Jeremy bước lên các bậc thang để vào toa tàu, các giác quan ở tình trạng báo động, tập trung vào tư thế tránh người có thể phải thực hiện nếu nhận thấy đối thủ lao vào mình. Bóng tối quá dày đặc nên không thể nhìn rõ xung quanh, bên trong, đêm càng tối hơn do cửa sổ toa tàu chật hẹp.
Lúc đầu, anh nghe tiếng nó tiến đến gần. Rồi anh nhìn thấy nó. Một bóng người nhảy về phía anh.
Anh không động đậy. Cái bóng vung một tay đánh anh. Jeremy không thể hiện bất cứ hành động trốn chạy nào. Và anh nhận một cú tát dữ dội giữa mặt.
“Sao anh lại có thể nghĩ vậy?” Jezabel kêu lên, giọng vẫn còn nghẹn ngào.
Anh đã nhận ra hình bóng cô, dáng đi và mùi nước hoa của cô ngay khi cô xuất hiện trong bóng tối.
“Humphreys đã đến nhà kể lại là anh nghi ngờ Francis. Con trai ông ấy bị bắt cóc! Anh còn muốn gì nữa? Hả? Anh nói cho tôi biết đi, Jeremy, anh còn muốn gì nữa? Muốn chính ông ấy phải chết ư? Rồi anh sẽ tiếp tục bám riết lấy xác của ông ấy ư? Rốt cuộc thì ông ấy đã làm gì anh?”
Cô quay ngoắt lại và bực tức đi đi lại lại trong phòng khách.
Jeremy thở hắt ra bằng mũi, rượu và nỗi mệt mỏi đột ngột đè nặng lên anh thêm chút nữa. Anh lấy diêm, bật một que châm vào đèn dầu, ánh sáng liếm nhẹ lên lớp nhung và lớp gỗ trong phòng.
Jezabel giờ đang đứng thẳng, đối diện anh. Ngọn lửa nhỏ hắt ánh lung linh lên màu ngọc thạch, màu gỗ mun và màu ngà của đôi mắt cô, tôn thêm những nét mượt mà trong vẻ đẹp của cô, đôi môi hồng phớt, làn da màu men sứ cùng những lọn tóc làm say lòng người. Cô lấp lánh như một viên đá quý.
Jeremy chiêm ngưỡng cô như một tác phẩm nghệ thuật, ánh mắt anh hướng vào nốt ruồi ở giữa má cô như chữ ký của một bậc thầy.
“Đừng có nói là vì tôi,” cô nói với vẻ ngờ vực tựa như tiếng thì thầm.
Một viền nước mắt dâng lên dưới mí mắt cô. Cô vẫn tiếp tục thì thầm, nỗi đau đớn giết chết âm điệu câu nói:
“Tại sao anh không thể quên tôi, hả Jeremy?”
Đôi vai rũ xuống, Jeremy đứng dậy, đầu ngẩng cao hơn mức cần thiết, anh nuốt nước bọt rồi tự rót một cốc whisky và uống một cốc đầy tràn.
“Xin anh đừng bám riết lấy ông ấy,” cô thì thầm. “Ông ấy là gia đình duy nhất của em, anh biết không.”
Jeremy xoa lòng bàn tay vào cằm, làn da kêu xào xạo dưới bộ râu mới mọc, rồi xoa thái dương.
“Em nhìn trên bàn xem,” cuối cùng anh nói.
Jezabel do dự rồi tiến lại phía cái bàn.
“Em thấy cuốn sổ ở giữa bàn không?” Anh hỏi. “Đó là cuốn nhật ký anh viết từ đầu cuộc điều tra này. Tối nay anh sẽ viết thêm vào đó những suy nghĩ cuối cùng, những kết luận mới nhất của anh, và nó sẽ gần như kết thúc. Sự thật nằm trong đó. Nếu có bất kỳ chuyện gì xảy ra với anh, tất cả là ở đó. Anh muốn em biết điều này.”
Anh quay đầu lại nhìn cô.
“Em vẫn thích Puccini chứ?”
Rồi anh bật máy hát, những nốt mở đầu vở opera Turandot vang lên.
Jezabel sững lại một lát rồi ngồi xuống bên bàn, kẹp một lọn tóc giữa hai ngón tay rồi mân mê. Bàn tay kia vuốt ve mặt bàn gỗ, lướt qua các đồ vật bày trên đó; cô dừng lại trên một chồng sách cũ rách. Nghìn lẻ một đêm, cô đọc trên gáy sách.
