Jeremy Matheson và Azim cùng ăn tối trong một nhà hàng Ý trên đại lộ Sulliman Pasha.
Azim ăn một cách ngon lành, tự hào vì đã có tiến bộ đáng kể trong vụ điều tra.
“Giờ nó không còn là truyền thuyết nữa, ta biết nó có thật!” anh nhồm nhoàm bày tỏ ý kiến.
“Azim này, dù sao ta cũng sẽ không tin lời lẽ của hai kẻ… cuồng tưởng kia, để tiến hành cuộc điều tra này! Chính anh từng nói, ông già đầu tiên chịu ảnh hưởng của thuốc phiện vào lúc ông ta nghĩ mình nhìn thấy cái con… ghûl đó!”
“Tôi công nhận là phải tương đối hóa những gì ông ta nói, nhưng ông ta thật sự đã nhìn thấy thứ gì đó vào tối hôm ấy, tôi nhận thấy nỗi sợ hãi trong mắt ông ta, và các chi tiết hai người họ miêu tả đều trùng khớp nhau.”
“Hoang tưởng chung của cộng đồng. Họ đều có những hệ quy chiếu chung, những truyền thuyết chung, nên khi một người trong số họ cho rằng một kẻ tàn tật chạy trốn sau khi cướp đồ là một con quái vật thì những người khác cũng nghĩ như vậy.”
“Thưa ngài, ta có thể có cơ may tóm được con quái vật đó, hoặc là thứ gì đi nữa, nếu ta cho người canh chừng khu phố này. Người bán hàng kể với tôi, ông ta đã thấy nó ba lần trong vòng ba tuần, lần nào cũng vào ban đêm khi ông ta lên mái nhà hút thuốc. Ông ta bị chứng mất ngủ.”
Jeremy uống một hơi cạn phần còn lại của cốc rượu vang. Rồi anh lắc đầu.
“Tôi sẽ không điều động ba chục người vào ban đêm trong vòng một hai tuần với lý do là một kẻ sầu muộn mất ngủ nghĩ mình đã nhìn thấy con quái vật thời thơ ấu của ông ta đi qua dưới cửa sổ. Chúng ta có việc khác quan trọng hơn phải làm.”
“Ví dụ như?”
“Sáng mai, chúng ta có hẹn tại quỹ Keoraz, để gặp ông giám đốc.”
Azim vẫn im lặng, nghiền ngẫm nỗi thất vọng.
“Tại sao ngài lại biết quỹ này?” Cuối cùng anh hỏi.
Jeremy vừa nở nụ cười thỏa hiệp vừa dùng một mẩu bánh mì vét nước xốt trong đĩa. Azim có cảm giác đồng nghiệp người Anh đã chờ đợi câu hỏi này ngay từ đầu bữa. Jeremy thong thả nhai xong, đẩy cái đĩa ra rồi nhẹ nhàng nói:
“Nhờ một người đàn bà, anh bạn ạ.”
Azim định đưa cốc nước lên miệng, nhưng chợt dừng lại, tay đặt lên chân cốc bằng pha lê.
“Trước đây tôi đã phải lòng một người phụ nữ bây giờ là vợ của nhà Mạnh Thường Quân đã dựng nên cái quỹ đó.”
“Ngài Keoraz ư?”
Jeremy vừa nghịch cái khăn ăn vừa nói. Khi nghe tên nhà Mạnh Thường Quân, Azim thấy anh bạn đồng nghiệp siết chặt cái khăn đến mức các khớp tay trắng bệch ra.
“Chính ông ta. Ông ta nắm hầu bao, ông ta bơm tiền cho két của quỹ, nhưng còn một ông giám đốc nữa, là ngài Humphreys.”
“Và ngài vẫn giữ liên hệ với người phụ nữ đó?”
“Nếu ta có thể gọi đó là một mối liên hệ. Nhưng tôi biết quỹ này vì Jezabel từng làm tình nguyện viên cho nó, và tôi phải thú thực rằng, vì cô ấy, tôi cũng có tham gia vào.”
“Ngài ư?”
Hình ảnh thám tử Matheson đơn độc và trầm lặng mà ai cũng biết không ăn nhập với một Jeremy si tình và tình nguyện chăm sóc những đứa trẻ nghèo khổ sống ở Cairo.
“Phải… Việc đó kéo dài trong vòng vài tháng vào dịp thu đông năm 1926, rồi chúng tôi chia tay.”
Anh nói bằng giọng nhỏ hơn, dáng vẻ ít tự tin hơn, anh cúi người về phía trước, một khuỷu tay tì lên bàn.
“Ngài chia tay người phụ nữ đó từ bao giờ?” Azim hỏi.
“Tháng Giêng năm ngoái, hơn một năm rồi. Cô ấy gặp chồng vào đêm giao thừa, tại một buổi tiệc do vị Mạnh Thường Quân tổ chức cho các tình nguyện viên của quỹ.”
“Ngài cũng ở đó chứ?”
Jeremy khẳng định bằng một cái nháy mắt.
Azim mím môi trả lời.
“Dù sao thì đó cũng là một sự trùng hợp có ích cho chúng ta,” anh chàng thấp bé nhận xét.
“Cộng đồng người Anh ở Cairo xét cho cùng cũng không đến nỗi rộng lớn như ta tưởng, rõ ràng là vào lúc này hay lúc khác, ta sẽ phải tiến hành điều tra những người ta quen. Tôi không coi đó là một sự trùng hợp, chỉ là một ‘tiền định khả dự’. À mà, chúc mừng anh đã tìm ra danh tính đứa trẻ, tôi vừa biết tin này khi ghé qua văn phòng.”
“Tôi đã đến gặp gia đình chúng để báo tin. Dù sao quỹ đó cũng là điểm chung của các nạn nhân, về việc này thì không còn nghi ngờ gì nữa.”
Jeremy đưa tay lên vuốt mặt. Nét mặt anh căng thẳng. Khi người phục vụ bàn đi qua chỗ họ, anh gọi anh ta và bảo mang thêm rượu vang.
“Tôi có thể nhờ anh một việc được không, Azim? Từ giờ đến sáng mai, ta sẽ không nói gì về tất cả những việc này nữa nhé, tôi sẽ rất biết ơn anh.”
Azim nhận lời đề nghị như một cú roi quất. Đó là nhiệm vụ của họ, và Jeremy đã ý nhị yêu cầu được điều tra vụ này. Sự xuất hiện của cô nàng Jezabel trong quá trình điều tra hẳn phải dính dáng đến sự khó ở bất ngờ này, Azim có thể khẳng định điều đó.
“Nếu ngài muốn vậy,” anh trả lời.
Jeremy tự rót một cốc rượu vang lớn và uống một hơi hết nửa cốc. Trong vòng một giây, Azim thầm tin chắc viên thám tử người Anh có điều gì khác giấu mình. Nhưng cũng nhanh chóng và mạnh mẽ như khi xuất hiện, sự chắc chắn chuyển thành ngờ vực, rồi tan biến dần.
* * *
Trụ sở quỹ Keoraz nằm trên con phố Abbas dài và rộng, giữa một nhà thờ Cơ Đốc và tòa nhà của công ty điện tín, điện thoại.
Sáng sớm, các phương tiện đi lại dày đặc, uốn lượn giữa những đoàn tàu điện và nhả vào không khí vẫn còn hơi mát mẻ tiếng kêu khàn khàn phát ra từ những cỗ máy lớn. Lại một lần nữa, Jeremy thấy sự tương phản thật ấn tượng.
Giữa một thành phố phía Tây, giàu có và rất ‘Tây’, với nửa phía Đông bên kia hỗn độn hơn rất nhiều. Một bên được hợp thành từ những mắt lưới thông thoáng của những con phố vuông vức, theo kiến trúc phương Tây, cùng những vỉa hè trồng nhiều bụi cây trang trí, những tòa nhà vừa cao vừa hiện đại, những cửa hiệu ngang ngửa với Paris, Luân Đôn hay Milan. Trong khi bên kia thành phố lại trải dài dưới những cái lều đựng đầy hàng hóa, ngoằn ngoèo, kết thành vô số những ngõ cụt và lối đi chật hẹp, những ngôi nhà suốt nhiều thế kỷ không thay đổi, phản ánh các nền văn hóa Hồi giáo nối tiếp nhau ở Cairo. Thành phố thứ nhất sạch sẽ, không mùi, sang trọng nổi bật; đêm đến, tiếng cười nén lại của đám thanh niên người Anh hòa lẫn vào tiếng cười ồn ào của đám người Pháp và người Ý. Thành phố thứ hai bụi bặm, phả ra mùi da thuộc, những mùi vị lạ lùng, mùi mồ hôi của đám người sống chồng chất lên nhau, nhưng đêm xuống, từ trên hàng nghìn tòa tháp giáo đường, tiếng hát của các thầy tu báo giờ kinh bao phủ đường chân trời tạo bởi những mái nhà hỗn độn tựa mặt biển trong cơn giận dữ. Một thành phố mang tính kinh tế và chính trị, còn thành phố kia thần bí và mang tính lịch sử.
Giám đốc quỹ Keoraz đón hai thám tử trong phòng làm việc ở tầng trên cùng. Đó là một người Anh bốn mươi tuổi, thân trên bệ vệ và bộ râu rất rậm rạp, ông ta hoàn toàn giống, chỉ trừ tính cách, với giáo sư Challenger, người có những chiến công từng được Arthur Conan Doyle lừng danh kể lại trong các tiểu thuyết của ông.
Không cần hỏi ý kiến họ, và dù mới sáng sớm, ông ta rót hai cốc rượu brandy, một cho mình và một cho Jeremy, trong khi Azim được một cốc nước suông.
“Nào, anh cứ nói, tôi có thể giúp gì được cho anh?” Ông ta vừa hỏi vừa đến ngồi phía sau cái bàn làm việc chồng chất những giấy tờ.
“Như hôm qua tôi đã giải thích với ông qua điện thoại, việc này liên quan đến những đứa trẻ trong quỹ của ông.”
“Điều anh kể cho tôi nghe thật kinh khủng. Không nhẽ có một kẻ giết trẻ con ở Cairo này ư? Anh có hướng điều tra nào chưa?”
Jeremy giơ tay ra hiệu anh sẽ không đi xa hơn.
“Cuộc điều tra vẫn đang tiếp tục,” anh nói tránh đi. “Ông có tìm thấy phiếu ghi thông tin về bọn trẻ như tôi đề nghị hôm qua không?”
Ông giám đốc đặt ngón trỏ lên một chồng hồ sơ mỏng.
“Tất cả đều ở đây, cả bốn đứa.”
“Tôi cho là ông đã xem xét các thông tin trong đó. Ông có nhận xét gì chăng? Chúng tôi tìm một mối liên hệ giữa chúng nếu có, hoặc bất cứ dấu hiệu khác lạ nào.”
Humphreys nắm tay lại làm phát ra những tiếng răng rắc. Ngón tay ông ta bị biến dạng do bệnh thoái hóa khớp.
“Không, không gì cả. À mà… một vài chi tiết, anh xem đây.”
Ông ta đẩy những tờ giấy bìa về phía thám tử người Anh.
Humphreys với lấy cốc rượu và thưởng thức mùi rượu brandy trước khi dốc thẳng vào họng. Giờ thì ông ta ngắm gác chuông nhà thờ, quay mặt về hướng cửa sổ.
“Dù trước đây chúng ta không có dịp gặp nhau, nhưng tôi vẫn nhớ anh từng là một trong những tình nguyện viên của chúng tôi, thám tử ạ.”
Jeremy nghếch mũi khỏi chồng phiếu thông tin để quan sát ông giám đốc đang tiếp tục nói:
“Tôi… Tôi không biết nói thế nào với anh, nhưng… À, mà cũng có thể là anh không nhớ nữa, nhưng cả bốn đứa trẻ mà chúng ta đang nghiên cứu hồ sơ đều nằm trong lớp của anh, anh Matheson ạ.”
Azim nhíu mày. Anh quan sát người đồng nghiệp đang mở to mắt hơn mức cần thiết.
“Sao cơ?” Thám tử người Anh ấp úng.
“Phải rồi,” Humphreys nhấn mạnh,. “đúng như tôi nghĩ, anh đã không nhận ra điều này. Chúng đều từng được anh phụ trách, khi chúng tôi đề nghị anh tổ chức vài buổi đọc sách. Tôi thấy là anh không còn nhớ, anh cũng biết đấy, tôi hiểu anh mà, chúng rất đông, và đối với nhiều người trong chúng ta, chúng đều giống nhau cả.”
Jeremy mở các bìa hồ sơ hơi mạnh để đọc vài trang đánh máy bên trong. Anh chuyển từ đứa trẻ này sang đứa trẻ khác, càng lúc càng kích động.
“Đó có phải một chi tiết quan trọng không?” Ông giám đốc chất vấn.
Jeremy đứng thẳng người lên để nhìn chằm chằm vào ông ta.
“Theo ông thì sao?” Anh lạnh lùng đáp lại.
Trong vài giây ngắn ngủi mồ hôi túa ra đẫm trán anh.
Từ trên ghế, Azim nhích người về phía trước cho đến khi chống được khuỷu tay lên mép bàn và lễ độ đề nghị:
“Ngài có thể lập cho chúng tôi danh sách tất cả những đứa trẻ từng theo học lớp của thám tử Matheson không?”
Humphreys dò xét người Ai Cập nhỏ bé đội khăn vành trước khi dò xét phản ứng của anh chàng đồng hương người Anh, chờ đợi một lời đồng tình hay bác bỏ. Rõ ràng tay giám đốc rất ít coi trọng người ‘bản xứ’, Azim nhận xét. Đối với người điều hành một quỹ giúp trẻ em nghèo, thái độ này thật đáng lo ngại. ‘Lại thêm một kẻ đầu cơ chính trị chấp nhận một công việc để chuẩn bị cho tương lai của mình hơn là vì ham thích hay tình yêu với chính công việc đó.’
Jeremy giơ ngón tay trỏ ra hiệu đồng tình với yêu cầu của Azim.
“Thôi được, tôi sẽ đưa các anh danh sách đó vào thứ Hai hoặc thứ Ba. Mà này, tôi vừa chợt nghĩ đến, có thể có một mối liên hệ giữa các sự việc với nhau; chúng tôi,” tức là quỹ này. “đã đưa đơn tố cáo một vụ trộm hồi tháng Giêng. Và… Ngạc nhiên nhất là không có gì bị đánh cắp cả. Có người đã phá cửa sau để vào trong các phòng ở và phòng làm việc. Tên bất nhân đó chắc chắn nghĩ rằng sẽ tìm thấy hàng đống tiền mặt, tôi còn nhớ có một cái cửa đã bị phá để đột nhập vào phòng đặt két của chúng tôi.”
“Các ông có bị mất nhiều tiền không?” Jeremy hỏi.
“Không, chắc là rốt cuộc hắn thấy cái két vượt quá khả năng của mình, thậm chí hắn còn không mở nó ra! Hai ổ khóa bị phá hỏng chỉ để có bấy nhiêu!”
“Trong phòng đó không có gì khác à?” Matheson hỏi thêm.
“Đó là phòng lưu trữ của chúng tôi, nơi lưu trữ hồ sơ về nhân viên và bọn trẻ.”
“Giờ ông mới nói ra điều đó ư?” Thám tử người Anh nổi khùng.
Azim bắt đầu lo lắng về thái độ của đồng nghiệp.
“Thông tin này có thể quan trọng đấy,” Azim can thiệp trước vẻ mặt tiu nghỉu của ông giám đốc. “Hồ sơ của đám trẻ ghi lại những thông tin gì?”
Lần này thì Humphreys không khinh khỉnh nữa mà trả lời người Ai Cập nhỏ bé:
“Cũng những thông tin như tôi đã đưa cho các anh thôi, những điều cần biết về đứa trẻ, tên, ngày sinh nếu có, nơi có thể gặp bố mẹ chúng, giấy khám sức khỏe, và giấy theo dõi học tập. Mỗi giáo viên đặc trách một đứa trẻ chịu trách nhiệm thường xuyên ghi lại trên phiếu theo dõi tiến bộ của đứa trẻ đó, cùng những nhận xét về thái độ của nó, nếu có.”
“Giấy khám sức khỏe ư, ông chắc chứ?” Azim nhắc lại.
“Phải, dĩ nhiên rồi, để phòng khi, ai mà biết được. Phần lớn những đứa trẻ đến với quỹ đều do cha mẹ chúng yêu cầu, họ muốn tạo cho chúng cơ hội tạo lập hành trang kỹ năng sống và kiến thức. Chúng tôi chọn từng đứa dựa trên hồ sơ và kết quả phỏng vấn. Và khi chúng được nhận, nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là đưa chúng đi khám sức khỏe, một việc chưa từng được làm trước đây.”
“Chúng được khám ở đâu?”
“Ở bệnh viện Lord Kitchener, bệnh viện tốt nhất cùng với bệnh viện Anh-Mỹ, có điều Lord Kitchener thì lớn hơn và chúng tôi quen biết bác sĩ ở đó.”
“Lord Kitchener ư?” Azim ngạc nhiên.
Anh quay về phía Jeremy.
“Bác sĩ khám nghiệm tử thi các nạn nhân tên là gì nhỉ?”
“Benjamin Cork.”
“A! Bác sĩ Cork!” Ông giám đốc kêu lên. “Tất nhiên rồi, đó là một trong những thầy thuốc khám cho bọn trẻ của quỹ tôi.”
Azim nhướng mày và giơ lòng bàn tay lên, tỏ ý hốt hoảng.
“Bắt đầu có nhiều sự trùng hợp quá!”
Jeremy, vẫn đang rầu rĩ, hất đầu ra hiệu không đồng tình.
“Không, mọi việc đều có lý của nó. Kitchener là bệnh viện chuyên khoa về phụ nữ và trẻ em, bác sĩ Cork chuyên ngành nhi khoa, vậy nên ông được giao nhiệm vụ khám nghiệm tử thi. Không có gì bất thường cả, Azim ạ. Giới nói tiếng Ả Rập đông đảo bao nhiêu thì phần Cairo nói tiếng Anh lại nhỏ bé bấy nhiêu.”
“Thôi được… Cứ cho là thế,” Azim nhượng bộ. “Thế còn những đứa trẻ đó, bốn đứa bị giết ấy, hồ sơ của chúng có gì đặc biệt không?”
“Không, tôi đã xem rồi, không có gì cả,” Humphreys khẳng định. “Chúng… chúng rất tập trung, có hai đứa hơi nghịch ngợm một chút, nhưng không có gì nghiêm trọng. Tất cả đều rất ham học, thường xin theo những lớp học thêm. Chỉ có vậy thôi. Tôi để chỗ phiếu lại cho các anh, nhớ trả lại chúng tôi sau khi xong việc nhé.”
