“Đó là câu chuyện về những người dân trong căn nhà tranh mà tôi hằng yêu quý. Nó đã lay động tâm can tôi sâu sắc. Từ bức tranh đời sống xã hội mở ra trước mắt, tôi học được cách ngưỡng mộ những đức hạnh cao đẹp và ghê tởm những thói xấu xa của cõi nhân gian.
Cho tới bấy giờ, tội ác đối với tôi vẫn chỉ là một mối họa xa vời; lòng nhân hậu và sự hào hiệp luôn hiển hiện trước mắt, khơi dậy trong tôi niềm khao khát được bước vào vũ đài nhộn nhịp kia, nơi muôn vàn phẩm chất đáng khâm phục ấy được thể hiện và ngợi ca. Nhưng để tường thuật tiến trình phát triển trí tuệ của mình, tôi không thể bỏ qua một biến cố xảy ra vào đầu tháng Tám năm đó.
Một đêm nọ, như thường lệ, tôi vào khu rừng gần đó để kiếm thức ăn cho mình và mang củi về cho những người che chở tôi, thì thấy trên mặt đất có một chiếc vali da chứa vài món y phục cùng mấy cuốn sách. Tôi vội vã chộp lấy chiến lợi phẩm rồi quay về căn chòi lụp xụp. May mắn thay, những cuốn sách ấy được viết bằng thứ ngôn ngữ mà tôi đã học lỏm được những nét căn bản tại gian nhà tranh; chúng gồm cuốn ‘Thiên đường đã mất’, một tập ‘Danh nhân Hy-La truyện’ của Plutarch, và ‘Nỗi đau của chàng Werther’. Sở hữu được những kho báu này, tôi mừng vui khôn xiết; từ đó, tôi không ngừng nghiền ngẫm và vận dụng trí não vào các câu chuyện ấy trong khi những người bạn của tôi bận bịu với công việc thường nhật.
Tôi khó lòng diễn tả hết được sức ảnh hưởng của những cuốn sách này đối với bản thân. Chúng gợi lên trong tôi vô vàn hình ảnh và cảm xúc mới mẻ, đôi khi đưa tôi lên đỉnh điểm của niềm ngây ngất, nhưng thường xuyên hơn lại dìm tôi xuống tận cùng của nỗi chán chường. Trong ‘Nỗi đau của chàng Werther’, ngoài sức hấp dẫn từ câu chuyện giản dị mà xúc động, tác phẩm còn mổ xẻ bao quan điểm và soi rọi biết bao điều trước nay tôi hằng mù mịt, biến cuốn sách thành nguồn suy tưởng và kinh ngạc bất tận cho tôi. Nếp sống gia đình êm ả, dịu dàng được miêu tả nơi đây, kết hợp cùng những tâm tình và xúc cảm cao thượng hướng tới những điều vượt ra ngoài bản thân, hoàn toàn tương đồng với những gì tôi trải nghiệm bên cạnh những người che chở mình, cũng như với những khát khao khôn nguôi trong lồng ngực tôi. Song tôi thấy chính bản thân Werther còn là một sinh linh thần thánh hơn bất cứ ai tôi từng thấy hay tưởng tượng; nhân cách của chàng chẳng chút giả tạo mà vô cùng sâu sắc. Những luận bàn về cái chết và sự tự sát khiến tôi không khỏi bàng hoàng. Tôi không dám phán xét đúng sai, nhưng lại nghiêng lòng theo quan điểm của người anh hùng, và đã rơi lệ trước cái chết của chàng mà chưa thực sự hiểu thấu.