“Francis thích chúng đến phát điên,” cô yếu ớt thú nhận.
Jeremy đáp lại ngay:
“Anh biết, giờ anh mới nhớ ra rằng nhờ những câu chuyện này mà ông ta quyến rũ được em tại đêm hội năm mới… Người đồng nghiệp bị ám sát của anh đã tin rằng đó là một hướng điều tra cho vụ này. Anh nghĩ kẻ giết người sử dụng chúng để đùa giỡn với huyền thoại, để tái tạo một truyền thuyết. Bởi vì điều đó giúp hắn trở nên bất tử, mà vẫn tránh xa đám dân bản địa mê tín.”
Jezabel chạm đầu ngón tay vào giữa hai lông mày và lắc đầu.
“Tại sao anh lại cố chấp vậy?” Cô muốn hỏi cho ra nhẽ. “Anh biết Francis không phải là một con quái vật, ông ấy không giết ai cả, anh biết điều đó.”
Giọng cô dịu dàng đến đau lòng, Jeremy tin mình đã nhìn thấy một giọt nước mắt chảy trên sống mũi cô.
“Anh biết em rồi đấy,” cô tiếp tục,. “em cảm nhận được mọi người, em không nhầm khi đánh giá họ. Điều đó có sẵn trong em. Em là một đứa trẻ mồ côi của Alexandria, một đứa bé gái bị bố mẹ người ngoại quốc bỏ rơi trên vùng đất này, nơi em không là gì cả, và em đã trở thành một người phụ nữ đáng kính. Nhờ vào cái tài đó. Em cảm nhận được con người. Em tự tạo nên mình, anh biết rõ mà, phải không, em đã bước qua các bậc thang xã hội mà không có một sự trợ giúp nào. Ngày hôm nay em tìm thấy Francis, và em biết ông ấy là người thế nào, em biết phẩm chất cũng như khiếm khuyết của ông ấy. Ông ấy rất nghiêm khắc, điều đó là đúng, nhưng ông ấy hoàn toàn không phải người như anh nghĩ. Anh không thể bám riết lấy vợ chồng em, anh không thể.”
Jeremy uống một ngụm whisky, nghe những lời nói của người phụ nữ anh từng yêu. Puccini chơi ngày càng mạnh.
Anh sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để được cảm thấy cô nép vào anh. Làm tình với anh, thêm một lần nữa. Anh nhớ sức nóng của cơ thể cô, những nếp gấp của làn da cô, mùi vị của phần thầm kín nơi cô, vị lưỡi có mùi ngọt của cô. Cô ngồi đó, cách anh không đầy ba mét, gần gũi. Vậy mà sao xa quá.
“Anh phải chấp nhận là em không còn thuộc về anh nữa,” cô tiếp tục. “Em sẽ nói thẳng với anh, Jeremy ạ. Em cảm nhận được từng người, còn anh, em chưa bao giờ có thể biết anh là người thế nào. Ban đầu đó là điều hấp dẫn em nơi anh, sự quyến rũ hoang dại của những nhà thám hiểm lớn. Rồi đó cũng là điều làm em bực tức, trước khi… trước khi làm em khiếp sợ.”
Cô nhìn anh chằm chằm trong ánh sáng mờ tỏ màu hổ phách đang vây quanh căn phòng.
“Anh chưa bao giờ hiểu tại sao em lại khắc nghiệt với anh đến vậy từ khi chúng ta chia tay nhau, phải không? Để giúp anh quên chúng ta đi. Và vì sự chung thủy cũng như niềm hy vọng ngây thơ của anh đã khuất phục sự kiên nhẫn của em theo thời gian. Không ngừng quấy rối em với những câu hỏi thiếu tế nhị về mối quan hệ giữa em và Francis, anh đã đẩy em đến bước đường cùng. Sở dĩ em và anh không thành, là vì anh làm em lo lắng, Jeremy ạ.”
Màu xanh lục trong mắt cô hút hồn viên thám tử.
