Frankenstein Hay Vị Thần Prometheus Hiện Đại

Lượt đọc: 480 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Nói Đầu

❊ ❊ ❊

Nhà xuất bản tuyển tập Standard Novels, khi chọn "Frankenstein" vào bộ sách của mình, đã ngỏ ý muốn tôi kể lại đôi nét về nguồn gốc câu chuyện. Tôi rất sẵn lòng đáp ứng, bởi đây cũng là dịp để tôi trả lời chung cho một thắc mắc mà người ta thường hay đặt ra: "Làm sao một cô gái trẻ như tôi thuở ấy lại nảy ra và dệt nên một ý tưởng rùng rợn đến nhường này?" Quả thực, tôi vốn rất e ngại việc phơi bày bản thân trên mặt giấy; song vì câu chuyện giãi bày này chỉ đóng vai trò như một phần phụ lục cho tác phẩm cũ, lại chỉ giới hạn trong những chuyện liên quan đến nghiệp cầm bút, nên tôi thấy mình khó có thể bị coi là kẻ tự tiện phô trương chuyện riêng tư.

Là con gái của hai bậc danh sĩ lẫy lừng trên văn đàn, việc tôi sớm có ý định cầm bút cũng chẳng phải điều gì lạ lẫm. Thuở ấu thơ, tôi đã tập tành viết lách; và thú tiêu khiển yêu thích nhất của tôi vào những giờ giải trí là "viết truyện". Dẫu vậy, tôi còn có một niềm say mê khác tha thiết hơn: xây những lâu đài trên cát, đắm mình trong những giấc mơ ngày, thả hồn theo những dòng suy tưởng dệt nên từ muôn vàn biến cố tưởng tượng nối tiếp nhau. Những giấc mộng ban ngày của tôi vừa kỳ ảo lại vừa thú vị hơn nhiều so với những trang viết. Khi viết, tôi chỉ là kẻ bắt chước gượng gạo—học đòi theo những gì người khác đã làm hơn là bộc lộ cảm quan từ chính tâm trí mình. Những dòng tôi viết ra cốt chỉ để cho một người khác đọc—người bạn thiết thuở thiếu thời; còn những giấc mộng ban ngày lại hoàn toàn thuộc về riêng tôi. Tôi chẳng phải giải trình chúng với bất kỳ ai; chúng là chốn nương náu lúc tôi phiền muộn, là niềm hoan lạc êm đềm nhất khi tôi được tự do.

Thời con gái, tôi chủ yếu sống ở miền quê và từng có quãng thời gian khá dài lưu lại Scotland. Thỉnh thoảng tôi cũng đến thăm những vùng đất thơ mộng hơn, nhưng nơi tôi thường xuyên cư ngụ lại là bờ bắc hoang sơ, ảm đạm của dòng sông Tay, gần Dundee. Giờ đây hồi tưởng lại, tôi gọi nơi ấy là hoang sơ và ảm đạm; chứ khi xưa trong mắt tôi, nó đâu có vẻ như vậy. Đó từng là tổ ấm của tự do, là miền đất êm ả nơi tôi có thể chẳng màng thế sự mà chuyện trò cùng muôn loài trong cõi tưởng tượng của riêng mình. Thuở ấy tôi cũng viết—nhưng bằng một thứ văn phong hết sức tầm thường. Chính dưới bóng cây trong vườn nhà, hay trên những triền núi trơ trọi cằn cỗi gần đó, những trước tác đích thực của tôi—những cánh bay bổng của trí tưởng tượng—mới được khai sinh và nuôi dưỡng. Tôi không bao giờ biến mình thành nữ nhân vật chính trong truyện. Cuộc đời riêng đối với tôi dường như quá đỗi phẳng lặng. Tôi chẳng thể hình dung nổi những bi kịch diễm tình hay các biến cố phi thường lại có ngày rơi trúng số phận mình; nhưng tôi không hề bị giam cầm trong chính bản ngã, và ở lứa tuổi ấy, tôi hoàn toàn có thể lấp đầy thời gian bằng những tạo vật cuốn hút hơn nhiều so với những rung động của bản thân.