Tuy nhiên, khi đọc, tôi lại liên hệ rất nhiều tới cảm xúc và hoàn cảnh của riêng mình. Tôi nhận thấy mình vừa tương đồng, lại vừa khác biệt đến kỳ lạ với những con người tôi được đọc và những kẻ tôi từng lắng nghe trò chuyện. Tôi đồng cảm và hiểu họ phần nào, nhưng tâm trí tôi vẫn chưa định hình; tôi chẳng phụ thuộc vào ai, cũng chẳng có mối ràng buộc với bất kỳ người nào. ‘Đường đi lối về của tôi hoàn toàn tự do’, và chẳng có một ai rơi lệ nếu tôi có tan biến khỏi cõi đời. Dung mạo tôi gớm ghiếc, vóc dáng lại khổng lồ. Thế này là cớ làm sao? Tôi là ai? Tôi là thứ gì? Tôi từ đâu tới? Đích đến của tôi là đâu? Những câu hỏi ấy cứ chập chờn trở lại, nhưng tôi hoàn toàn bất lực không sao giải đáp nổi.
Tập ‘Danh nhân Hy-La truyện’ của Plutarch mà tôi có được ghi chép lịch sử của những bậc sáng lập nên các nền cộng hòa cổ đại. Cuốn sách này mang lại cho tôi một tác động hoàn toàn khác so với ‘Nỗi đau của chàng Werther’. Trí tưởng tượng của Werther dạy tôi nỗi tuyệt vọng và u sầu; nhưng Plutarch lại truyền cho tôi những tư tưởng khoáng đạt; ông nâng tôi thoát khỏi vòng xoáy hèn mọn của những suy tư cá nhân để chiêm ngưỡng và yêu mến các bậc anh hùng thời quá vãng. Nhiều điều tôi đọc được vượt xa hiểu biết và trải nghiệm của tôi. Tôi chỉ có một nhận thức hết sức mơ hồ về các vương quốc, những dải đất bao la, những dòng sông hùng vĩ và biển cả khôn cùng. Tôi hoàn toàn xa lạ với phố thị và những chốn tụ họp đông đúc của con người. Căn nhà tranh của những người che chở tôi chính là trường học duy nhất để tôi nghiên cứu bản tính nhân loại; nhưng cuốn sách này đã mở ra những khung cảnh hành động mới mẻ và dữ dội hơn nhiều. Tôi đọc về những con người dấn thân vào việc công, cai trị hoặc tàn sát đồng loại. Tôi cảm thấy lòng tràn trề nhiệt huyết hướng về điều thiện và ghê tởm cái ác, trong chừng mực tôi hiểu được ý nghĩa của những khái niệm ấy, vốn dĩ khi áp dụng vào bản thân, tôi chỉ gắn chúng với niềm vui sướng và nỗi đau đớn mà thôi. Được dẫn dắt bởi những cảm xúc này, lẽ tự nhiên là tôi ngưỡng mộ những nhà lập pháp chuộng hòa bình như Numa, Solon và Lycurgus hơn là Romulus và Theseus. Nếp sống thuần hậu, chất phác của những người che chở tôi đã khiến những ấn tượng ấy bám rễ sâu vào tâm trí; giá như bài học vỡ lòng về nhân loại được truyền dạy bởi một người lính trẻ hừng hực khát khao vinh quang và chém giết, có lẽ tôi đã thấm nhuần những cảm thức hoàn toàn khác biệt.
Nhưng cuốn ‘Thiên đường đã mất’ lại khơi dậy những xúc cảm khác hẳn và sâu sắc hơn nhiều. Cũng như những cuốn sách khác tình cờ có được, tôi đọc nó như một thiên lịch sử có thật. Nó khuấy động mọi cảm xúc kinh ngạc và kính sợ mà bức tranh về một Thượng đế toàn năng giao chiến với các tạo vật của Ngài có thể gợi nên. Tôi thường liên hệ những hoàn cảnh khác nhau trong sách với chính bản thân mình khi thấy nét tương đồng hiện rõ. Tựa như Adam, dường như tôi chẳng có mối dây liên kết nào với bất kỳ tạo vật nào khác trên đời; song trên mọi phương diện, tình cảnh của chàng lại khác xa tôi. Chàng bước ra từ bàn tay Thượng đế như một tạo vật hoàn hảo, sung sướng và phồn vinh, được chở che dưới sự chăm sóc đặc biệt của Đấng Tạo Hóa; chàng được phép trò chuyện và tiếp thu tri thức từ các đấng bậc siêu phàm: còn tôi thì khốn cùng, bất lực và cô độc. Đã bao lần tôi thấy Satan mới là biểu tượng thích hợp hơn cho thân phận mình; bởi cũng như hắn, mỗi khi nhìn thấy niềm hạnh phúc của những người che chở tôi, nỗi ghen ghét đắng cay lại trào dâng trong lòng.
