đang dần bình phục, tôi ngồi trên ghế, đôi mắt nhấp nháy nửa nhắm nửa mở, đôi má xám ngoét như người chết, tôi bị u sầu và khốn khổ bủa vây, rồi thầm nghĩ thà tìm đến cái chết còn hơn cứ bị giam cầm khốn khổ chỉ để rồi được phóng thích ra một thế giới đầy rẫy những đoạn trường. Có lúc tôi cân nhắc xem có nên nhận tội và chịu hình phạt của pháp luật hay không, dù sao thì tôi còn đỡ tội lỗi hơn cả tội nghiệp Justine. Đang miên man suy nghĩ thì cửa phòng bật mở và ông Kirwin bước vào. Khuôn mặt ông phô bày vẻ đồng cảm và trắc ẩn; ông kéo một chiếc ghế lại gần ghế tôi và cất tiếng bằng tiếng Pháp—

“Tôi e rằng nơi này thật kinh khủng đối với ngài; tôi có thể làm gì để giúp ngài thoải mái hơn không?”

“Tôi cảm ơn ngài; nhưng tất cả những gì ngài vừa đề cập chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả: trên cõi đời này chẳng còn chút anủi nào mà tôi có thể đón nhận nổi nữa.”

“Tôi biết sự đồng cảm của một kẻ xa lạ chẳng thể xoa dịu được bao nhiêu cho một người đang oằn mình gánh chịu tai họa kỳ lạ nhường này. Nhưng tôi hy vọng ngài sẽ sớm rời khỏi chốn u ám này; bởi chắc chắn, người ta có thể dễ dàng đưa ra các bằng chứng để minh oan cho ngài khỏi tội danh hình sự.”

“Đó là điều tôi ít bận tâm nhất: qua một chuỗi sự kiện kỳ quái, tôi đã trở thành kẻ khốn cùng nhất trong số những người phàm. Bị bức hại và tra tấn thế này và mãi thế này, liệu cái chết còn có thể là tai họa với tôi nữa sao?”

“Quả thực chẳng có gì bất hạnh và đau đớn hơn những sự cố trớ trêu vừa xảy ra gần đây. Ngài đã bị dạt vào bờ biển này bởi một tai nạn bất ngờ nào đó, nơi vốn nổi tiếng vì lòng hiếu khách: để rồi lập tức bị bắt giam và buộc tội giết người. Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt ngài lại chính là thi thể của người bạn, bị sát hại theo một cách không sao hiểu nổi, và được đặt chắn ngang lối đi của ngài, tựa như do một con quái ác nào đó sắp đặt.”

Khi ông Kirwin nói những lời đó, bất chấp sự chấn động mà tôi phải chịu đựng khi nhớ lại những đớn đau vừa qua, tôi cũng cảm thấy vô cùng ngạc nhiên trước sự hiểu biết mà dường như ông đang có về tôi. Tôi đoán vẻ kinh ngạc đã hiện lên trên mặt mình; nên ông Kirwin vội vàng tiếp lời—p

“Phải đến một hoặc hai ngày sau khi ngài đổ bệnh, tôi mới nghĩ đến việc lục lọi y phục của ngài, nhằm tìm ra manh mối nào đó để gửi thư báo về cho gia đình ngài biết về tai họa và cơn bệnh của ngài. Tôi tìm thấy vài lá thư, và trong số đó, qua những dòng đầu tiên, tôi nhận ra có một bức thư từ cha ngài. Tôi lập tức viết thư về Geneva: gần hai tháng đã trôi qua kể từ ngày bức thư của tôi đi rồi.—Nhưng ngài đang mệt; ngay lúc này ngài vẫn còn run rẩy: ngài không hợp với bất kỳ sự kích động nào đâu.”

“Sự giằng xé chờ đợi này tồi tệ hơn gấp ngàn lần so với một biến cố kinh hoàng nhất: xin hãy nói cho tôi biết màn kịch chết chóc nào vừa mới diễn ra, và tôi giờ đây phải khóc thương cho cái chết của ai.”

“Gia đình ngài hoàn toàn khỏe mạnh,” ông Kirwin dịu dàng nói; “và có ai đó, một người bạn, đã đến thăm ngài.”