Sau đó, cuộc đời tôi trở nên bận rộn hơn, thực tế thế chỗ cho những điều hư cấu. Tuy nhiên, ngay từ đầu, chồng tôi đã tha thiết mong muốn tôi chứng tỏ mình xứng đáng với dòng dõi sinh thành, để ghi danh vào bảng vàng văn học. Chàng không ngừng khích lệ tôi tạo dựng danh tiếng trên văn đàn—điều mà thuở ấy bản thân tôi cũng từng tha thiết, dẫu về sau tôi đã trở nên hoàn toàn thờ ơ. Vào thời điểm đó, chàng muốn tôi viết không hẳn vì tin rằng tôi có thể làm nên điều gì kiệt xuất, mà chỉ để chàng tự đánh giá xem liệu tôi có hứa hẹn làm nên những thành tựu rực rỡ hơn về sau hay không. Song tôi vẫn chẳng viết được gì. Những chuyến viễn du và nỗi bận tâm lo toan cho gia đình đã choán hết thì giờ của tôi; và việc dùi mài đọc sách, hay mở mang nhận thức qua những cuộc trò chuyện cùng trí tuệ uyên bác hơn hẳn của chàng, là tất cả những nỗ lực văn chương duy nhất cuốn hút sự chú ý của tôi khi ấy.

Vào mùa hè năm 1816, chúng tôi sang thăm Thụy Sĩ và trở thành láng giềng của Lord Byron. Ban đầu, chúng tôi cùng nhau trải qua những giờ khắc êm đềm trên hồ, hoặc dạo bước dọc bờ nước; và Lord Byron, khi ấy đang sáng tác khúc ca thứ ba của Childe Harold, là người duy nhất trong số chúng tôi trải lòng mình lên trang giấy. Từng khúc thơ chàng ngâm cho chúng tôi nghe, phủ trọn vẻ rạng ngời và âm điệu du dương của thi ca, dường như đã khắc ghi nét linh thiêng tuyệt mỹ của đất trời mà chúng tôi được cùng chàng chiêm ngưỡng.

Thế nhưng, đó lại là một mùa hè mưa dầm và ảm đạm; những cơn mưa rả rích triền miên thường giam chân chúng tôi trong nhà suốt nhiều ngày liền. Tình cờ, chúng tôi có được mấy tập truyện ma dịch từ tiếng Đức sang tiếng Pháp. Trong đó có câu chuyện về Kẻ Tình Si Bội Bạc: đúng vào khoảnh khắc chàng ngỡ đang ôm ghì lấy người vợ sắp cưới mà mình trao trọn lời thề, chàng nhận ra mình đang nằm trọn trong vòng tay bóng ma nhợt nhạt của người thiếu nữ từng bị chàng ruồng bỏ. Lại có câu chuyện về kẻ sáng lập đầy tội lỗi của một dòng họ: số kiếp khốn nạn buộc hắn phải gieo nụ hôn tử thần lên tất cả những đứa con trai thứ trong gia tộc bạc phận, ngay vào thời khắc chúng vừa bước tới lứa tuổi tràn trề hứa hẹn. Bóng hình khổng lồ, ma quái của hắn, khoác trọn bộ giáp sắt như bóng ma phụ vương của Hamlet nhưng mở tấm che mặt, lững thững tiến dọc con đường rợp bóng cây u tối dưới ánh trăng chập chờn lúc nửa đêm. Bóng hình ấy khuất dần dưới chân tường lâu đài; nhưng chẳng mấy chốc, một cánh cổng kẽo kẹt mở ra, tiếng bước chân vang lên, cửa phòng ngủ bật mở, và bóng ma tiến lại bên giường những chàng thiếu niên phơi phới tuổi xuân đang say giấc nồng yên ả. Nỗi sầu muộn muôn kiếp hằn sâu trên gương mặt khi hắn cúi xuống đặt nụ hôn lên trán lũ trẻ, để rồi kể từ giây phút ấy, chúng héo tàn rũ rượi như những nhành hoa bị bẻ gãy ngang cành. Kể từ dạo ấy, tôi chưa từng đọc lại những câu chuyện đó; nhưng từng tình tiết trong truyện vẫn hiển hiện rõ nét trong tâm trí tôi như thể mới đọc hôm qua.