Một tình huống khác càng củng cố và khắc sâu thêm những xúc cảm ấy. Chẳng bao lâu sau khi tới ẩn náu tại căn chòi, tôi phát hiện vài tờ giấy trong túi chiếc áo mà tôi đã lấy từ phòng thí nghiệm của ông. Ban đầu tôi chẳng buồn bận tâm; nhưng giờ đây, khi đã đọc được các ký tự viết trên đó, tôi bắt đầu dốc lòng nghiên cứu. Đó chính là cuốn nhật ký của ông trong suốt bốn tháng trước ngày tạo ra tôi. Trên những trang giấy này, ông đã ghi chép tỉ mỉ từng bước tiến hành công việc; câu chuyện ấy đan xen với những sự việc diễn ra trong gia đình. Chắc hẳn ông vẫn nhớ những trang giấy này. Chúng ở đây. Mọi sự liên quan đến nguồn gốc đáng nguyền rủa của tôi đều được kể lại; toàn bộ chuỗi tình tiết ghê tởm tạo ra tôi đều phơi bày rõ mồn một; dung mạo gớm ghiếc, đáng tởm của tôi được miêu tả đến từng chân tơ kẽ tóc, bằng thứ ngôn từ lột tả nỗi kinh hoàng của chính ông, đồng thời biến nỗi kinh hoàng trong tôi thành vết thương vĩnh viễn không phai. Đọc đến đâu, tôi ghê tởm đến đấy. ‘Khốn nạn thay cho cái ngày ta nhận lấy sự sống!’ tôi thốt lên trong đau đớn quằn quại. ‘Kẻ sáng tạo đáng nguyền rủa! Cớ sao ông lại nặn ra một con quái vật gớm ghiếc đến mức chính ông cũng phải ngoảnh mặt đi vì kinh tởm? Vì lòng thương xót, Thượng đế đã tạo ra con người xinh đẹp, quyến rũ theo hình ảnh của Ngài; còn hình hài của ta lại là một bản sao nhơ nhuốc từ ông, càng ghê rợn hơn chính bởi sự tương đồng ấy. Ngay cả Satan cũng có bè lũ quỷ dữ để ngưỡng mộ và khích lệ hắn; còn ta thì đơn độc và bị ghét bỏ muôn phần.’
Đó là những suy ngẫm trong những giờ phút tuyệt vọng và cô đơn của tôi; song mỗi khi chiêm ngưỡng đức hạnh của những người trong căn nhà tranh, cùng bản tính hòa nhã và nhân từ của họ, tôi lại tự nhủ rằng khi họ nhận ra lòng ngưỡng mộ của tôi đối với đức hạnh ấy, họ sẽ thương hại tôi mà bỏ qua cho vẻ ngoài dị dạng. Lẽ nào họ lại nhẫn tâm xua đuổi khỏi cửa một kẻ cầu xin lòng trắc ẩn và tình bầu bạn, dẫu cho kẻ ấy có kỳ quái đến đâu? Tôi quyết tâm ít nhất cũng không được tuyệt vọng, mà phải dốc lòng chuẩn bị cho một cuộc diện kiến định đoạt số phận mình. Tôi đã trì hoãn ý định này thêm vài tháng; bởi tầm quan trọng sống còn của việc này khiến tôi nơm nớp lo sợ thất bại. Hơn nữa, nhận thấy hiểu biết của mình ngày càng tiến bộ theo trải nghiệm mỗi ngày, tôi không muốn mạo hiểm cho tới khi có thêm vài tháng nữa để trui rèn sự khôn ngoan.