“Mạnh Thường Quân của quỹ có chìa khóa tòa nhà không?” Jeremy hỏi.
“Ngài Francis Keoraz ư? Không, việc đó không cần thiết, ông ấy là… tấm lòng hào phóng của quỹ, còn lại thì tôi là người phụ trách toàn bộ ở đây. Ông ấy thỉnh thoảng có qua thăm chúng tôi, chào hỏi lũ trẻ, chỉ có vậy thôi.”
Jeremy vừa lấy tay xoa dái tai vừa nhếch mép cười.
Ông giám đốc chộp lấy cốc rượu brandy uống cạn rồi liếm quanh mép. Vài phút sau, hai vị thám tử đã ở ngoài phố.
“Ngài thật sự không nhớ đã từng dạy những đứa trẻ đó ư?” Azim dò hỏi.
Jeremy bước đi, mắt nhìn xa xăm.
“Không,” anh trả lời theo kiểu thoái thác.
“Ngài từng dạy chúng đọc, phải vậy không?”
“Phải. Hay đúng hơn là những buổi đọc sách bằng tiếng Anh. Tôi không dạy gì cả, tôi không đủ trình độ để làm việc đó, tôi đọc truyện cho chúng, phần lớn trong số chúng thậm chí còn không hiểu tí gì, chúng không đủ trình độ tiếng để hiểu, những đứa khá nhất cũng chỉ bập bẹ vài từ tiếng Anh, nhưng đó cũng là một cách khai mở, một cách đào tạo tai nghe cho chúng. Nghe này, Azim, chúng ta đã nói đến chuyện này, tôi cũng đã nói với anh tôi làm việc đó vì người phụ nữ kia. Chính cô ta yêu cầu quỹ nhận tôi. Tôi không hề cảm thấy thích thú, tôi không quan tâm đến lũ trẻ, thế nên chuyện tôi nhớ mặt chúng…”
Azim vuốt ria, hơi bối rối.
“Là vì… Việc này đụng chạm đến cá nhân,” anh nói. “Trước tiên là mối liên hệ của ngài với quỹ, rồi giờ là mối liên hệ của ngài với bốn đứa trẻ tội nghiệp đó, tôi nghĩ tốt hơn là ngài nên…”
Jeremy đứng sững lại.
“Là tôi nên làm sao?”
Ánh mắt sôi sục của viên thám tử người Anh chĩa vào Azim. Azim hiểu rằng có nói thêm cũng vô ích. Dù vụ điều tra đã trở nên đụng chạm đến mức này, nhưng không đời nào anh thuyết phục nổi Jeremy. Xét đến quan hệ thứ bậc giữa họ thì việc này lại càng thê thảm. Matheson có quá nhiều mối quan hệ nên khó mà bị gạt khỏi một vụ điều tra mà anh muốn được chỉ đạo bằng mọi giá, kết quả duy nhất là chính anh, Azim, sẽ bị gạt ra bên lề câu chuyện đen tối này. Mà anh thì muốn kết thúc việc anh đã bắt đầu.
“Không… không gì cả.”
Azim giơ hai tay ra trước, ra hiệu đầu hàng. Vẻ thất vọng hiện rõ trên mặt anh. Điều này có tác dụng làm dịu cơn giận dữ của Jeremy.
Jeremy nói tiếp, bình tĩnh hơn:
“Tôi xin lỗi, Azim. Mọi việc đã trở nên rất đụng chạm cá nhân, chính vì vậy, tôi không định chạy trốn để đợi những thám tử khác đến kể tôi nghe chuyện gì đã xảy ra. Tôi mới là người phải hiểu, phải giải quyết vấn đề.”