“Trong tâm hồn anh có sự lạnh lùng của những người từng đi quá xa, quá xa trong thiên nhiên, quá xa trong cô đơn, và không quay lại nữa. Anh không bao giờ hoàn toàn có mặt ở đây cả, Jeremy ạ. Luôn có một phần của anh ở lại đó, trên những mảnh đất xa lạ chỉ có mình anh biết, trong những kỷ niệm về chiến tranh, những lần đi lang thang giữa đồng cỏ, và ở đây (cô giơ hai bàn tay để ngửa lên trần toa tàu), trong khoảng không êm mượt của toa tàu này. Những gì trong anh tuột khỏi em, và làm em sợ. Em nghĩ rằng anh là một người tình ngọt ngào, nhưng anh sẽ không bao giờ là một người chồng chu đáo, một người cha tốt thì lại càng khó hơn. Lòng tốt và sự dâng hiến cho người khác trong anh không còn là điều khả dĩ nữa, mười năm gần đây, trong cuộc đời sóng gió, anh đã đánh mất chúng. Tối nọ, khi anh kể câu chuyện nhớp nhúa anh từng chứng kiến những năm chiến tranh, em đã hiểu ra, chính vì vậy mà em đã khóc. Em đã hiểu, anh có biết không. Anh mãi là cái… bóng ma đó, anh không bao giờ thật sự có mặt ở đây cả. Anh không giống chúng em. Em rất tiếc…”
Cô lau mắt thật nhanh, rồi buông câu chốt hạ:
“Nhưng anh không thể căm thù Francis vì ông ấy đã mang lại cho em những gì anh không thể.”
Không một lời nào chen thêm vào ánh nhìn dữ dội họ đang hướng về phía nhau, Puccini cùng những giai điệu kịch tính đưa họ đến cuộc trao đổi giữa hai tâm hồn. Cuối cùng, Jeremy đặt cái cốc rỗng xuống và phá vỡ mối liên kết đó bằng việc quay người đi tìm một đồ vật bọc trong một miếng vải.
“Em sẽ sớm hiểu ra anh là ai thôi,” cuối cùng anh thốt lên. “Anh là thiên thần hộ mệnh của em, Jezabel ạ. Và cũng như mọi thiên thần hộ mệnh, anh chỉ lộ mình một nửa. Có thể một ngày nào đó, em sẽ nhìn ra anh đúng như con người thật sự của anh.”
Anh lấy ra một khẩu côn MI911 bán tự động và băng đạn đi kèm quấn trong miếng vải, nạp đạn rồi cất khẩu súng vào cái bao anh nhặt trên giá.
“Còn Francis là một con quỷ trá hình, em đã bị nó lừa, có vậy thôi.”
Jezabel chĩa vào anh đôi đồng tử cháy bỏng và giận dữ hất đổ mọi thứ trên bàn.
“Đủ rồi!” Cô thét lên.
Cô giậm chân rồi lao ra ngoài.
Jeremy siết bàn tay lại. Anh đặt bao súng vào bên trong áo vest, nhặt quyển nhật ký rồi dúi nó vào một túi áo và lao theo dư âm giận dữ của nàng tiên cá thanh tao đó.
Anh chạy theo cô đến tận phố Abbas nơi cô nhảy lên chuyến tàu điện đầu tiên đúng lúc cửa tàu đóng lại. Jeremy tăng tốc, rượu làm máu anh nặng trĩu, bộ óc thiếu khí của anh nặng hơn gấp ba lần, và đôi chân không chịu vâng lời mà chạy nhanh như anh muốn. Anh cố hơn nữa, hơi thở dồn dập, rồi nhảy lên bậc thang phía sau đoàn tàu điện vừa lúc nó tăng tốc.
Ánh sáng thành phố rì rầm trong đêm, trải dài sau lớp cửa kính đoàn tàu điện, chìm vào đoàn người đoàn xe đi ngược chiều.
Jeremy mở cửa tàu điện và đi vào khoang tàu. Anh đẩy các hành khách ra rồi nắm lấy cổ tay Jezabel.
“Em sẽ căm thù anh,” anh nói liền,. “anh biết. Anh sẽ là kẻ gánh mọi tội lỗi em muốn, nhưng một ngày, một ngày nào đó, em sẽ hiểu. Em sẽ chấp nhận sự thật. Hãy biết rằng anh sẽ ở đó, để đợi em.”
Cô thô bạo giằng tay ra khỏi viên thám tử.
“Anh phạm một lỗi khủng khiếp, Jeremy ạ, khủng khiếp. Ghen tuông đã làm anh mất hết lý trí. Khi anh buộc tội Francis cũng là lúc anh làm sự nghiệp của anh tan thành mây khói.”
Cô sắp chạy thoát khỏi anh thì anh tóm lấy thanh bám ở giữa và xoay quanh nó để lại xuất hiện trước mặt cô.
