Bữa tối kết thúc, họ đi sang phòng khách nhỏ.
Jeremy từng tìm cách từ chối lời mời, có thể viện ra hàng nghìn lý do chính đáng để thoát thân, nhưng không lý lẽ nào ra khỏi tâm trí anh được, và anh đã câm lặng cho đến khi không thể lùi bước.
Francis Keoraz là người dẫn dắt câu chuyện, tập trung vào chính mình, vào thành công của bản thân mình, miêu tả vinh quang của mình với vẻ chán nản đáng ngạc nhiên. Sau một giờ đồng hồ, Jeremy coi thử thách này như một cơ may không ngờ để có thể nắm rõ hơn nữa về con người Keoraz. Dò dẫm thái độ ông ta để tìm ra kẽ hở, để hiểu thấu đầu óc ông ta nhằm lập bản đồ những ngoắt ngoéo quanh co trong đầu óc ấy. Nghe thì tự phụ, nhưng ý nghĩ này khá hấp dẫn Jeremy.
Anh cẩn thận không để lộ thông tin cá nhân khi Keoraz hỏi han anh, tuy nhiên Jezabel thỉnh thoảng lại thích thú xen vào vài lời châm chọc. Một điều lạ là, dần dà theo bữa tối, cô bớt châm chích và trở nên chăm chú hơn, thậm chí có lúc còn đồng lõa. Hai lần liền, cô nhắm hỏi Jeremy xem anh có nhớ ngày nọ ngày kia cùng những chi tiết trong cuộc sống trước đây của họ không. Lần nào viên thám tử cũng nhận thấy mắt Keoraz ánh lên vẻ loang loáng đặc trưng của con dao ghen tuông. Ít ra thì anh và ông ta cũng có một điểm chung, anh tự nhủ với vẻ mỉa mai chua chát.
Chủ nhà rót cho cả ba người họ một loại rượu tiêu cơm do ông ta nhập thẳng từ Scotland, rồi mở một hộp thuốc lá Nestor bằng sắt rất đẹp để Jeremy lấy ra một điếu.
“Thám tử này, anh có chơi bi a không?”
“Cũng đôi khi.”
Keoraz nhếch mép thích thú nhìn anh và ra hiệu cho anh theo ông ta sang phòng bên. Một bàn bi a tuyệt đẹp bằng gỗ sáng bóng hiện ra dưới cây đèn rủ tua.
Jeremy rít một hơi thuốc lá và thốt lời càu nhàu thỏa mãn.
“Thuốc ngon, phải không nào?” Keoraz cười khùng khục vẻ đồng lõa. “Tôi mua nguyên thùng ở Groppi’s, cả một gia tài đấy! Nhưng thứ thuốc lá này đáng giá từng đồng bạc bỏ ra…”
“Đối với những người có khả năng làm vậy,” Jeremy không thể ngăn mình thêm vào.
Mỗi người cầm lấy một cây cơ rồi Jeremy mở cuộc. Jezabel ngồi xuống một cái ghế băng bọc nhung, tay cầm ly.
“Anh có chơi ở câu lạc bộ nào không?” Keoraz hỏi khi ván bi a bắt đầu được vài phút.
“Tất cả các câu lạc bộ ngoài đường. Bất cứ nơi nào có một cái bàn bi a, một bạn chơi và một lời mời.”
Keoraz nghiêng người xuống lớp dạ đệm màu xanh lá cây.
“Nếu có dịp, hãy đến Sporting Club ở Gezira chơi cùng chúng tôi, anh sẽ có dịp hạ kha khá kẻ ba hoa tự phụ.”
“Tôi sẽ suy nghĩ chuyện đó.”
Keoraz chỉnh đường ngắm bằng cách trượt cây gậy trong lòng bàn tay, khuôn mặt nghiêm nghị. Ông ta thực hiện cú đánh và quan sát độ lệch của đường đi do cú đánh tạo ra.
“Tại sao lại dựng quỹ?”