Trong thời gian đó, tại căn nhà tranh đã diễn ra một vài thay đổi. Sự hiện diện của Safie đã lan tỏa niềm hạnh phúc đến mọi người; tôi cũng nhận thấy cảnh sống nơi đây đã đủ đầy hơn trước. Felix và Agatha dành nhiều thời gian hơn để giải khuây và trò chuyện, lại có thêm người hầu đỡ đần công việc. Họ tuy không giàu có nhưng bằng lòng và hạnh phúc; tâm hồn họ thanh thản, bình yên, trong khi lòng tôi ngày một thêm dông bão. Càng có nhiều hiểu biết, tôi lại càng nhận thức rõ hơn mình chỉ là một kẻ cùng khổ bị ruồng bỏ. Đúng là tôi vẫn ấp ủ hy vọng; nhưng niềm hy vọng ấy tan biến ngay khi tôi nhìn thấy bóng hình mình phản chiếu dưới làn nước hay chiếc bóng in trên nền ánh trăng, cũng mong manh và chập chờn như chính chiếc bóng ấy.
Tôi cố gắng đè bẹp những nỗi sợ hãi ấy và tiếp thêm sức mạnh cho bản thân trước thử thách mà tôi quyết tâm dấn bước sau vài tháng nữa; đôi lúc, tôi để mặc cho tâm trí vượt ra ngoài vòng kiểm tỏa của lý trí, phiêu lãng nơi những cánh đồng Địa Đàng, dám mộng tưởng về những sinh linh khả ái, dịu dàng biết đồng cảm với nỗi lòng tôi và xua tan nỗi sầu muộn; gương mặt tựa thiên thần của họ toát lên những nụ cười an ủi. Nhưng tất cả chỉ là ảo mộng; chẳng có nàng Eva nào xoa dịu nỗi đau hay sẻ chia tâm sự cùng tôi; tôi hoàn toàn trơ trọi. Tôi nhớ lại lời cầu xin của Adam gửi tới Đấng Tạo Hóa. Nhưng Đấng Tạo Hóa của tôi đâu rồi? Ông ta đã ruồng bỏ tôi, và trong nỗi cay đắng ngút ngàn, tôi nguyền rủa ông ta.
Mùa thu cứ thế trôi qua. Tôi nhìn những chiếc lá úa tàn rồi rụng xuống với nỗi ngạc nhiên và tiếc nuối; thiên nhiên lại khoác lên mình vẻ trơ trụi, ảm đạm như thuở đầu tiên tôi nhìn thấy cánh rừng và vầng trăng tuyệt mỹ. Dẫu vậy, tôi chẳng hề bận tâm tới thời tiết lạnh lẽo; cấu tạo cơ thể giúp tôi chịu rét giỏi hơn chịu nóng. Nhưng niềm vui lớn nhất của tôi là được ngắm nhìn hoa cỏ, chim muông cùng tất cả vẻ rực rỡ của mùa hè; khi những thứ ấy rời bỏ tôi, tôi lại hướng sự chú ý nhiều hơn về phía những người trong căn nhà tranh. Niềm hạnh phúc của họ chẳng hề suy giảm khi mùa hè qua đi. Họ yêu thương và sẻ chia cùng nhau; niềm vui gắn kết khăng khít ấy không hề bị gián đoạn bởi những biến cố bất ngờ xảy ra xung quanh. Càng quan sát họ, khát khao nhận được sự chở che và lòng tốt từ họ trong tôi càng lớn; trái tim tôi thổn thức muốn được những tạo vật đáng mến ấy thấu hiểu và yêu thương: nhìn thấy ánh mắt dịu dàng tràn đầy tình cảm của họ hướng về phía mình là tột cùng tham vọng của tôi. Tôi chẳng dám nghĩ rằng họ sẽ quay lưng lại với vẻ khinh miệt và ghê sợ. Những người nghèo dừng chân trước cửa nhà họ chưa từng bị xua đuổi. Đúng là tôi đòi hỏi một kho báu lớn hơn nhiều so với chút thức ăn hay chỗ nghỉ ngơi: tôi cầu xin lòng tốt và sự cảm thông; nhưng tôi không tin rằng mình hoàn toàn không xứng đáng có được điều đó.