“Chồng em là thủ phạm. Ông ta có đủ ảnh hưởng để tìm ra người mà ta gọi là con ghûl, rồi sử dụng hắn vào những việc đồi bại, ông ta biết rõ các huyền thoại Ả Rập nên có thể đùa giỡn với chúng, đó là màn khói ảo của ông ta để đánh lạc hướng điều tra. Nạn nhân là những đứa trẻ ông ta biết bởi chúng ở ngay trước mặt ông ta, trong quỹ của ông ta, xét cho cùng thì tại sao lại phải đi tìm xa hơn chứ? Chỉ cần một đêm bí mật tiếp cận hồ sơ của bọn trẻ là đủ. Những đêm có người bị giết, em nói là ông ta ngủ với em, nhưng sao em có thể chắc chắn đến vậy? Em ngủ rất say nếu anh nhớ không nhầm… Và cái đêm Azim bị giết, ông ta đã nghe thấy anh nhắc đi nhắc lại địa chỉ nơi anh phải đến. Với cái xe công suất lớn của mình, ông ta có thể đã đến đó trước anh.”
“Francis không ra ngoài đêm đó!” Jezabel kêu lên. “Sau khi anh vội vã bỏ đi, vợ chồng em cùng đi ngủ, điều anh nói không có căn cứ gì cả…”
“Thế à, thế em thức được bao lâu? Hả? Bao lâu? Hai phút? Năm phút? Cũng không quan trọng, ông ta đã đợi, và cái xe Bentley trứ danh chạy nhanh đến thế của ông ta sẽ giúp ông ta bù đắp khoảng thời gian đã mất và đến chỗ Azim trước anh.”
Jezabel hất viên thám tử ra trước vẻ hoảng hốt của các hành khách đang phải chứng kiến cảnh tượng.
“Francis không phải kẻ giết người!”
Jeremy lấy từ áo vest ra tờ giấy cói được tìm thấy trên quần áo của Azim.
“Chồng em lại say mê lịch sử Cairo. Ông ta đứng đầu một ngân hàng tài trợ cho rất nhiều nghiên cứu khảo cổ, ông ta hẳn đã biết được sự tồn tại của những đường hầm cổ nơi ông ta giấu con ghûl. Chẳng mấy chốc anh sẽ có toàn bộ những bằng chứng cần thiết chống lại ông ta.”
Jezabel không nghe anh nữa, cô đi về phía đầu tàu.
Đoàn tàu điện chạy chậm lại, đám đông ngày một dày đặc chiếm vỉa hè và phần giữa phố từ khoảng cách một trăm mét. Đoàn tàu cuối cùng dừng hẳn lại và cửa mở ra. Jezabel chạy ào ra ngoài, Jeremy theo sát gót.
Bên ngoài, trong màn đêm đang sẫm dần, người biểu tình lẫn vào đám đông những kẻ tò mò, những thanh niên hiếu kỳ, khẩu hiệu chống người Anh xen lẫn khẩu hiệu ca tụng đất nước Ai Cập hùng mạnh, do các đại diện của quần chúng cầm quyền. Người ta đả kích việc chính phủ hiện thời quá nuông chiều kẻ chiếm đóng Anh quốc. Ai cũng đi thật nhanh, vừa đi ngược đại lộ vừa hò hét.
Jezabel luồn vào giữa hai nhóm người và biến mất trong đám đông.
“Jezabel!” Jeremy kêu lên. “Jezabel!”
Anh xô đẩy những thân người đứng sững trước mặt mình, luồn lách trong rừng người, nơi tiếng hò hét và sự thù địch ngày càng dâng cao. Những cánh tay giơ lên phản đối, những khuôn miệng đập vào anh những lời mắng mỏ hung hăng.
Jeremy chống chọi để không bị mất mục tiêu. Mái tóc đen của Jezabel nhấp nhô mỗi lần cô chao đảo di chuyển tạo ra những cú giật đột ngột. Jeremy cảm giác như mái tóc dài mượt ấy nằm ngoài mọi quy luật sức hút trái đất, như đang bồng bềnh trong nước. Jezabel len lỏi giữa đoàn người.
Một khuôn mặt giận dữ đột ngột choán hết tầm nhìn của anh. Ông già người Ả Rập đang chửi mắng anh bằng thứ tiếng của nhà tiên tri Muhammad. Jeremy thẳng thừng đẩy ông ta ra, để tìm lại bóng dáng quyến rũ kia. Anh tìm kiếm nhưng vô ích. Hàng chục mái đầu, phần lớn đội khăn, mũ fez, mũ tarboosh, nhưng không còn Jezabel với những chuyển động nổi bật nữa.