"Mỗi người chúng ta hãy viết một câu chuyện ma," Lord Byron đề nghị; và mọi người đều hưởng ứng. Chúng tôi gồm bốn người. Vị quý tộc kiêm thi sĩ bắt đầu một câu chuyện mà sau này một phần trích dẫn đã được in ở cuối thi phẩm Mazeppa của chàng. Shelley, vốn có thiên hướng gửi gắm ý tưởng và cảm xúc vào những hình ảnh rực rỡ và những vần thơ du dương bậc nhất của ngôn ngữ chúng ta hơn là dựng nên kết cấu của một câu chuyện, liền khởi bút một truyện dựa trên những trải nghiệm thời thơ ấu. Polidori tội nghiệp lại nảy ra ý tưởng kinh dị về một quý bà mang đầu lâu, bị trừng phạt vì cái tội nhìn lén qua lỗ khóa—nhìn thấy thứ gì thì tôi quên mất rồi, chắc hẳn là điều gì đó vô cùng kinh tởm và sai trái; nhưng khi bà ta rơi vào tình cảnh còn thảm hại hơn cả gã Tom xứ Coventry trứ danh, ông chẳng biết phải làm sao với nhân vật của mình nên đành phải tống bà ta vào lăng mộ nhà Capulet, nơi duy nhất thích hợp với bà ta. Hai thi sĩ lẫy lừng của chúng tôi, chán ngấy sự tẻ nhạt của văn xuôi, cũng nhanh chóng bỏ dở công việc chẳng mấy hứng thú này.

Còn tôi, tôi dồn hết tâm trí nghĩ về một câu chuyện—một câu chuyện đủ sức sánh ngang với những áng văn từng thôi thúc chúng tôi dấn thân vào thử thách này. Một câu chuyện đánh thức những nỗi sợ hãi huyền bí sâu thẳm trong bản tính con người và khơi dậy cơn rùng mình kinh hãi—khiến độc giả nơm nớp sợ nhìn lại phía sau lưng, làm đông cứng máu và khiến con tim đập dồn dập. Nếu không làm được những điều ấy, câu chuyện ma của tôi sẽ chẳng xứng với danh xưng của nó. Tôi suy nghĩ và trăn trở—nhưng hoài công. Tôi nếm trải nỗi bất lực trống rỗng trong sáng tạo, nỗi thống khổ lớn nhất của người cầm bút, khi Hư Không câm lặng đáp lại những lời khẩn cầu khắc khoải của chúng tôi. "Cô đã nghĩ ra câu chuyện nào chưa?" Mỗi sớm mai tôi đều nghe hỏi câu đó, và mỗi sớm mai tôi lại phải cay đắng đáp lại bằng một cái lắc đầu bẽ bàng.

Mọi sự trên đời đều phải có khởi đầu, mượn câu nói của Sancho; và khởi đầu ấy ắt phải gắn liền với những điều đã có từ trước. Người Ấn Độ cho rằng thế giới được nâng đỡ trên lưng một con voi, nhưng họ lại đặt con voi đứng trên lưng một con rùa. Sáng tạo, phải khiêm tốn thừa nhận rằng, không phải là tạo ra từ cõi hư vô, mà là từ cõi hỗn mang; chất liệu trước hết phải được cung cấp sẵn: nó có thể nhào nặn nên hình hài cho những khối vật chất tăm tối, vô định hình, chứ không thể tự sinh ra chính bản thể vật chất ấy. Trong mọi cuộc khám phá và sáng tạo, ngay cả những điều thuộc về trí tưởng tượng, ta vẫn luôn nhớ tới câu chuyện quả trứng của Columbus. Sáng tạo cốt ở khả năng nắm bắt những tiềm năng của một đề tài, và ở năng lực nhào nặn, uốn nắn những ý niệm được gợi mở từ đề tài đó.

