Trong lúc đó, Azim đi mòn những phiến đá lát đường và nền đất nện của các khu phố phía Đông Cairo. Một người thợ vẽ thường được cảnh sát thuê đã chấp nhận vẽ cho anh một bức chân dung thật nhất có thể của nạn nhân gần nhất, nhưng cẩn thận không vẽ lại các vết thương làm biến dạng mặt đứa bé. Thám tử Matheson đã đề nghị anh nhường cho anh ta phần điều tra về cái quỹ phụ trách việc giáo dục những đứa trẻ bị giết, nhưng lại không đề nghị anh tránh xa cái quỹ đó.
Trên đường về trụ sở, anh chàng Ai Cập nhỏ bé đã xác định được nạn nhân thứ tư. Anh tìm gặp được một số người có liên quan cho đến khi một trong số họ lập tức nhận ra chân dung đứa trẻ.
Seleem Yehya, mười tuổi.
Azim chuyển thông tin cho phòng thư ký cảnh sát. May sao, để được quỹ chấp nhận, bọn trẻ phải được đăng ký với số lượng thông tin tối đa. Bắt đầu bằng địa chỉ nơi ta có thể tìm thấy chúng. Ở Cairo, các khu phố cổ có điểm đặc biệt là không phải con phố nào cũng có tên, đánh số lại còn ít hơn nữa. Khi ta hỏi đường, nói chung thường phải dựa vào các điểm mốc, ví dụ một đài phun nước, một ngôi nhà có cửa chớp màu xanh da trời hay một ngã có năm nhánh rẽ… Địa chỉ của Seleem được ghi lại theo quy tắc đó.
Trước giữa trưa, Azim tìm thấy cha mẹ của đứa trẻ, và trở thành sứ giả thông báo cái tin tang thương kia. Anh hỏi họ vài câu ngắn gọn, giữa những tiếng nức nở và kêu gào thảm thiết, trước khi biến khỏi con phố nhớp nhúa nơi họ ở.
Seleem có cùng đặc điểm như những nạn nhân trước. Một đứa trẻ trầm tĩnh, linh hoạt và hiếu kỳ - chính vì thế mà nó đến với quỹ - và không thuộc loại hay gây chuyện. Và đặc biệt: nó được miêu tả là rất nghe lời.
Làm sao kẻ giết người có thể lôi kéo những đứa trẻ ngoan ra khỏi nhà, giữa đêm tối, và hoàn toàn tự nguyện?
Mong muốn được biết rõ hơn về cái quỹ kia khiến anh sôi lên vì nôn nóng. Nhưng anh đã hứa với thám tử Matheson là không làm gì cả, là sẽ đợi anh ta.
Chìa khóa của vấn đề nằm trong phương thức kẻ sát nhân sử dụng để lôi kéo những đứa trẻ đến với hắn. Azim linh cảm thấy điều đó.
Làm thế nào để lôi kéo một cậu bé hay một cô bé đến với ta? Làm thế nào để dụ nó ra khỏi nhà không một tiếng động, không báo cho ai biết, ngay giữa đêm khuya?
Một người phương Tây cùng ít tiền hay đơn giản là những đồ vật kỳ lạ mang đến từ đất nước của anh ta có thể gợi lên trí tò mò. Nhưng giả thiết này bao hàm cả việc người Anh nói được tiếng Ả Rập, có thể tạo lòng tin trong bọn trẻ, nhưng kèm đó là nguy cơ dễ bị nhận ra trong các khu phố Ả Rập. Trừ phi hắn di chuyển trong bộ áo dài djellaba. Hoặc hắn biết rất rõ khu vực này, để tránh những con phố đông người. Xét cho cùng thì mọi khả năng đều có thể xảy ra.
Azim không ngừng lặp lại những câu hỏi đó. Anh cũng có ý nghