Thám tử Jeremy Matheson có quyền ra vào khắp Cairo. Không chỉ vì nghề nghiệp của anh, mà còn vì phần đông cộng đồng phương Tây ở Cairo đều biết đến sự hiện diện của anh, do nghe tiếng tăm hay vì đã có lần nhờ anh giúp.
Matheson có cách giải quyết những vụ rắc rối không giống với bất kỳ ai. Một người tình bị thất lạc, một baksheesh[1] biến thành tiền đút lót và cần được cho vào quên lãng, hoặc chỉ đơn giản là vài chỉ dẫn được cóp nhặt một cách sáng suốt.
Tiếng tăm của anh lan truyền qua các phòng khách, các câu lạc bộ tư hay các buổi chiêu đãi, người ta rỉ tai nhau tên anh như một phương thuốc kỳ diệu. Bởi không gì trong anh khiến ta có thể nghĩ anh lại là người của đám đông. Anh chẳng có vẻ gì là người thích giao thiệp cả.
Ấy là xét cả bề ngoài gần như hoang dã lẫn thái độ quá kín đáo của anh. Người ta rón rén đến với anh, nghi ngại và bồn chồn trước ý nghĩ phải nhờ vả con người không thể dò thấu này. Anh luôn nhìn người nhờ vả mình bằng ánh mắt liếc xéo, môi bĩu ra, rồi kết thúc bằng câu ‘tôi sẽ xem có thể làm được gì’. Rồi anh khéo léo gỡ các nút thắt.
Trong chuyện này, phẩm chất lớn nhất của anh phần là sự kín đáo, tất nhiên rồi, và phần khác là các mối quan hệ. Tên anh rất quen thuộc trên ghế băng của nhiều qahwa,[2] bên chân những đài phun nước công cộng tại Cairo, cũng như với những người canh gác ở các khách sạn lớn, hay các thư ký làm việc trong các bộ.
Matheson ở Cairo từ chín năm nay, anh đến đây theo nguyện vọng bản thân, ngay khi vừa bước vào ngành cảnh sát, sau khi lấy bằng luật. Cairo đồng nghĩa với ngoại lai, phiêu lưu, mặt trời và nhất là một tôn ti trật tự ít cứng nhắc, có khả năng giúp anh thăng tiến nhanh chóng hơn để trở thành điều tra viên. Thực tế đã chứng minh anh không sai.
Hơn nữa, ở đây, anh được hưởng quyền tự do hành động mà anh không thể có được nếu làm việc ở Luân Đôn hay bất cứ nơi nào khác trên nước Anh. Và sau chín năm phơi da dưới sức nóng của các kim tự tháp, anh chưa bao giờ xin quay về nước. Ngược lại, anh làm tất cả để hồ sơ anh bị lãng quên trong đống tài liệu lưu trữ. Anh từng chứng kiến ba cao ủy người Anh kế nhiệm nhau, tham gia các cuộc biểu tình chống chủ nghĩa thực dân, chứng kiến những cơn bùng nổ hung bạo của chúng, chứng kiến nền độc lập của Ai Cập, chứng kiến việc phát hiện ra mộ vua Tutankhamun, gần một thập kỷ đầy vinh quang cũng như thảm kịch đã mê hoặc anh. Và Cairo tóm chặt anh.
Anh định hướng qua những tháp Hồi giáo xếp thành hàng phía trên những mái nhà, qua tiếng ca của các muezzin[3] báo hiệu giờ giấc mỗi ngày theo phương thức mềm mại hơn tháp đồng hồ Big Ben, qua vẻ tráng lệ trong cuộc sống của một người Anh giữa những người Ả Rập, và qua sự kích thích hằng ngày mà hoang mạc thổi tới phía trên đầu họ, sự đe dọa của một nguy cơ có thể ập tới bất cứ lúc nào, dưới bất kỳ hình thức nào. Cứ như vậy cuộc sống của anh tiếp diễn trong thành phố của Nghìn lẻ một đêm. Màn sương mù ở Luân Đôn và cuộc sống dễ đoán trước bên bờ sông Thames đã mất đi vẻ quyến rũ dù rất Ăng lê của nó.
Tại đây, người Tây Âu có quyền mang súng, tại đây trời đêm có thể nóng rực lên bất cứ lúc nào dưới sức ép của những người dân tộc chủ nghĩa, mỗi bữa ăn đều mang hương vị cổ xưa. Ở Cairo là không còn làm nên lịch sử nữa, ta đánh dấu nó, ta sống cùng nó như cùng bạn đời, những điều huyền bí mang tính vật chất không thể tìm thấy ở nơi nào khác, huyền thoại trở thành hiện thực, cát và mặt trời viền quanh thành phố và sự hiện hữu của một vị đắng thôi thúc sống mỗi lúc một dữ dội hơn. Cairo là một con rắn hổ mang bành cuộn mình giữa các ngọn đồi Mokattam và sông Nile, vết cắn của nó thay vì làm chết người lại khiến kẻ bị cắn trở nên nghiện hoàn toàn, không cách gì cai được.
Cảnh sát Ai Cập, dưới sự điều hành của Russel Pasha, chỉ đạo phần cốt yếu của công việc điều tra. Lực lượng này vẫn còn được dẫn dắt, nơi này nơi khác, bởi những người Anh giữ các vị trí then chốt. Jeremy Matheson chủ yếu chịu trách nhiệm về những vụ việc liên quan đến người hoặc tài sản phương Tây, nhưng vai trò của anh trước tiên là mang tính chính trị. Nước Ai Cập hai mặt có nghĩa vụ vận hành cùng chính quyền hai đầu nặng nề này để làm hài lòng khi thì là thói đỏng đảnh thực dân của một số người này, khi thì là những khát khao danh tiếng của một số người khác.
Tương tự như cách anh coi thường sự thăng tiến cấp bậc khi giờ đây anh đã là thám tử, Jeremy Matheson khinh miệt cả cái ý chí mị dân đó, anh phục vụ cho lợi ích mà chức trách của mình mang lại, trên cả lợi ích quốc gia, anh thường tự nhắc mình như vậy. Anh tiến hành các cuộc điều tra, lợi dụng cả hai mặt văn hóa, như một diễn viên tung hứng thực thụ.
Dù là một vụ giết người vô gia cư hay một vụ trộm xảy ra tại nhà một quý cô người Anh giàu có, anh đều giải quyết với độ quan tâm ngang nhau.
Anh quá biết các đồng nghiệp Cairo của anh có thể phân hạng một cuộc điều tra và tầm quan trọng của nó như thế nào tùy theo lợi ích, tầng lớp xã hội liên quan, hoặc đơn giản là theo thiện ý của họ. Và Matheson tự tạo cho mình nghĩa vụ gieo rắc bất hòa trong cái thế giới hoàn toàn thiếu vắng sự trung thực ấy. Không phải vì bản thân anh liêm khiết - anh còn lâu mới được vậy - mà đơn giản là để thỉnh thoảng đạp mạnh một cú vào cái ổ rắn này rồi nhìn chúng co giật giãy giụa.
Matheson tự vạch cho mình một đường biên vừa hẹp vừa mong manh ngăn cách công việc chính thức và công việc anh tiến hành một cách riêng tư, để giúp đỡ. Với những giúp đỡ đó, anh rất hiếm khi nhận tiền, nhưng vẫn duy trì các mối quan hệ, lập hồ sơ tiểu sử của người này người kia, khi có dịp lại tự cho phép mình được yêu cầu giúp lại. Mạng lưới quen biết rộng lớn của anh được tạo nên như vậy.
Cuối tháng Hai, khi đi qua hành lang và thoáng nghe mọi người nhắc đến thi thể một đứa trẻ được tìm thấy trong một ngôi nhà bỏ hoang phía Đông Bắc khu Abbasiya, Jeremy Matheson đã dừng lại để lắng nghe. Bản thân tin này, dù rùng rợn, không hẳn là điều đáng ngạc nhiên, khu vực đó của Cairo là một tập hợp những nhà ổ chuột nơi thường xuyên xảy ra chết chóc; tình trạng đứa trẻ khi được tìm thấy mới là chuyện không thể tưởng tượng nổi.
Matheson ra khỏi phòng làm việc để gặp hai sĩ quan cảnh sát. Viên sĩ quan vừa từ hiện trường về vẫn còn nhợt nhạt như một mảnh vải buồm. Anh ta không đưa ra được những chi tiết cụ thể, mà chỉ kể rằng đứa trẻ bị bẻ gãy đôi ở vùng xương chậu, như thể nó được làm bằng gỗ mỏng, người nó gập theo một góc ngoắt ngoéo, thân trước bị bẻ ngoặt ra phía sau, xương háng chọc thủng cả da thịt. Không có dấu hiệu hiếp dâm nhưng có những vết tích nhục dục.
Cuộc điều tra được giao cho thanh tra Azim Abd el-Dayim, một người Cairo gốc biết rõ khu El-Abbasiya, không còn lựa chọn nào khác nếu muốn làm việc mà không có nguy cơ bị đập vụn thành nhiều mảnh ở một nơi như thế. Anh ta không tìm được nhân chứng lẫn bất kỳ manh mối thuyết phục nào.
Ngày 2 tháng Ba, trong một con hẻm nhớp nhúa ở El-Huseiniya, người ta tìm thấy một bé gái sáu tuổi. Cô bé không bị bẻ làm đôi nhưng tình trạng lại kinh khủng theo cách khác. Năm người đàn ông lần lượt đi qua bên giường cô, không ai kìm lòng được, tất cả đều khóc như mưa, một số người còn nôn mửa, có người mơ thấy ác mộng trong nhiều đêm liền.
Samir là đứa bé ngây thơ thứ ba bị giết. Đầu nó nằm trên tảng đá của một ngôi mộ tại nghĩa trang Bab el-Nasr.
Không còn gì phải nghi ngờ về mối liên hệ giữa những tội ác đó nữa. Sự bạo hành mỗi lần mỗi khác nhưng được thực hiện với độ tàn ác ghê gớm tới nỗi khiến ta nghi ngờ về tính người của thủ phạm.
Ba đứa trẻ đều xuất thân từ những khu phố nghèo, trong những gia đình không có của cải gì.
Ba đứa trẻ đều gần như cùng độ tuổi.
Ba đứa trẻ đã bị hành hạ đến chết, bị cào cấu, bị cắn rứt từng mảng thịt.
Ba đứa trẻ đã bị làm ô uế.
Trong chưa đầy hai tuần.
Jeremy Matheson nhấc điện thoại, rồi sau đó chuyển việc. Anh từ bỏ cuộc điều tra về vụ một nhà khảo cổ bị giết khi đang tiến hành khai quật các tầng hầm của Cairo, vụ này dù sao cũng không dẫn đến đâu cả. Và anh giành được quyền điều tra về những đứa trẻ bị giết.
Azim Abd el-Dayim trở thành cộng sự của anh, vì anh ta nói tiếng Ả Rập và không có cùng màu da với anh.
Ba ngày sau, ngày 14 tháng Ba năm 1928, điện thoại đổ chuông. Và cuộc đời Jeremy Matheson thay đổi mãi mãi.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Ba Tư chỉ tiền phong bao.
[2] Quán trà.
[3] Thầy tu Hồi giáo.