Marion đặt cuốn sách bìa đen lên đầu gối, uống ngụm rượu gin pha nước cam cuối cùng trước khi tự rót cho mình cốc thứ hai.
Rượu cháy rát trong họng cô, tỏa dư vị chát. Một vị cộng hưởng với nhiều vị khác, từ những trang giấy của cuốn sách cô đang đọc. Ngón tay cô nhè nhẹ vuốt ve bìa sách. Thật dễ chịu khi đọc một cuốn nhật ký, ít ra là phần mở đầu.
Tác giả bắt tay vào ghi chép ít lâu sau khi các vụ việc mà anh tường thuật bắt đầu. Phần nhập đề có vẻ giống một hồi tưởng dài. Ngay từ những câu đầu tiên, nỗi phiền muộn đã lộ ra, Jeremy Matheson là một người bị tổn thương, thổ lộ nỗi đau bằng ngôn từ trên băng gạc bằng giấy. Ngược lại với những gì anh khẳng định ở phần mở đầu, ta cảm thấy lối viết của anh có gì đó hơn là một báo cáo đưa tin thuần túy. Anh dốc cạn lòng mình vì nó quá đầy.
Một yếu tố khác khiến Marion bối rối là anh rất ít dùng từ ‘tôi’, đúng hơn là tìm cách hòa mình với người khác để có thể dùng ‘chúng tôi’, cảnh sát, người Anh, những người đàn ông và các nhóm khác được dùng càng nhiều càng tốt.
Ngược lại, chuyện được kể ở những trang vừa đọc làm Marion thấy rất khó chịu. Những vụ giết hại trẻ em.
Cô không chắc mình muốn biết thêm.
Vậy mà thói tò mò vẫn còn nguyên đó.
Cô cúi nhìn đồng hồ báo thức để xem giờ: 23:12.
Không cảm thấy bất kỳ dấu hiệu mệt mỏi nào. Việc nhà cô bị đột nhập đã kích động cô quá mức. Nỗi sợ và sự tức giận đã bốc hơi theo câu chuyện cô đang đọc.
Cô liếc nhìn về phía các mái nhà dốc trong làng. Rồi quyển sách lại mở ra trên tay cô.
* * *
Ngay khi vừa dập máy, Jeremy Matheson báo trước cho Azim, đồng nghiệp của mình, rồi họ đi ô tô về hướng phố Muhammad Ali trước khi rẽ về phía Đông, phía dưới những bức tường thành Cairo. Họ ra khỏi thành phố, xuyên qua một nghĩa địa cổ để đi vào khu mộ các vua Thổ Nhĩ Kỳ.
Trên xe, họ điểm lại tình hình cuộc điều tra do Azim chỉ đạo đến giờ phút này. Một mình điều hành mọi việc, anh ta đã chuyển giao trách nhiệm đến mức tối đa, để tiết kiệm thời gian. Một số cảnh sát đi thu thập lời khai của từng gia đình, còn một số khác đi hết nhà này sang nhà khác để hỏi cư dân những khu phố liên quan xem họ có nhìn hoặc nghe thấy điều gì bất thường trong các đêm xảy ra mấy vụ giết người không. Azim tập trung các bản báo cáo lại, xem xét tỉ mỉ và cố gắng tìm ra một hướng điều tra, nhưng không có kết quả. Anh ta hầu như không có tiến triển gì ngay từ ngày đầu tiên, niềm an ủi duy nhất là anh ta đã làm hết khả năng.
Ba nạn nhân, có thể đến hôm nay là bốn. Những đứa trẻ chỉ mới chừng mười tuổi, sống cùng một khu, phía Đông Bắc Cairo, con của những gia đình rất nghèo. Đó là tất cả những thông tin họ có được.
Một con đường rải nhựa chạy song song với khu mộ cổ, và họ có thể đỗ xe bên cạnh những chiếc xe đã đỗ trước ở đó; Jeremy và Azim đi bộ phần còn lại của chặng đường, bước vào nơi hoang mạc bắt đầu.