Azim nhăn mặt. Giải quyết vấn đề? Jeremy nói cứ như thể anh đã biết những gì đang ngấm ngầm diễn ra, và chúng có mối liên hệ thế nào với các vụ giết người. Azim quyết định trước mắt không nói gì thêm nữa, tình huống hiện giờ không có lợi cho anh. Anh chỉ tiếp tục câu chuyện:
“Hôm nay ngài trưởng đồn đề nghị tôi viết một bản báo cáo chi tiết, tôi không thể giấu ông ta toàn bộ việc này.”
“Tôi biết chứ. Dù thế nào ông ta cũng sẽ không gạt tôi khỏi cuộc điều tra đâu. Tôi có quá nhiều bạn bè có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông ta. Anh cứ làm việc của anh đi.”
Hai người đồng hành tiếp tục bước đi trên đại lộ với nhịp giao thông lúc đông lúc thưa. Sau một lúc im lặng, Azim thay đổi chiến thuật, anh nói to suy luận của mình:
“Tôi nghĩ chúng ta đều đồng tình khẳng định rằng cuộc đột nhập trụ sở quỹ hồi cuối tháng Giêng vừa rồi có liên hệ trực tiếp với các tội ác ta đang điều tra, phải không? Thậm chí tôi còn nghĩ rằng kẻ giết người đã vào đó để nghiên cứu hồ sơ bọn trẻ và, vì một lý do nào đó ta chưa biết, hắn đã chọn những đứa trẻ từng theo lớp học đọc của ngài. Có thể hắn cũng đã hình dung tính cách các nạn nhân tương lai qua phiếu theo dõi của giáo viên.”
“Tôi đồng ý. Hắn đánh giá tính tình, cá tính của chúng, qua các tổng kết trong học bạ. Hắn biết những nét cơ bản của chúng, một số điểm yếu, và làm thế nào để nhử chúng.”
“Nhất là theo lời ông Humphreys, chúng đều rất hiếu kỳ. Nhân thể, ngài thấy ông giám đốc thế nào?”
“Tôi không ưa ông ta.”
“Tôi mừng khi nghe ngài nói vậy. Đó cũng là ý của tôi. À mà, tôi xin lỗi vì lại đề cập đến chuyện này, nhưng ông bác sĩ, cái ông Cork ấy, tại sao ông ta không nói gì với ngài khi khám nghiệm tử thi thằng bé đó? Ông ta biết nó, phải vậy không? Chính là ông ta, xét cho cùng thì ông ta là một trong những bác sĩ đã khám cho học trò của quỹ, vậy thì ông ta phải nhận ra nó chứ, không phải sao?”
“Tôi cho rằng ông ta đã nhận ra nó,” Jeremy trả lời,. “ánh mắt u ám. Và theo cách riêng của mình, ông ta đã khiến tôi hiểu như vậy. Nhưng trước hết đó là một bác sĩ chuyên nghiệp.”
Azim rình đón ý người đồng nghiệp chừng chục giây đồng hồ rồi nhướng mày.
“Chương trình chiều nay sao đây?” Cuối cùng anh hỏi.
Jeremy vừa đi vừa nhìn những chiếc xe ô tô chạy vượt qua.
“Anh soạn bản báo cáo của anh đi, tôi cần chút thời gian ở một mình, để suy nghĩ.”
Azim mở miệng nhưng ngay lập tức thấy nên ngậm lại thì hơn.
Họ tạm biệt nhau dưới con mắt ngày càng nóng bỏng của mặt trời. Jeremy dừng lại phía đối diện nhà ga trung tâm để ăn trưa, rồi anh sải bước dọc theo đường ray để về nhà.
Anh bước dưới mái hiên, hài lòng vì tìm được một chút bóng râm, rồi lập tức dừng sững lại, tất cả các giác quan rơi vào tình trạng báo động.
Gáy anh nóng ran. Vốn là thợ săn, anh biết cách nhận diện các dấu hiệu đan xen giữa cơ thể và trực giác. Anh đang gặp nguy hiểm.
Mối nguy hiểm tức thì.