Jeremy càng lúc càng khó thở, mồ hôi chảy dọc sống lưng anh. Mọi lời phản kháng, rống rít, thét gào quay cuồng quanh tai anh, một vòng quay nhức óc của những lộn xộn, ngột ngạt.
Những cửa sổ vỡ tung, cửa kính bị gạch xuyên thủng, loảng xoảng vỡ vụn. Tiếng những kẻ bất bình la ó gầm lên như con sóng, đổ dồn về phía sau con rắn hợp thành từ những cơ thể người.
Con phố rẽ ngoặt, một vầng hào quang khổng lồ màu ngọc lam uốn lượn trên mặt tiền các tòa nhà. Các mặt tiền ốp đá được phủ một lớp da sáng rực màu xanh đèn điện, chuyển động giống như nước bốc cháy, vằn vện những đường vân đỏ, và trên ô kính các cửa sổ lồi phản chiếu hình ảnh tựa như núi lửa khạc ra đống dung nham màu ngọc lam sôi sục.
Ngoặt vào lối rẽ, Jeremy sửng sốt khi khám phá ra vầng hào quang khác thường phủ lên toàn bộ con phố đó. Tất cả đèn đường đều bị chém ngang đầu, hơi ga phụt ra từ độ cao nhiều mét, cháy bùng lên trời thành cột lửa rừng rực, một mạch lửa thực thụ sôi sục, với màu xanh như có từ tính ngả cam ở phía ngọn cùng những tiếng rít chói tai.
Đúng lúc ấy anh nhận ra Jezabel, cách đó hai mươi mét, đang cố đẩy lùi hai người đàn ông lớn tiếng với cô. Một trong hai tên đi ra sau túm lấy tóc cô. Jeremy điên cuồng xô đẩy những kẻ hiếu kỳ trước mặt, rẽ đám đông.
Jezabel bắt đầu hét lên trong khi chúng hành hạ cô. Một gã choai choai, cuồng nhiệt vì không khí nổi loạn bao trùm đám đông nhận ra Jeremy là đại diện của bọn chiếm đóng người Anh, nhảy ra chặn đường anh, không cho anh đi xa hơn.
Viên thám tử người Anh nhìn qua vai kẻ chặn đường và thấy Jezabel bị lôi sang một bên, rồi bị tát liền hai cái. Nắm tay anh siết lại và vung lên, nhanh như chớp, đập thẳng vào vùng gan gã choai choai nọ. Hắn gập người làm đôi, rồi đổ sụp xuống và thở hắt ra tất cả không khí có trong phổi. Không phí thêm thời gian, Jeremy bước qua người hắn.
Kẻ thứ nhất không thấy anh đi đến và lập tức bị đấm thẳng vào giữa hai bả vai, hắn chúi về phía trước, đập mũi và răng xuống vỉa hè. Kẻ kia buông Jezabel ra, chạy lại tóm cổ viên thám tử. Jeremy bước sang bên một bước để tránh và co đầu gối thúc vào giữa hai chân hắn. Cú đánh trúng đích nhưng cũng làm anh mất thăng bằng, Jeremy thấy con phố quay vòng và chỉ kịp giơ hai tay ra phía trước để giảm nhẹ cú ngã. Anh chớp mắt, rượu giờ không còn ảnh hưởng đến các giác quan của anh nữa. Từ khóe mắt, anh nhận ra đối thủ đang tìm cách đứng lên, ngay dưới chân anh. Jeremy nhấc đùi và dồn hết sức đạp vào cằm kẻ gây sự. Có thứ gì đó vỡ vụn sau cú đạp.
Jeremy vịn vào hàng rào sắt trước tòa nhà để đứng dậy. Jezabel lùi lại, hoảng hốt.
Viên thám tử quay người lại và phát hiện ra một nhóm người giận dữ đang lao vào anh, cầm đầu là gã choai choai tay đang ôm bụng. Sự hận thù lộ rõ trên mặt họ. Họ có chừng nửa tá, chẳng mấy chốc đã lên đến chục người, đang tiến lại gần.
Họ sẽ nghiền anh thành từng mảnh. Anh, rồi đến Jezabel. Jeremy tháo dây đeo bao súng ra và vung khẩu súng lên trên đầu.
“Dừng lại!” Anh thét lên.