Keoraz, rõ ràng không chờ đợi câu hỏi này, bỏ mặc cú đánh cộng và nhìn Jeremy soi mói.
“Tại sao ư?” Ông ta nhắc lại với vẻ nghiêm trọng bất ngờ. “Theo anh tôi là loại người gì? Một kẻ gian ác keo kiệt và khó chơi? Hay một người bác ái giấu mình dưới vẻ doanh nhân quàu quạu? Ồ, đừng mất công trả lời, nhìn mặt anh là tôi biết anh nghĩ gì. Và anh muốn biết ư, anh Matheson? Anh chỉ đúng một nửa, còn một nửa là sai. Tôi là cả hai, thám tử ạ. Như mọi sinh linh trên hành tinh này. Tôi không trắng, không đen, không gì ngoài không màu sắc và vất vả tìm cách để không bị lạc đường vì mù quáng trước màu này hay màu khác. Từng bước một, tôi dần nhuốm màu thuộc phía tôi đi chệch vào trước khi tìm lại được sự cân bằng. Và cứ tiếp tục như vậy…”
Jeremy đi một vòng quanh bàn để xác định góc tốt nhất trước khi ra gậy.
“Mọi sinh vật trong thế giới của chúng ta không nhất thiết phải là màu xám, nếu tôi có thể cho phép mình nói vậy,” anh bình luận.
“Tôi đâu nói thế. Chúng ta không có màu gì cả, chúng ta nhuốm màu từ ý nghĩ và hành động của bản thân. Mà những thứ đó thì hay thay đổi và đa dạng hệt như bảng màu của họa sĩ.”
Keoraz đưa cây cào cho Jeremy, anh từ chối bằng một cái hất cằm.
“Quỹ của tôi là tất cả những gì tôi có thể làm để nói với đất nước này rằng tôi yêu quý nó, thám tử ạ, theo kiểu của tôi. Tôi có nhiều tiền không sao đếm nổi, tôi có thể làm gì để tỏ lòng cảm ơn thành phố này đây? Chăm sóc con cái của nó, những công dân tương lai. Theo truyền thống Cairo, tôi đã lập ra một quỹ giáo dục, gần giống một waqf[1] vốn cho phép xây dựng những đài phun nước khổng lồ ta thấy trên các phố, với một phòng trên tầng, để dạy kinh Coran. Khác biệt duy nhất là quỹ của tôi theo hướng giáo dục phổ thông, và dành cho các gia đình hiếm hoi chịu cho con gái cũng như con trai mình đi học.”
“Ngài Keoraz đáng sợ tặng văn hóa cho trẻ em Ai Cập!” Jeremy thốt lên, giọng cường điệu. “Khâm phục!”
“Anh không tin thế, phải vậy không? Anh thuộc những kẻ nghi ngờ muốn tìm xem tôi giấu giếm gì sau hành động trắc ẩn, hào phóng, không thể có từ một nhà triệu phú cứng rắn trong kinh doanh đó. Tôi xin nói lại ở đây: không gì cả. Không gì ích kỷ hơn ngoài việc để tôi cảm thấy nhẹ nhõm mỗi buổi sáng. Chắc anh sẽ nói rằng tôi tạo nên quỹ đó để cứu chuộc lương tâm, tôi thì tôi nói rằng nó mang lại cho tôi một kiểu thanh thản, vấn đề quan điểm thôi, tôi nghĩ vậy. Tôi không phải là con quỷ mà ai cũng muốn tìm thấy nơi tôi. Như tôi đã nói với anh: tôi giống với mọi người khác, không hoàn toàn xấu, không thật sự tốt.”
“Tuy nhiên, vẫn có những người xấu. Những con quái vật có thể làm điều tồi tệ nhất.”
Keoraz cầm cây gậy bi a trước mặt, dựng thẳng đứng, hai tay tì lên chuôi gậy, ngang tầm với xương ức.