Tôi chẳng biết chuỗi suy nghĩ nào đã dẫn dắt ý nghĩ ấy xuất hiện, nhưng nó lập tức xẹt qua tâm trí tôi rằng kẻ sát nhân đã đến để nhạo báng nỗi thống khổ của tôi, chế giễu cái chết của Clerval nhằm khơi gợi thêm động lực để tôi khuất phục trước những ham muốn ma quỷ của hắn. Tôi đưa tay che mắt và gào lên trong đau đớn—

“Ồ! Đưa hắn đi đi! Tôi không thể nhìn thấy hắn; vì Chúa, xin đừng để hắn bước vào!”

Ông Kirwin đăm đăm nhìn tôi với vẻ mặt bối rối. Ông không thể không coi tiếng kêu ấy là bằng chứng cho tội lỗi của tôi, và cất giọng có phần nghiêm khắc—

“Tôi cứ nghĩ rằng, thanh niên kia, sự hiện diện của cha ngài phải là điều đáng mong đợi, chứ sao lại khơi gợi sự chán ghét dữ dội đến thế.”

“Cha tôi!” tôi hét lên, trong khi mọi đường nét và cơ bắp trên mặt dãn ra từ nỗi đớn đau sang niềm sung sướng. “Cha tôi thực sự đã đến ư? Thật tử tế, vô cùng tử tế. Nhưng ngài ấy ở đâu, sao ngài ấy không mau chóng đến với tôi?”

Sự thay đổi thái độ đột ngột của tôi vừa khiến quan tòa ngạc nhiên vừa làm ông hài lòng; có lẽ ông nghĩ rằng tiếng kêu ban nãy chỉ là một phút mê sảng chợt lóe lên, và giờ đây ông lập tức lấy lại vẻ nhân hậu ban đầu. Ông đứng dậy, cùng y tá bước ra ngoài, và chỉ một khoảnh khắc sau, cha tôi bước vào phòng.

Vào khoảnh khắc ấy, không gì có thể mang lại cho tôi niềm hạnh phúc lớn lao hơn sự xuất hiện của cha. Tôi vươn tay ra về phía ông và kêu lên:

“Cha vẫn bình an chứ — còn Elizabeth và Ernest nữa?”

Cha tôi trấn an tôi bằng những lời khẳng định về sự bình an của mọi người, và cố gắng vực dậy tinh thần đang rệu rã của tôi bằng cách xoáy sâu vào những chủ đề vô cùng thân thuộc với trái tim tôi; nhưng ông sớm nhận ra nhà giam chẳng thể nào là chốn bình yên vui vẻ. “Con nhìn lại cái nơi con đang sống mà xem, con trai ta!” ông vừa nói vừa nhìn đăm đăm đầy đau đớn vào những ô cửa sổ có chấn song cùng vẻ tiêu điều của căn phòng. “Con đã đi xa để tìm kiếm hạnh phúc, nhưng hình như có một định mệnh nghiệt ngã vẫn luôn bám đuổi con. Và tội nghiệp Clerval—”

Cái tên của người bạn bất hạnh đã bỏ mạng dưới tay hung thủ là một đả kích quá lớn đối với cơ thể yếu ớt của tôi; tôi trào nước mắt.

“Thưa cha, vâng ạ!” tôi đáp; “một định mệnh khủng khiếp nào đó cứ đeo bám con, và con buộc phải sống để hoàn thành nó, nếu không chắc con đã chết ngay trên cỗ quan tài của Henry rồi.”

Chúng tôi không được phép trò chuyện lâu, bởi tình trạng sức khỏe mong manh của tôi đòi hỏi phải tuân thủ mọi biện pháp phòng ngừa nhằm đảm bảo sự tịnh dưỡng. Ông Kirwin bước vào và kiên quyết yêu cầu không được để sức khỏe của tôi kiệt quệ vì vận động quá sức. Nhưng sự xuất hiện của cha chẳng khác nào thiên thần hộ mệnh đối với tôi, và sức khỏe của tôi cứ thế dần hồi phục.