Nhóm người dừng bước, trong khi hàng trăm người khác dồn bước đi qua về phía đầu đám đông, không để ý chuyện đang xảy ra giữa cặp người phương Tây và một nhóm người trong số họ. Không còn gì phải nghi ngờ về kết cục cuộc đụng độ nữa.
Dạn dĩ vì số lượng đông đảo, gã choai choai lao vào Jeremy. Anh hạ tay.
Đèn đường đổ xuống những mái đầu một dòng thác rực rỡ. Đám đông dằn giọng hát những lời lải nhải về quốc gia chủ nghĩa. Có đến hàng trăm người đi qua, họ gần như chạy.
Tiếng khẩu .45 ACP vang lên nho nhỏ trong không khí hỗn độn, bị bóp nghẹt vì lồng ngực của gã choai choai đứng sát sạt khi Jeremy bóp cò.
Đôi mắt hắn lập tức thay đổi. Cơn sốt trả thù biến thành nỗi hoang mang, Jeremy không thấy ở đó sự đau đớn, chỉ là vẻ khó hiểu, rồi nỗi sợ hãi.
Gã choai choai chết một cách hoảng loạn, hắn vừa ngã gục xuống vừa đưa mắt tìm một lối thoát khả dĩ, một sự an ủi, nhưng chỉ thấy vực thẳm đang dần nuốt chửng mình. Hắn nhắm mắt, không chấp nhận chết đuối trong hư vô như thế, cả người rung lên trong cơn co giật cuối cùng. Đôi tay hắn rũ rượi buông thõng xuống nền đất và bắt đầu lạnh dần.
Những tên đi cùng nhìn hắn chết rồi nhìn chằm chặp vào Jeremy. Viên thám tử hiểu rằng chúng sắp tấn công. Bất chấp việc anh có vũ khí, chúng sẽ nhảy bổ vào anh, cùng một lúc, để đè nghiến anh, bắt anh phải trả giá vì hành động vừa rồi.
Một tiếng xì xào to dần từ phía đầu dòng người hỗn loạn. Âm thanh gầm gừ chuyển thành hoảng hốt.
Tiếng đạn nổ vang trước mặt tiền các tòa nhà. Khô khốc và chát chúa. Tiếng súng trường, Jeremy đoán. Quân đội đang tấn công. Đã có những người biểu tình chạy ngược chiều, hoảng hốt.
Jeremy quay trở về với mối nguy hiểm đang trực tiếp rình rập anh. Nhiều gã đang tiến lại gần, đầy đe dọa. Anh chắc chắn Jezabel đang ở ngay sau mình rồi mới đặt ngón trỏ lên cò súng. Nỗi sợ chảy ngược lại từ phía đầu dòng người rồi tỏa nhánh đến tận chỗ họ.
Hơn một nửa số bóng người bao quanh họ bắt đầu chạy ngược lại. Tiếng súng trường vẫn vang lên lốp đốp.
Jeremy thấy hai bóng người tách ra khỏi đám người bỏ trốn để đi vòng ra sau và tìm cách đánh úp anh. Kẻ thứ ba lao vào anh, trực diện, chỉ vừa kịp tránh đám người chạy trốn giận dữ.
Jeremy không thể bắn, quá nhiều người náo loạn xung quanh, một phát đạn bắn về phía trước sẽ xuyên qua nhiều người trước khi chạm vào kẻ tấn công anh.
Đột nhiên, dòng người đặc lại và dữ dội đến mức tất cả đều bị cuốn theo, như trong cơn sóng thần. Không thể chống cự mà không bị ngã hay bị giày xéo, Jeremy để mình bị làn sóng người ấy cuốn, đẩy, thúc đi. Đám tấn công anh cũng bị quét theo, chúng tản mát, ra sức quẫy đạp để không bị ngã.
Cơn sóng vỡ ra khi chảy đến một quảng trường, thọc sâu cánh tay của nó vào các con phố nhỏ tỏa rộng về tứ phía. Jeremy nhảy vào chỗ lõm của một khung cửa và đợi cho dòng người đông đặc trôi qua. Anh tìm Jezabel giữa các khuôn mặt. Rồi anh thấy cô, ở phía bên kia, hoảng hốt nhưng bình an vô sự. Anh lạc mất cô khi cô vội thoát khỏi một mạch đường đông đúc để rời xa đám nổi loạn qua con phố liền đó.
Jeremy ngửa đầu ra phía sau, tựa người vào tường, và thở.
Điều tồi tệ nhất đang tới.
Đêm nay sẽ là đêm dài nhất và đen tối nhất của anh ở Cairo.