Mùa đông kéo đến, và một vòng tuần hoàn trọn vẹn của bốn mùa đã trôi qua kể từ ngày tôi thức tỉnh bước vào cuộc sống. Lúc này, toàn bộ tâm trí tôi đều hướng về kế hoạch diện kiến những người che chở mình trong căn nhà tranh. Tôi đã toan tính nhiều cách; nhưng kế hoạch cuối cùng tôi chọn là bước vào nhà khi ông lão mù ở lại một mình. Tôi đủ tỉnh táo để nhận ra rằng sự xấu xí dị hợm trên thân thể mình chính là căn nguyên nỗi kinh hoàng của những kẻ từng trông thấy tôi. Giọng nói của tôi tuy khàn đặc nhưng chẳng có gì đáng sợ; do đó, tôi nghĩ nếu nhân lúc các con ông vắng nhà mà chiếm được thiện cảm cùng sự giúp đỡ của ông lão De Lacey, thì nhờ ông, những người trẻ tuổi kia có thể sẽ dung thứ cho tôi.
Một ngày nọ, khi ánh mặt trời rọi xuống những chiếc lá đỏ trải đầy mặt đất, lan tỏa vẻ tươi vui dẫu chẳng đem lại chút hơi ấm nào, Safie, Agatha và Felix cùng nhau đi dạo một chuyến thật xa về phía đồng quê, còn ông lão, theo ý nguyện của riêng mình, ở lại một mình trong căn nhà tranh. Khi các con đã rời đi, ông cầm cây đàn ghi-ta lên rồi gảy vài khúc điệu u buồn mà êm dịu, ngọt ngào và ai oán hơn bất cứ giai điệu nào tôi từng nghe ông đàn trước đây. Ban đầu, gương mặt ông bừng sáng vẻ hoan hỉ, nhưng càng về sau, nét trầm ngâm và u sầu lại dần xâm chiếm; cuối cùng, ông đặt nhạc cụ sang một bên rồi ngồi lặng người trong dòng suy tưởng.
Tim tôi đập thình thịch; đây chính là thời khắc quyết định, giây phút sẽ biến những hy vọng của tôi thành hiện thực hoặc hiện thực hóa những nỗi sợ hãi tột cùng. Đám người hầu đã đi dự hội chợ ở làng bên. Khắp trong ngoài căn nhà tranh đều vắng lặng như tờ: đây là một cơ hội tuyệt hảo; thế nhưng khi chuẩn bị thực hiện kế hoạch, chân tay tôi bủn rủn, cả người quỵ xuống đất. Tôi gượng đứng dậy; gom hết mọi sự can trường có thể, tôi dỡ những tấm ván đã dựng trước chòi để che giấu nơi ẩn náu. Luồng không khí trong lành giúp tôi tỉnh táo lại, và với quyết tâm sắt đá, tôi tiến lại gần cánh cửa căn nhà tranh.
Tôi gõ cửa. ‘Ai đó?’ ông lão hỏi—‘Mời vào.’
Tôi bước vào; ‘Xin tha thứ cho sự đường đột này,’ tôi nói: ‘Tôi là một lữ khách đang cần nghỉ ngơi đôi chút; ông sẽ làm ơn cho tôi rất nhiều nếu cho phép tôi ngồi sưởi bên bếp lửa vài phút.’