Lord Byron và Shelley đã có nhiều cuộc đàm đạo thâu đêm suốt sáng, và tôi là một thính giả chăm chú nhưng hầu như chỉ lặng thinh. Trong một lần trò chuyện, họ bàn về các học thuyết triết học khác nhau, trong đó có bản chất của nguyên lý sự sống, và liệu có cơ may nào để con người khám phá ra và truyền sự sống ấy đi hay không. Họ nhắc đến những thí nghiệm của Bác sĩ Darwin—tôi không nói về những gì vị bác sĩ thực sự đã làm, hay những gì ông tự nhận mình đã làm, mà chỉ nhắc tới câu chuyện người ta đồn đại thời bấy giờ, điều phù hợp hơn với mục đích của tôi—rằng ông từng giữ một sợi mì trong lồng kính cho đến khi, bằng một phương cách phi thường nào đó, nó bắt đầu tự chuyển động. Rốt cuộc, sự sống không thể sinh ra theo cách ấy được. Họa chăng một tử thi có thể được hồi sinh; liệu pháp điện giật sinh học đã hé lộ những dấu hiệu như thế: hoặc giả các bộ phận cấu thành một sinh linh có thể được chế tác, ghép nối lại với nhau, rồi được truyền cho hơi ấm của sự sống.

Đêm đã tàn theo cuộc trò chuyện ấy, và canh giờ ma quái nhất cũng đã trôi qua trước khi chúng tôi đi nghỉ. Khi đặt đầu xuống gối, tôi chẳng thể chợp mắt, mà bảo đang suy nghĩ thì cũng chẳng phải. Trí tưởng tượng, không hề do tôi sai khiến, đã chiếm trọn và dẫn dắt tâm trí tôi, ban cho từng hình ảnh liên tiếp hiện lên một vẻ sống động vượt xa ranh giới thường tình của những giấc mộng ban ngày. Tôi nhìn thấy—dù mắt nhắm nghiền, nhưng nhãn quan tâm tưởng lại vô cùng sắc sảo—tôi nhìn thấy gã học trò xanh xao của tà thuật đang quỳ gối bên cạnh thứ sinh linh mà chính hắn đã chắp vá nên. Tôi thấy bóng ma dị hợm mang hình người nằm sóng soài, rồi dưới sự vận hành của một cỗ máy hùng mạnh, nó bắt đầu lộ ra những dấu hiệu của sự sống và cựa mình bằng một chuyển động gượng gạo, nửa vời. Thật kinh hoàng biết bao; bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng rùng rợn cho bất kỳ nỗ lực nào của con người hòng nhạo báng cơ chế kỳ vĩ của Đấng Tạo Hóa. Sự thành công ấy sẽ làm chính kẻ tạo tác phải khiếp sợ; hắn sẽ kinh hoàng tháo chạy khỏi công trình ghê tởm do chính tay mình làm ra. Hắn sẽ nuôi hy vọng rằng, nếu cứ để mặc nó, tia sáng mong manh của sự sống mà hắn vừa truyền sang sẽ lụi tàn; rằng thứ tạo vật vừa nhận được chút sinh khí bất toàn kia sẽ lại chìm vào cõi vật chất chết; và hắn có thể chìm vào giấc ngủ với niềm tin rằng sự tĩnh lặng của nấm mồ sẽ dập tắt vĩnh viễn sự tồn tại ngắn ngủi của cái thây ma gớm ghiếc mà hắn từng coi là cái nôi của sự sống. Hắn ngủ; nhưng rồi hắn bị đánh thức; hắn mở mắt; kìa, thứ quái vật kinh tởm đang đứng bên mép giường hắn, vạch rèm ra và nhìn chằm chằm vào hắn bằng đôi mắt vàng vọt, ươn ướt nhưng đầy vẻ suy tư.