Cuối buổi sáng đó, nhiệt độ chừng ba mươi độ, hơi nóng như bốc lên từ mặt đất, bện trong không khí những cuộn khí đục mờ bay lên làm nhòe đường chân trời. Những đỉnh tháp cao vút của các ngôi mộ tỏa bóng xuống nền cát tạo thành một con đường mát mẻ, mời mọc mọi người bước đi trên đó, như một thông điệp tôn giáo ngấm sâu vào đá.
Những bức tường không mái nối tiếp nhau như những đợt sóng liên hồi, gạch xây tường nhiều màu tạo thành những bờ lũy hình lỗ tổ ong hồng, đỏ và trắng. Mái vòm và tháp trồi lên hầu như khắp nơi, tựa những cái tổ ong vo ve dưới con mắt duy nhất của thần Râ[1].
Richard Pallister, nhiếp ảnh gia hiện trường của đội điều tra, ngồi ở lối vào một cái ngõ cụt, trên một tảng đá nhỏ, mũ chụp lên đầu gối, hòm dụng cụ đặt dưới chân. Anh dùng khăn mùi soa vải chấm mồ hôi trên trán, vì bị chấn động nhiều hơn là vì nóng.
Dẫu vậy thời tiết cũng nóng hơn rất nhiều so với nhiệt độ thường gặp vào mùa này.
Pallister ngẩng đầu nhìn những người mới đến, mí mắt sưng mọng, đỏ sọng, cái nhìn thẫn thờ. Pallister đang tìm một điểm mốc. Thứ phân biệt giữa con người và con vật, thứ thường xuyên nhấp nháy như một cột mốc đỏ bên lề lương tri, và sẽ bật lên đứng chắn trước lương tri khi những ý nghĩ đi quá xa. Khuôn mặt anh bị nhuộm trong một lớp màng trong suốt từ từ chảy từ tóc xuống tận cằm, thành những giọt mặn chát, để lại trên đường đi của chúng một làn da tím tái. Môi anh run rẩy.
Khi Jeremy đi ngang qua, một tiếng thì thầm thoát ra từ miệng người thợ ảnh, và phải nhìn thấy nỗi xúc động trong mắt anh thì viên thám tử mới hiểu anh nói gì. Anh van xin Jeremy đừng vào.
Jeremy vẫn đi vào cái ngõ cụt chật hẹp, anh nghe tiếng Pallister khóc nức nở.
Vách bên phải là tường một ngôi mộ giống một ngôi nhà mái phẳng, trắng và không có cửa sổ. Nhìn từ phía trước, bức tường có vẻ cũ hơn rất nhiều, đã lở vụn từ lâu, bộ xương bằng gạch của nó đen như xương bị cháy, những đường chằng chịt mang sắc tía của hoang mạc len lỏi giữa những phiến đá, giống như máu khô; công trình này giở chỉ còn là một cái xác địa chất tạo cho con hẻm vẻ ngột ngạt cùng mùi bụi bặm.
Con hẻm chạy sâu đến hai mươi mét.
Hai người dân Cairo đội mũ fez[2] và mặc đồ rẻ tiền đứng phía trong cùng, tay chống hông. Cả hai đều câm lặng, mắt tránh nhìn xuống đất. Vừa thấy Jeremy Matheson, họ đi ngay về phía anh, quá đỗi vui mừng vì có thể rời xa cái khu vực đáng sợ đó trong chốc lát.
“Một drogman[3] tìm thấy nó sáng nay, trong lúc chuẩn bị lộ trình,” người thứ nhất thuật lại bằng giọng địa phương đặc sệt với chữ r rung đầu lưỡi. “Chúng tôi nghĩ ngay đến việc báo cho ngài, vụ này giống những vụ trước quá đỗi…”
Matheson đặt một tay lên vai người đối thoại để đẩy anh ta lui ra, không nói một lời. Anh đến gần thứ làm vấy bẩn nền đất nện và những bức tường của cái hẻm cụt.
Một đứa trẻ chừng mười tuổi. Đẫm máu và vẹo vọ, như thể một gã khổng lồ siêu mạnh, khi khám phá ra thứ đồ chơi lạ này, đã dùng tay nghịch ngợm khiến món đồ chơi kiệt sức, nhào nặn nó, bẻ nát nó, giết chết nó; đứa trẻ nằm đó tựa một mớ dị hình, không còn gì giống người trừ chân tay, và một cái đầu sưng phù dưới mái tóc bạc trắng vì khiếp sợ.