‘Cứ vào đi,’ De Lacey nói; ‘để tôi xem có thể giúp gì được cho anh; nhưng không may là các con tôi đều đi vắng, mà mắt tôi lại mù lòa, e rằng khó lòng kiếm cho anh chút gì ăn lót dạ.’
‘Xin chủ nhà tốt bụng đừng bận tâm, tôi có thức ăn rồi; tôi chỉ cần chút hơi ấm và chỗ nghỉ ngơi mà thôi.’
Tôi ngồi xuống, và một sự im lặng bao trùm. Tôi biết từng phút giây đều vô cùng quý giá, vậy mà vẫn ngập ngừng chưa biết mở đầu câu chuyện ra sao; đúng lúc đó thì ông lão lên tiếng—
‘Nghe giọng nói của anh, hỡi người khách lạ, tôi đoán anh là đồng hương của tôi;—anh là người Pháp phải không?’
‘Không phải; nhưng tôi được một gia đình người Pháp nuôi dạy, và chỉ hiểu được thứ ngôn ngữ này. Hiện giờ tôi đang trên đường tới cầu xin sự bảo bọc của vài người bạn mà tôi hết lòng yêu quý, và tôi cũng có đôi chút hy vọng vào lòng tốt của họ.’
‘Họ là người Đức ư?’
‘Không, họ là người Pháp. Nhưng xin hãy đổi chủ đề. Tôi là một sinh linh bất hạnh và bị bỏ rơi; nhìn quanh mình, tôi chẳng có người thân hay bạn bè nào trên cõi đời này. Những con người tốt bụng mà tôi sắp đến nương nhờ chưa từng nhìn thấy tôi, và cũng chẳng biết gì nhiều về tôi. Tôi nơm nớp lo sợ; bởi nếu thất bại nơi họ, tôi sẽ vĩnh viễn trở thành kẻ bị ruồng bỏ giữa trần gian.’
‘Đừng tuyệt vọng. Không có bạn bè quả là nỗi bất hạnh lớn; nhưng lòng người, khi không bị những tư lợi rõ ràng làm mù quáng, luôn tràn ngập tình bác ái và lòng thương xót. Vì thế, anh hãy cứ giữ vững niềm hy vọng; nếu những người bạn đó thực sự nhân từ và tốt bụng, anh chớ nên tuyệt vọng.’
‘Họ nhân hậu lắm—họ là những con người tuyệt vời nhất trên đời; nhưng trớ trêu thay, họ lại mang định kiến chống lại tôi. Tôi có tâm địa tốt lành; cuộc đời tôi từ trước đến nay chưa từng hại ai, thậm chí còn giúp ích phần nào; nhưng một định kiến tai hại đã che mờ mắt họ, và ở nơi đáng lẽ họ phải nhìn thấy một người bạn chân thành, giàu tình cảm, thì họ lại chỉ thấy một con quái vật đáng ghê tởm.’
‘Thế thì quả là đáng tiếc; nhưng nếu anh thực sự vô tội, lẽ nào anh không thể giãi bày để họ hiểu ra?’
‘Tôi đang chuẩn bị làm việc đó; và chính vì vậy mà tôi cảm thấy kinh hãi đến tột cùng. Tôi yêu quý những người bạn ấy tha thiết; tôi đã âm thầm làm việc tốt giúp họ mỗi ngày suốt nhiều tháng qua; nhưng họ lại đinh ninh rằng tôi muốn hãm hại họ, và đó chính là định kiến mà tôi muốn xóa bỏ.’
‘Những người bạn đó sống ở đâu?’
‘Ngay gần chốn này.’
Ông lão ngập ngừng một lát rồi tiếp lời, ‘Nếu anh bằng lòng giãi bày ngọn ngành câu chuyện của mình mà không giấu giếm, có lẽ tôi sẽ giúp anh làm cho họ hiểu ra. Tôi mù lòa nên chẳng thể nhìn rõ dung mạo anh, nhưng có điều gì đó trong lời nói khiến tôi tin rằng anh là người chân thật. Tôi tuy nghèo hèn và phải sống lưu vong; nhưng nếu có thể giúp ích được phần nào cho một đồng loại, điều đó sẽ mang lại cho tôi niềm an ủi thực sự.’