Khi cơn bệnh dứt hẳn, tôi chìm đắm trong nỗi u sầu đen tối và cô quạnh chẳng gì xua tan nổi. Hình ảnh Clerval cứ hiện hoài trước mắt tôi, xanh xao và đẫm máu. Không chỉ một lần, những chấn động mà luồng suy nghĩ đó mang lại đã khiến bạn bè tôi phải khiếp sợ rằng tôi sẽ tái phát cơn bệnh nguy hiểm. Than ôi! Sao họ lại phải gìn giữ một sinh mạng khốn cùng và đáng nguyền rủa đến thế? Chắc chắn là để tôi hoàn thành định mệnh của mình, thứ giờ đây đang đi hồi kết. Chẳng mấy chốc, ồ, rất nhanh thôi, cái chết sẽ dập tắt những nhịp đập này và giải thoát tôi khỏi gánh nặng đau đớn khổng lồ đang kéo sập tôi xuống bụi đất; và khi thi hành bản án của công lý, tôi cũng sẽ được chìm vào giấc ngủ ngàn thu. Khi ấy, sự xuất hiện của cái chết hãy còn xa vời, dẫu mong mỏi ấy vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí tôi; và tôi thường ngồi hàng giờ bất động lặng câm, ao ước một cuộc đại biến động nào đó có thể chôn vùi cả tôi lẫn kẻ hủy diệt tôi trong đống đổ nát.

Mùa xử án đã đến. Tôi đã ở trong tù được ba tháng; và dẫu vẫn còn yếu ớt, lại luôn đứng trước nguy cơ tái phát bệnh bất cứ lúc nào, tôi vẫn buộc phải di chuyển gần một trăm dặm để đến thị trấn hạt, nơi tòa án mở phiên xét xử. Ông Kirwin đã tự tay gánh vác mọi việc từ thu thập nhân chứng cho đến sắp xếp biện hộ cho tôi. Tôi đã may mắn thoát khỏi nỗi nhục nhã phải ra trước công chúng với tư cách một tên tội phạm, bởi vụ án không được đưa ra trước hội đồng xét xử sinh tử. Đại bồi thẩm đoàn đã bác bỏ bản cáo trạng sau khi có bằng chứng chứng minh tôi có mặt ở Quần đảo Orkney vào đúng thời điểm người ta tìm thấy thi thể bạn tôi, và một tuần rưỡi sau khi chuyển trại, tôi được phóng thích khỏi nhà giam.

Cha tôi vô cùng sung sướng khi thấy tôi được giải thoát khỏi cáo buộc hình sự, rằng tôi lại được hít thở bầu không khí trong lành và được phép trở về quê hương. Tôi không hề chung niềm vui ấy; bởi đối với tôi, tường giام hay cung điện cũng đều đáng ghét như nhau. Chén thuốc độc cuộc đời đã ngấm vào tôi vĩnh viễn; và dẫu ánh mặt trời vẫn chiếu rọi lên tôi hệt như bao kẻ hạnh phúc và yêu đời khác, trước mắt tôi chẳng có gì ngoài một màn đêm đặc quánh và đáng sợ, chẳng bị xé rách bởi bất kỳ ánh sáng nào ngoại trừ ánh chớp từ đôi tròng mắt đang trừng trừng nhìn tôi. Có lúc đó là đôi mắt đầy biểu cảm của Henry, đang lả đi trong cái chết, hai tròng mắt đen suýt bị che khuất bởi hàng mi dài đen nhánh; có lúc lại là đôi mắt ướt át đục ngầu của con quái vật, hệt như lần đầu tiên tôi nhìn thấy chúng trong căn phòng ở Ingolstadt.

Cha tôi cố gắng khơi gợi lại tình cảm trong tôi. Ông nhắc đến Geneva, nơi tôi sắp sửa ghé thăm — nhắc đến Elizabeth và Ernest; nhưng những lời đó chỉ rút ra từ lồng ngực tôi những tiếng rên rỉ não nề. Quả thực, có những lúc tôi khao khát hạnh phúc; và nghĩ về người em họ dấu yêu với nỗi niềm hân hoan u sầu; hoặc thèm khát đến cháy lòng cơn hoài hương bệnh hoạn (*maladie du pays*), ao ước được ngắm nhìn lần nữa hồ nước xanh biếc và dòng sông Rhone cuồn cuộn, những thứ từng vô cùng thân thuộc với tôi thuở ấu thơ: nhưng trạng thái cảm xúc chung của tôi vẫn là sự tê dại, nơi mà một phòng giam cũng dễ chịu chẳng kém gì khung cảnh tuyệt trần nhất của tự nhiên; và những cơn mê sảng ấy hiếm khi bị gián đoạn, ngoại trừ những bận bùng phát nỗi thống khổ và tuyệt vọng. Trong những khoảnh khắc đó, tôi thường tìm cách chấm dứt sự tồn tại mà mình căm ghét; và người ta phải túc trực lẫn cảnh giác không ngừng nghỉ mới ngăn được tôi thực hiện những hành vi bạo lực khủng khiếp.