Matheson nuốt nước bọt, nó trôi xuống họng anh với một âm vang ẩm ướt. Chân anh như có kiến bò. Anh nhắm mắt để tập trung vào nhịp thở của mình. Anh nhanh chóng nhận thấy tim mình đập rất gấp.
Bình tĩnh lại. Thở đều.
Azim nhẹ nhàng nắm lấy tay anh.
“Sẽ ổn chứ?” Anh ta thong thả hỏi, gần như giọng một người mẹ.
Jeremy quay người nhìn anh ta, hơi nhớn nhác.
Azim đội cái khăn truyền thống, mặc áo sơ mi và quần tây. Bộ ria đen như gỗ mun được tỉa gọn ghẽ của anh ta nhảy múa hên bờ môi dẩu ra. Thân hình anh ta đẫy đà nhưng lúc nào cũng lịch lãm, nhẹ nhõm với những cử chỉ uyển chuyển.
“Ngài Matheson?” Anh ta nhấn mạnh,. “ngài chắc chắn là muốn ở lại đây chứ?”
Jeremy thở ra thật chậm rồi gật đầu.
“Chắc,” anh thì thầm. “Chắc chắn. Tôi muốn ở lại.”
Hai người đội mũ fez nhìn anh không đánh giá gì, bản thân họ cũng đã bị tác động quá mạnh.
Đến lượt Jeremy nhìn họ chằm chằm.
“Nào,” anh nói, khi đã bình tĩnh hơn một chút. “Các anh có phát hiện ra dấu vết gì đặc biệt không?”
“Không,” người thứ nhất trả lời,. “có quá nhiều chuyển động trên cát, không thể nói được vết nào cũ, vết nào mới, chưa kể vết của drogman và của chúng ta. Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa xem xét kỹ xung quanh, - anh ta vừa nói vừa vung tay khoát một vòng quanh cơ thể không sự sống.”
“Còn drogman, giờ anh ta ở đâu?”
“Chúng tôi ghi lại danh tính anh ta rồi…”
“Rồi sao?”
Cơ mặt người đàn ông giật giật, linh cảm thấy chuyện phiền toái, anh ta nhướng một bên lông mày và vai cùng lúc, không thoải mái.
“Rồi anh ta bỏ đi…”
Jeremy vừa mở miệng thì Azim - vẫn nắm cánh tay anh - buông anh ra.
“Ngài đừng nên tra hỏi nữa,” anh ta khẽ nói,. “không ích gì đâu, việc xảy ra thì đã xảy ra rồi.”
Jeremy thở dài, mắt không rời hai người đang đứng trước mặt.
“Rất tốt,” anh kết luận,. “hai anh đứng ở đầu con hẻm, và nhớ canh chừng khi người khiêng cáng đến.”
Anh quay người lại để đối mặt lần nữa với hiện trường vụ tàn sát.
“Ta không quan tâm đến cái xác,” anh ra lệnh sau một hồi im lặng,. “bác sĩ sẽ phụ trách việc này. Ta xem xét mặt cát và tất cả những phần còn lại, để tìm dấu vết.”
Anh và Azim chia nhau khoảng trống xung quanh cái xác, rồi họ bước từng bước một, nghiên cứu từng xăng ti mét trên mặt đất và trên tường. Bóng các ngôi mộ che cho vị trí này khỏi nắng, những chất lỏng của cơ thể chưa có đủ thời gian để bị hút hoặc tan hoàn toàn vào đất, còn nhiều rãnh dài màu nâu trên đất mà họ phải tránh giẫm vào.
Jeremy mở vài cúc trên cùng của áo sơ mi để lọt chút không khí vào ngực. Anh không thở được dễ dàng cho lắm.
Một vết dài không bị bước chân của những người có mặt trước anh xóa mất, hai hàng năm cái rãnh song song chạy dài hai mét từ một góc hẻm đến tận cái xác nhỏ.
Đứa trẻ đã bấm sâu móng tay và ngón tay vào cát để bấu víu khi bị kéo về phía sau. Về phía một cái miệng hau háu.
Jeremy gạt hình ảnh đó ra khỏi tâm trí.