“Vấn đề là ở chỗ đó, anh bạn thân mến ạ. Vết rạn của cái ác.”
Jeremy vào tư thế chơi.
“Vết rạn của cái ác?” Anh hỏi. “Tôi chưa bao giờ nghe nói.”
“Sự phân cách giữa những người nghĩ rằng lũ quái vật tồn tại và những người nghĩ rằng con người sinh ra bản tính đã lương thiện, hoặc ít nhất cũng trung tính, rồi trở thành con người anh ta hiện nay sau các thử thách. Cái ác là một phần hay là sự biến chất của xã hội của chúng ta?”
“Rousseau phải không?”
Keoraz nháy mắt với vị thám tử.
“Tốt. Nhưng không chỉ vậy. Vết rạn của cái ác, đó là câu hỏi đã ám ảnh loài người ngay từ nền văn minh đầu tiên. Chúng ta là kết quả của kinh nghiệm hay chúng ta sinh ra đã được định sẵn các lãnh nghiệm? Những tên tội phạm tồi tệ nhất là tội phạm vì chúng đều đã trải qua những đau đớn tồi tệ nhất trong quá trình hình thành nhân cách hay vì chúng được sinh ra với khuynh hướng bạo lực?”
Jeremy ngừng cú đánh trong khi nghe câu hỏi.
“Chẳng phải mới đây một nhóm các nhà tư tưởng đã bàn ý kiến cho rằng chính trẻ em, qua sự phát triển của chúng, đã tạo nên nền tảng tính cách của chúng ta ư? Một đứa trẻ bị những đứa trẻ khác ở trường hành hạ có thể phát triển một thứ kiểu như… cơ chế tự vệ, bằng cách căm thù những đứa trẻ khác, không hề phân biệt và…”
“Tút-tút-tút, thám tử, tôi cắt lời anh. Vấn đề không phải là biết tình huống đó làm nảy sinh những gì trong đầu đứa trẻ, mà là ‘tại sao ta lại rơi vào tình huống đó?’ Tại sao đứa trẻ đó lại khiến các bạn nó giận dữ và căm thù? Vì những hành động xấu của nó, vì những lời nói độc ác hay vu khống của nó, tôi giả dụ vậy. Tại sao nó lại có thái độ tồi tệ như thế?”
Keoraz bước vào trạng thái lâng lâng của các nhà hùng biện lớn, bị cuốn hút bởi phép màu cũng như xúc cảm họ truyền cho từng lời nói của mình. Ông ta tiếp tục:
“Cái ác là một chứng bệnh ta nhiễm phải qua quá trình sống, giống một căn bệnh tâm hồn, giống nỗi u sầu theo cách nào đó, hay nó là thứ sức mạnh bí hiểm nằm trong mỗi tế bào của chúng ta ngay từ những tia sáng đầu tiên khi chúng ta thành hình? Hai cái nhìn tách biệt về bản chất cái ác. Đó chính là vết rạn của cái ác. Một cuộc tranh cãi bất tận về sự tồn tại của cái thiện và cái ác, hay về bản chất không màu và tính đổi màu như loài tắc kè của con người?”
Jeremy thọc gậy nhưng bị trật mất cú đánh.
“Ơ kìa, Jeremy, cuộc tranh luận về bản chất giữa chúng ta làm trỗi dậy điều mâu thuẫn nào đó trong đầu anh hay sao?” Jezabel chế nhạo, lần này cô đã lấy lại vẻ ngạo nghễ.
Viên thám tử nhường chỗ cho nhà triệu phú, không đếm xỉa đến Jezabel.
“Tôi thú thật là không xác định được mình ở phía bên nào của vết rạn của cái ác đó, tôi… Tôi từng có những lần chứng kiến bản chất kinh khủng của một số người trong chúng ta. Tôi không nói là chúng ta sinh ra đã ác hay trở nên ác, tôi sợ rằng hai điều này không cách xa nhau là mấy. Nhưng tôi biết sự sống mang trong mình cái ác. Và rằng ngay cả những kẻ tốt đẹp nhất cũng có đôi lần trượt sang phía bên kia, bị nhiễm bệnh mà không có hy vọng thuyên giảm. Con người có khả năng làm tất cả mọi chuyện.”
Giọng điệu và biểu cảm trên khuôn mặt anh buộc Jezabel phải tôn trọng.
“Anh nói như thể chính anh từng là nạn nhân của sự biến đổi đó vậy.”
Không có chút chất vấn nào trong câu nói của cô, chỉ là một nhận xét bối rối.
“Theo một cách nào đó.”
“Thám tử nào cũng mang trong mình vết thương đó sao?” Cô hỏi, gần như dịu dàng.
“Chuyện đó không liên quan gì đến nghề nghiệp của tôi cả.”
Keoraz chợt hiểu ra. Ông ta đặt cây gậy xuống bên cạnh bàn.
“Chiến tranh…,” Ông nhấn giọng.
Jeremy ngước mắt nhìn ông ta. Keoraz giải thích:
“Anh đủ tuổi, đủ điều kiện thể chất và trí tuệ để phục vụ trong Đại chiến.”
Jeremy liếm môi. Anh đưa mắt tìm cốc của mình. Jezabel đứng dậy, không nói một lời, mang nó lại cho anh.
“Chính trong những tình huống cực điểm mà con người thể hiện bản chất thật của mình, đó không phải là một lời sáo rỗng được xác nhận hay sao?” Anh vừa nói vừa nhấp một ngụm. “Qua kinh nghiệm, tôi nói rằng cái ác cũng là một bản chất trong vũ trụ, giống như một cơn sốt trong xã hội chúng ta.”
Keoraz lại gần, tay cầm một cái bình pha lê, rót tiếp cho Jeremy.
“Chúng quả là kinh khủng, những hành động dã man trong quân đội, nhưng tiếc thay chúng lại mang tính đặc thù của hoàn cảnh,” nhà triệu phú thuyết trình.
Jeremy lại uống tiếp, hai cốc đầy tràn.
“Hoàn cảnh chỉ là một cái cớ. Điều tôi nói với ông không liên quan đến các vụ giết người chống lại quân Đức. Mà là những gì xảy ra trong lòng một đơn vị. Giữa những người Anh hào hoa phong nhã.”
Jezabel khoanh tay trước ngực.
“Trong thời kỳ đỉnh cao của tàn sát có tổ chức, tôi đã chứng kiến một cuộc tra tấn bỉ ổi nhất. Một nhóm hạ sĩ quan, đồi bại, hỗn loạn vì đã quá lâu sống trong máu và bùn. Và một người lính trẻ, quá trong trắng. Trẻ trung và đẹp tựa bãi cát sau khi biển vừa rút, không tì vết.”
Đôi mắt ướt của anh run rẩy dưới ánh đèn phòng bi a.
“Tôi đã chứng kiến họ tra tấn anh ta. Biến anh ta thành một kẻ để hiếp đáp, thành một nơi để hết kẻ này đến kẻ khác giải tỏa cả về thể xác, tinh thần lẫn tình dục. Họ không từ bất cứ điều gì. Không điều gì hết. Việc đó kéo dài tám tháng. Rồi giữa mỗi cuộc tra tấn là những trận chiến, xương thịt nát nhừ bắn tung tóe trong tiếng gầm của đạn pháo, tiếng rú của những người cách đó ba giờ đồng hồ còn chơi bài với ta, và mặt đất khô khan là điểm mốc duy nhất, một trảng đất bị vũ khí giày xéo và ngập ngụa máu, nơi chỉ mọc lên mầm mống của tuyệt vọng.”
“Không ai can thiệp cứu người lính trẻ đó ư?” Jezabel phẫn nộ thì thầm, giọng lộ rõ xúc động.
“Chúng tôi bị tách rời khỏi phần còn lại của đại đoàn, một đồn cô lập, chỉ huy là một sĩ quan quá mù quáng vì phẩm hạnh đạo đức nên không chịu chấp nhận chuyện cấp dưới của mình có thể làm những việc như vậy. Trong chiến tranh, bộ máy chỉ huy là hằng số duy nhất phải tôn trọng. Anh có thể chết vì đói, vì rét hay vì bom đạn, nhưng không bao giờ được quyền nghi ngờ cấp trên. Hình phạt sẽ là cọc xử bắn. Và những kẻ tra tấn toàn là hạ sĩ quan. Gây hấn với họ đồng nghĩa với tự sát.”
Jeremy cầm lấy bình nước mà không xin phép và tự rót cho mình thêm cốc nữa.
“Một ngày kia, có một người, tên anh ta là Dickey, đã can thiệp. Anh ta không chịu nổi tiếng gào khóc của người lính trẻ kia nữa. Khi thấy ba, bốn tên hạ sĩ đến gần để tra tấn ‘món đồ’ của chúng, Dickey đứng dậy chặn đường. Anh ta đã phải ra trạm xá mất ba ngày, khi trở về, đám hạ sĩ đối xử với anh rất khắc nghiệt. Một tuần sau thì anh chết, trong một hố đạn súng cối. Kể từ đó, cả đơn vị phải nhắm mắt bịt tai mỗi khi cần. Phần lớn những người đàn ông đó đều có người yêu hoặc vợ con, họ muốn được về nhà. Cái chết rình rập quá thường xuyên trên chiến hào và các dãy thép gai nên họ không muốn kéo nó vào tận trong chăn mình nữa. Thời buổi chiến tranh, nhắm mắt lại vẫn dễ hơn.”
“Bản thân anh thì sao?” Keoraz hỏi.
“Tôi chờ cho qua.”
“Việc đó kết thúc thế nào?” Jezabel hỏi, giọng xúc động.
“Trong máu.”
Jeremy uống cạn cốc rượu, ném cái nhìn vô hồn vào hư không.
“Đến một ngày,” anh tiếp tục,. “người lính trẻ đó không chấp nhận phục tùng nữa. Đó là khi anh ta không thể chịu đựng thêm, tôi đoán vậy. Đám hạ sĩ quan mua vui với anh ta bằng lưỡi lê. Tất cả những người lính khác lần lượt ra khỏi lều. Cuộc hành hạ kéo dài nhiều giờ. Ga trải giường sau đó thấm đầy máu. Lần ấy, đám đao phủ đó không thể che giấu sự dã man, và người lính trẻ bất hạnh được chuyển đến trạm xá. Nghe đồn anh ta không mở miệng nói gì suốt nhiều ngày, không một lời nào, không một tiếng kêu đau, anh ta chỉ ỉa ra máu. Với khuôn mặt sưng vù và một vết rạch khổng lồ trên ngực.”
Trong khoảng im lặng sau đó, Keoraz châm một điếu xì gà, mắt không rời khỏi vị thám tử. Jezabel khóc. Đôi đồng tử màu xanh lá cây sồi sục của cô phủ một màn nước mắt, cô mím môi ngăn những tiếng nức nở đang dâng lên dồn dập.
“Chuyện gì xảy ra với đám hạ sĩ quan?” Keoraz hỏi.
“Chúng bị tòa án quân sự kết án. Nhưng cho đến khi bị tòa xử thì chúng đã tàn sát hơn nửa đơn vị trong những trận càn mang tính tự sát.”
“Còn người lính trẻ thì sao?”
“Tôi không biết. Anh ta chết hoặc cũng gần như thế, tôi cho là vậy. Trừ phi cái ác đã ngấm vào anh ta do quá thường xuyên tiếp xúc với nó. Dù thế nào thì cuộc sống của anh ta cũng đã bị hủy hoại.”
Jeremy quay người về phía Jezabel đang nhìn anh không chớp mắt, nước mắt chảy xuống viền môi cô, đọng thành một viên ngọc long lanh.