Tôi nhớ khi bước ra khỏi nhà giam, tôi nghe thấy một gã đàn ông nói: “Hắn có thể vô tội trong vụ án mạng, nhưng chắc chắn hắn có một lương tâm nhơ nhuốc.” Những lời đó xoáy sâu vào tôi. Lương tâm nhơ nhuốc! Vâng, quả thực tôi có một lương tâm như thế. William, Justine và Clerval đã bỏ mạng bởi những mưu đồ địa ngục của tôi; “Và cái chết của ai,” tôi thét lên, “sẽ khép lại vở kịch này? Ảo thay! Cha ơi, xin đừng nán lại đất nước khốn khổ này nữa; hãy đưa con đến nơi con có thể quên đi chính mình, sự tồn tại của con và cả thế giới này.”

Cha tôi dễ dàng đồng ý với mong muốn của tôi; và sau khi từ biệt ông Kirwin, chúng tôi vội vã lên đường đến Dublin. Tôi cảm thấy như trút được một gánh nặng ngàn cân khi con tàu buồm xuôi theo gió thuận rời khỏi Ireland, và tôi đã vĩnh viễn bỏ lại sau lưng xứ sở từng là sân khấu cho bao nỗi đoạn trường của đời mình.

Đó là lúc nửa đêm. Cha tôi ngủ trong khoang tàu; còn tôi nằm trên boong, ngắm nhìn những vì sao và lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rào. Tôi chào đón màn đêm đã che khuất Ireland khỏi tầm mắt, và nhịp đập trong ngực tôi rộn lên niềm vui sốt sắng khi nghĩ rằng chẳng mấy chốc mình sẽ thấy lại Geneva. Quá khứ hiện lên trước mắt tôi tựa như một giấc mơ hãi hùng; thế nhưng con chiếc tàu tôi đang đi, cơn gió thổi tôi rời xa bờ biển Ireland đáng nguyền rủa, cùng biển cả bao bọc xung quanh, đang nhắc nhở tôi quá đỗi rõ ràng rằng tôi không hề bị ảo ảnh đánh lừa, và rằng Clerval, người bạn kiêm tri kỷ dấu yêu của tôi, đã ngã xuống làm nạn nhân cho tôi và con quái vật do chính tay tôi tạo ra. Tôi nhẩm lại trong ký ức toàn bộ cuộc đời mình; niềm hạnh phúc yên bình khi sống cùng gia đình ở Geneva, cái chết của mẹ tôi, và chuyến đi đến Ingolstadt. Tôi nhớ lại cơn rùng mình trước sự cuồng nhiệt điên cuồng đã thúc đẩy tôi tạo ra kẻ thù gớm ghiếc ấy, và tôi gọi về ký ức đêm đầu tiên hắn cất tiếng khóc chào đời. Tôi không sao tiếp tục chuỗi suy nghĩ ấy nổi; hàng ngàn cảm xúc trào dâng và tôi òa khóc nức nở.

Kể từ khi khỏi bệnh sốt, tôi có thói quen dùng một lượng nhỏ thuốc phiện (*laudanum*) mỗi đêm; bởi chỉ nhờ thứ dược chất này tôi mới có thể chợp mắt để duy trì sự sống. Bị đè nặng bởi ký ức về muôn vàn bất hạnh, lần này tôi chơi hẳn liều gấp đôi và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu. Nhưng giấc ngủ chẳng hề mang lại cho tôi sự ngơi nghỉ khỏi những suy nghĩ và khốn khổ; giấc chiêm bao vẽ ra hàng ngàn hình thù khiến tôi khiếp vía. Gần sáng, tôi bị một thứ ác mộng bủa vây; tôi cảm nhận được bàn tay con quái vật đang bấu chặt lấy cổ mình và chẳng tài nào thoát ra nổi; những tiếng rên rỉ và gào thét vang dội bên tai. Cha tôi, người vẫn túc trực chăm nom tôi, nhận thấy tôi trằn trọc không yên bèn lay tôi tỉnh giấc, rồi chỉ về phía hải khẩu Holyhead mà chúng tôi đang chuẩn bị cập bến.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Mary Wollstonecraft Shelley

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.