Anh không muốn điều đó. Nó làm nhiễu dòng suy nghĩ. Tập trung vào nơi đây, vào giờ phút này, đó mới là điều quan trọng. Không gì khác cả. Không hình ảnh điên rồ nào hết.
Anh lại tiếp tục khám xét hiện trường, dành toàn bộ thời gian cần thiết để không bỏ qua một chi tiết nào. Có quá nhiều vết lồi lõm trên cát nên khó rút ra được bất kỳ kết luận gì, quả là một mớ hỗn độn.
“Có thể tôi có cái gì đó ở đây,” giọng Azim thánh thót vang lên.
Jeremy đến chỗ anh ta, đối diện với bức tường lở vữa. Azim đang bám vào đó cách mặt đất chừng một mét, hai chân giữ thăng bằng trên những cái lỗ anh ta tìm được trên tường.
Anh ta dùng ngón trỏ chỉ cho anh một vết khía mới trên một viên gạch, ngay dưới mũi anh ta, phía đỉnh, ở độ cao chưa đến ba mét. Vết khía không sâu lắm, dài không quá ba xăng ti mét và rộng không đến một xăng ti mét.
“Làm thế nào anh tìm được nó hả Azim?” Viên thám tử người Anh kêu lên.
“Việc của tôi mà,” người cộng sự trả lời không chút vui vẻ. “Trông như một vết cào.”
Azim bật ra một lời than bằng tiếng Ả Rập.
“Còn một vết nữa ở đây này,” anh ta lập tức nhận ra.
Vết thứ hai, tương tự, nằm cách đó chừng hai chục xăng ti mét. Cả hai vết đều nằm ven đỉnh bức tường.
Mặt trời bắt đầu chiếu đến, phủ lên khu vực này màn ánh sáng khó chịu, những tia nắng trong và nóng khiến những cái bóng hiện ra che đi các màu sắc khác.
Một ánh thạch anh hay thạch cao ở đầu vết khía đập vào mắt Jeremy.
“Cái gì thế kia?” Anh hỏi.
“Tôi cũng vừa thấy nó. Ngài đợi chút…”
Một tay Azim bám chắc, tay kia thận trọng lấy ra một vật lấp lánh.
Nét mặt Azim sa sầm.
“Gì vậy?” Matheson hỏi, đột nhiên nôn nóng.
“Tôi không biết… Có lẽ là một mẩu ngà… nhọn.”
“Để tôi xem.”
Azim nhảy xuống bên cạnh rồi đưa cho anh cái mảnh màu trắng. Nó có hình tam giác, cạnh sắc. Chất liệu của nó gợi nghĩ đến một cái sừng bị hư hại chút ít. Jeremy ngẩng mặt về phía những vết cào trên gạch. Thứ gì đó bằng sừng đã rạch lên phía trên cao bức tường theo cách gần giống vết thứ nhất, cách vết thứ nhất hai mươi xăng ti mét.
Chợt Jeremy áp tay vào bụng người đồng nghiệp để ngăn anh ta di chuyển. Anh chăm chú dò xét mặt đất. Giữa vô số những đụn cát nhỏ, anh nhanh chóng nhìn ra một vết lõm sâu hơn những chỗ khác.
Bỏ qua phát hiện ban đầu này, anh chỉ cho Azim hai vết lõm khác ngay trước mặt anh ta.
“Nhìn kìa.”
“Chính tôi đã tạo ra chúng vừa nãy, thưa ngài,” Azim trả lời. “Để nhảy lên tường. Hai chân tôi ấn xuống và để lại những chỗ lõm đó.”
“Tôi biết chứ, quả thế thật! Giờ hãy nhìn vết lõm ở kia.”
Anh chỉ tay về phía vết lõm anh vừa nhìn thấy.
“Và thứ giống như đống cát lộn xộn ở bên cạnh, cách chừng hai chục xăng ti mét, hẳn là anh em sinh đôi với nó trước khi bị xóa mất.”
Azim ra hiệu đã hiểu. Có ai đó đã nhảy từ trên cao xuống, là một người lớn, xét theo độ sâu của vết lõm.