Từ nay về sau cô sẽ nhìn thấy gì ở anh? Hình ảnh nào sẽ được gợi lên khi cô nghe tên anh, khi cô nghĩ đến những kỷ niệm chung giữa họ? Anh vẫn luôn nói dối khi cô hỏi về quá khứ của anh, về việc anh tham gia chiến tranh, vẫn luôn ngụy trang sự thật đó bằng những lời nói dối lặp lại không dứt đến mức bản thân anh cũng tin rằng chúng là sự thật.
“Keoraz, ông thấy đấy,” Jeremy nói bằng giọng trầm và run rẩy một cách bất thường,. “những kẻ ác tồn tại, chúng có thể làm những việc tồi tệ nhất. Có thể tồn tại cả những người trở nên ác, vì từng là nạn nhân của cái ác, họ mang nỗi đau của mình như những hồn ma không tìm được sự xá tội. Tuy nhiên, có những kẻ làm việc ác mà không hề tranh đấu với chính mình, không cần nguyên cớ, không có dằn vặt nội tâm, ngược lại, chúng còn hả hê. Những kẻ đó là những con quái vật.”
Anh cúi xuống đưa cho Jezabel một cái khăn mùi soa vải anh rút ra từ túi áo vest. Không buồn nhìn người đối thoại với mình, anh tiếp tục vẫn bằng giọng chất chứa giận dữ và đau đớn:
“Và những kẻ đó không xứng đáng được xử tội, chúng chỉ xứng đáng với cái chết. Chỉ cái chết mà thôi.”
* * *
Đùi căng ra vì gắng sức, Azim trèo lên những bậc cuối cùng của tòa nhà trước khi leo thang lên mái. Khalil chìa một tay chờ anh.
“Sao? Anh nhìn thấy gì? Có đúng là cái… con quỷ không?”
Azim ngồi phịch xuống thảm, tay với lấy chum nước.
Khalil múc nước cho anh.
“Báo động nhầm,” Azim làu nhàu giữa hai ngụm nước.
“Nhưng… Nhưng cái tín hiệu…”
“Một người quá kích động, anh ta nhảy bổ đến cái đèn khi vừa thấy một hình thù có dáng đi kỳ dị. Hóa ra là một người què, chứ không phải con vật của địa ngục.”
Vẻ thất vọng hiện trên mặt chàng thanh niên.
“Anh tin rằng ta sẽ gặp nó thật ư?” Khalil hỏi.
“Tôi không biết, Khalil ạ, kế hoạch của tôi dựa trên một xác suất điên rồ. Vài tuần vừa rồi con ghûl bị bắt gặp nhiều lần trong khu này, nếu chúng ta gặp may, thì có thể… Thôi, giờ anh nghỉ đi, tôi canh rồi anh sẽ thay phiên tôi những giờ cuối cùng trước khi trời sáng.”
Khalil trèo lên một cái võng và chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ chập chờn. Azim quấn người trong chăn rồi ngồi canh, ở một góc mái nhà, quan sát vẻ đờ đẫn của khu phố. Lớp màn do các ngôi sao tạo nên chiếu sáng dáng hình hỗn loạn của Cairo.
Azim không còn mệt chút nào, cuộc chạy đua trong các con hẻm khiến anh tỉnh táo trở lại, nỗi sợ hòa trộn với sự kích thích thành một món cocktail hừng hực. Ấy vậy mà, mới hồi hộp làm sao! Việc đến gần kẻ tình nghi làm anh rùng mình hết cỡ. Tay đặt lên báng súng lục, sẵn sàng rút ra và xả đạn.
Nếu quả thật đó là con ghûl, phát bắn của anh có lẽ sẽ không giúp được gì nhiều. Theo truyền thuyết, chỉ sức mạnh của những lời cầu nguyện mới có thể xua đuổi con quái vật.