‘Hỡi con người cao quý! Tôi xin đội ơn ông và nhận lấy lời đề nghị hào hiệp này. Lòng tốt của ông đã nâng tôi dậy khỏi cát bụi; và tôi tin rằng nhờ sự giúp đỡ của ông, tôi sẽ không bị xua đuổi khỏi xã hội cùng tình thương của đồng loại.’
‘Xin Trời đừng để điều đó xảy ra! Kể cả khi anh thực sự có tội; bởi sự ruồng bỏ chỉ đẩy anh vào bước đường cùng quẫn, chứ chẳng thể hướng anh về nẻo thiện. Bản thân tôi cũng là kẻ chịu nhiều bất hạnh; tôi và gia đình đã bị kết tội dẫu hoàn toàn vô tội: vậy nên anh hãy tin rằng tôi thấu hiểu nỗi khốn cùng của anh đến nhường nào.’
‘Làm sao tôi có thể cảm tạ ông cho xiết, ân nhân duy nhất và tốt nhất của đời tôi? Từ đôi môi ông, lần đầu tiên tôi được nghe những lời nhân ái dành cho mình; tôi sẽ đời đời ghi nhớ ơn sâu; và lòng nhân từ lúc này của ông đã tiếp thêm niềm tin cho tôi vào sự thành công trước những người bạn mà tôi sắp sửa gặp gỡ.’
‘Tôi có thể biết tên và nơi ở của những người bạn ấy chăng?’
Tôi lặng người. Tôi nghĩ, đây chính là thời khắc quyết định, sẽ cướp đi hay ban tặng hạnh phúc vĩnh viễn cho tôi. Tôi cố gom hết can đảm để trả lời ông, nhưng nỗ lực ấy đã vắt kiệt chút sức tàn còn lại; tôi gục xuống ghế và òa khóc nức nở. Đúng lúc đó, tôi nghe thấy tiếng bước chân của những người trẻ tuổi trở về. Chẳng còn lấy một giây để do dự; tôi nắm chặt lấy tay ông lão, kêu lên, ‘Chính là lúc này đây!—xin hãy cứu giúp và chở che cho tôi! Ông và gia đình ông chính là những người bạn mà tôi đang tìm kiếm. Xin đừng ruồng bỏ tôi trong giờ phút sinh tử này!’
‘Trời đất ơi!’ ông lão thốt lên, ‘anh là ai?’
Đúng khoảnh khắc ấy, cánh cửa căn nhà tranh bật mở, Felix, Safie và Agatha bước vào. Ai có thể tả xiết nỗi kinh hoàng và bàng hoàng tột độ của họ khi nhìn thấy tôi? Agatha ngất lịm; còn Safie, chẳng còn tâm trí đâu để chăm sóc bạn mình, hoảng loạn lao vụt ra ngoài. Felix lao tới, dùng một sức mạnh phi thường giằng tôi ra khỏi người cha mà tôi đang ôm chặt lấy đầu gối: trong cơn thịnh nộ điên cuồng, chàng quật tôi ngã dúi dụi xuống đất rồi dùng gậy đập tôi tới tấp. Lẽ ra tôi đã có thể xé xác chàng ra từng mảnh, như sư tử xé toạc linh dương. Nhưng trái tim tôi chùng xuống trong nỗi đau đớn đắng cay, và tôi đã kìm mình lại. Thấy chàng sắp giáng tiếp một đòn nữa, trong nỗi đau đớn và quằn quại khôn cùng, tôi vội vã rời khỏi căn nhà tranh, rồi nhân lúc hỗn loạn, tôi lẩn trốn về căn chòi lụp xụp của mình mà không một ai hay biết.”