“Hắn ta đứng thăng bằng ở đó lúc nhảy xuống,” Jeremy vừa giải thích vừa chỉ vào những cái hố. “Hắn tì vào gạch để đi, và hắn để lại vết cào vì hắn đang cầm một thứ vũ khí bằng sừng, có vẻ là bằng cả hai tay, chính vì thế mà có các vết này.”
“Bằng cả hai tay? Như thế không tiện để chạy nhanh.”
“Đúng vậy. Thế nghĩa là, tôi khó mà tin rằng những vết cào đó là do móng tay của hắn gây ra!”
Jeremy liền trèo lên bức tường.
“Đứa bé đã bị bất ngờ, thậm chí là khiếp sợ, cứ nhìn màu tóc của nó thì biết. Có lẽ nó đã thấy kẻ tấn công mình vào phút cuối, khi đang đứng hoặc ngồi xổm ngay tại đây,” anh vừa tái hiện vừa đu người lên.
Anh mất một lúc để giữ được thăng bằng và từ từ đứng thẳng dậy để nhìn bao quát con hẻm cụt từ độ cao gần ba mét. Rồi anh xoay người để nhìn phía bên kia, phía bị che khuất sau bức tường.
“Ngài có thấy gì không?” Azim muốn biết. “Đợi chút, tôi lên…”
“Không ích gì đâu! Anh có thể ngã gãy cổ đấy, gạch gắn không chắc lắm, chúng cũ lắm rồi. Có một bức tường khác thấp hơn một mét.”
Trước khi Azim kịp dặn anh cẩn trọng, Jeremy đã nhảy sang phía bên kia tường. Hai vai anh nhô qua đỉnh bức tường, anh nghiêng đầu ra hiệu, mọi việc đều ổn. Rồi anh bắt tay vào tìm kiếm.
Bên dưới, phía bên kia bức tường, Azim chỉ nhìn thấy phần trên của thám tử người Anh đang hoạt động, đôi khi biến mất hoàn toàn lúc anh quỳ một gối xuống đất. Thám tử Matheson nghiến chặt hàm, lắc đầu bực bội khi mường tượng ra mái của một thứ có vẻ là một lăng mộ.
Vài phút sau anh dừng lại, rất đột ngột. Anh cúi xuống rồi đứng ngay dậy, một tay giơ lên che miệng. Tay kia vuốt cằm.
“Có gì à?” Azim hỏi.
Thám tử người Anh trả lời bằng cái gật đầu khẳng định.
“Ngài có muốn tôi leo lên đó không?” Azim năn nỉ.
“Không.”
Một từ cộc lốc, nhưng lại được phát ra bằng giọng dịu dàng đến ngỡ ngàng.
“Không, tôi nghĩ là anh có thể ngừng được rồi,” Jeremy nói thêm, vẫn bằng giọng tâm tình, gần như thì thào.
“Thế, trên đó có gì vậy?”
Jeremy ưỡn người lên để bao quát toàn bộ khu vực. Anh ngắm nghía những cái tháp, các thành lũy, và những mái vòm đã mang lại cho vùng này một vẻ hết sức độc đáo. Mặt trời buộc anh phải nhăn mặt để có thể nhìn mà không nhắm tịt mắt lại.
Lời anh nói ra rất yếu ớt, như chỉ dành cho chính anh, khiến Azim phải khó khăn lắm mới nghe được:
“Ta gặp phải một thợ săn, Azim ạ. Một thợ săn nhẫn tâm, một thợ săn mà chiến lợi phẩm là những đứa trẻ…”
Những lời tiếp theo, nếu có, vĩnh viễn tan biến giữa các ngôi mộ.
❀ ❀ ❀
[1] Thần mặt trời của người Ai Cập.
[2] Mũ đỏ bằng nỉ, hình nón cụt, kèm đuôi ngắn màu đen ngắn nối từ đỉnh mũ xuống. Loại mũ này bắt nguồn từ Fez, một vùng đất ở Morocco. Đàn ông Hồi giáo ở một số nước đội mũ fez như một vật bất ly thân.
[3] Một kiểu hướng dẫn viên du lịch (và thông ngôn) bản địa với những hiểu biết chủ yếu nằm trong các mối quan hệ hơn là về các kiến thức lịch sử (chú thích của tác giả).