‘Này, cứ thú thật đi,’ anh thì thầm với chính mình. ‘Mày không tin điều đó. Không thì mày đã lao đầu vào nó dù biết rằng vũ khí là vô ích. Mày nghĩ rằng phía sau nó là âm mưu của một người.’ Thế thì hắn là ai? Tại sao hắn lại nhắm vào những đứa trẻ trong đêm? Hít ngửi quần áo chúng, tìm cách vào phòng chúng như người bán hàng đã kể?
Azim đưa ánh mắt bối rối dò tìm trong các vết nứt của mái nhà. Anh không biết nên nghĩ gì nữa. Cơn mệt… Nỗi xúc động… Tập trung, không ngủ gật, chờ tín hiệu. Không gì khác…
Azim chờ đợi. Với sự cảnh giác cao nhất.
Nhiều giờ dần trôi qua, từng chút từng chút một. Các con phố vẫn tĩnh lặng. Giá lạnh đặc quánh, những cái chăn như ép sát thêm vào da và quần áo, theo bước chân đêm đen.
Azim ăn không biết bao nhiêu chà là trong khi chờ đợi. Một điều hết sức ngạc nhiên, ông thầy cả đến thăm anh vào tầm hơn một giờ sáng. Ông cảm thấy vô dụng khi ngồi đợi người đến nhà thờ tìm nên đã quyết định làm một vòng đi gặp những người canh gác để động viên họ. Azim và ông trao đổi một hồi, chủ yếu là về con ghûl, ông thầy cả chỉ dám nói khẽ đến tên nó. Viên thám tử nhỏ bé bối rối khi phát hiện ra ông có vẻ sợ con quái vật. Trán ông đẫm mồ hôi khi họ nói đến vai trò quyết định của thầy cả trong chuyện này nếu yếu tố con người bị loại bỏ.
Một tiếng sau ông bỏ đi, hứa sẽ để mắt đến các mái nhà và đèn hiệu. Nếu tín hiệu nổi lên, ông sẽ đợi năm phút, để Azim có thời gian xác định tình huống tại chỗ, rồi mới đến hỗ trợ, và sẽ giữ khoảng cách chỉ đủ nghe nếu cần.
Azim trở lại với sự tĩnh mịch và cô độc. Ý nghĩ của anh thơ thẩn linh tinh. Và dừng lại nơi người đồng nghiệp. Matheson không tin vào siêu nhiên. Anh ta từ chối để ngỏ một cánh cửa cho hướng điều tra này mặc dù đã có hai người khác nhau làm chứng. Tay người Anh có tiếng là kém thân thiện trong giới cảnh sát Cairo. Anh ta làm việc một mình, và khi không thể làm khác được thì anh ta cũng không chia sẻ, chỉ tiến hành điều tra theo cách riêng, giữ im lặng tuyệt đối. Thật là một đối tác tồi. Nhưng lại là một thám tử tài tình.
Tiếng tăm ‘người tin cậy’ đảm bảo cho mọi cánh cửa anh ta gặp đều mở, hoặc gần như vậy. Người ta nói anh ta rất bi mật về cuộc sống riêng tư. Azim, người bắt đầu hiểu anh ta, thích tính từ ‘kín đáo’ hơn. Matheson không chia sẻ, cả công việc lẫn cuộc sống riêng. Và thái độ tự vệ của anh ta hoang dại tựa những con thú bị thương, thích người ta để mình được yên, để băng bó các vết thương, ở đây là vết thương lòng. Phải rồi, nếu nghĩ cho kỹ, Matheson là…
Azim nhảy dựng về phía trước, đột ngột đứng dựng lên.
Một ngọn đèn cuống cuồng rung lên phía xa. Mạnh đến mức ngọn lửa khó lòng chịu nổi. Người phát tín hiệu đang thật sự khiếp đảm.
Anh ta không chỉ ra hiệu, không…
Anh ta kêu cứu.
❀ ❀ ❀
[1] Quỹ tôn giáo còn được biết đến tại Bắc Phi dưới tên habous.