Tôi mở bừng mắt trong nỗi kinh hoàng. Ý nghĩ ấy ám ảnh tâm trí tôi đến mức một cơn rùng mình ớn lạnh chạy dọc sống lưng, và tôi chỉ mong xua tan hình ảnh ma quái trong mộng tưởng để quay về với thực tại xung quanh. Giờ đây tôi vẫn còn thấy rõ mồn một: chính căn phòng ấy, sàn gỗ sẫm màu, những cánh cửa sổ đóng chặt với ánh trăng lọt qua khe, và cảm giác rõ rệt rằng mặt hồ phẳng lặng như gương cùng dãy Alps sừng sững tuyết trắng đang nằm ngay ngoài kia. Tôi chẳng thể dễ dàng rũ bỏ bóng ma dị hợm ấy; nó cứ thế ám ảnh tôi khôn nguôi. Tôi phải cố nghĩ sang chuyện khác. Tôi quay trở lại với câu chuyện ma của mình—câu chuyện ma phiền toái và xui xẻo! Ôi! Giá như tôi có thể nghĩ ra một câu chuyện làm độc giả phải khiếp sợ như chính nỗi khiếp sợ đã bủa vây lấy tôi đêm ấy!

Nhanh như chớp mắt và rạng rỡ xiết bao là ý nghĩ bất chợt lóe lên trong đầu tôi: "Ta tìm ra rồi! Điều gì đã làm ta khiếp sợ ắt cũng sẽ làm kẻ khác kinh hãi; và ta chỉ việc miêu tả lại bóng ma đã ám ảnh chiếc gối của ta lúc nửa đêm." Sang ngày hôm sau, tôi thông báo mình đã nghĩ ra một câu chuyện. Ngay hôm ấy, tôi bắt đầu đặt bút viết những dòng: "Đó là một đêm ảm đạm của tháng Mười Một," chẳng qua chỉ là chép lại những nỗi kinh hoàng ghê rợn từ giấc mơ giữa ban ngày của chính mình.

Ban đầu tôi chỉ định viết vài trang—một truyện ngắn đơn sơ; nhưng Shelley đã hối thúc tôi triển khai ý tưởng ấy dài hơn. Quả thực tôi chẳng nợ chồng mình bất kỳ một tình tiết gợi ý nào, và cũng hiếm có một mạch cảm xúc nào bắt nguồn từ chàng, thế nhưng nếu không có sự khích lệ của chàng, cuốn sách sẽ chẳng bao giờ thành hình trọn vẹn để ra mắt công chúng như hôm nay. Trong lời khẳng định này, tôi phải loại trừ lời tựa. Theo như tôi nhớ, lời tựa hoàn toàn do chính tay chàng viết.

Và giờ đây, một lần nữa, ta để cho đứa con gớm ghiếc của mình cất bước ra đi và gặt hái thành công. Tôi dành cho nó một niềm trìu mến sâu nặng, bởi nó là kết tinh của những ngày tháng êm đềm, khi cái chết và nỗi đau buồn chỉ là những ngôn từ chưa từng tìm thấy tiếng vang chân thực trong trái tim tôi. Từng trang sách của nó gợi nhắc biết bao buổi dạo bộ, những chuyến ngồi xe, và muôn vàn cuộc chuyện trò khi tôi không phải lẻ loi một mình; và người bạn đồng hành của tôi thuở ấy là người mà trên cõi đời này, tôi sẽ chẳng bao giờ còn được hạnh ngộ thêm lần nào nữa. Nhưng đó là chuyện riêng của tôi; độc giả chẳng cần bận tâm đến những mối liên tưởng này.

Tôi chỉ xin nói thêm một lời về những sửa đổi mà tôi đã thực hiện. Chúng chủ yếu liên quan đến văn phong. Tôi không hề thay đổi bất kỳ tình tiết nào của cốt truyện, cũng không đưa thêm vào những ý tưởng hay biến cố mới nào. Tôi chỉ trau chuốt lại ngôn từ ở những chỗ còn quá thô vụng khiến mạch truyện bớt lôi cuốn; và những chỉnh sửa này hầu như chỉ xuất hiện ở phần đầu của tập một. Xuyên suốt tác phẩm, mọi thay đổi hoàn toàn chỉ giới hạn ở những phần phụ trợ của câu chuyện, còn cái cốt lõi và thực chất của tác phẩm thì vẫn vẹn nguyên như cũ.

M. W. S.

London, ngày 15 tháng 10 năm 1831.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Mary Wollstonecraft Shelley

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.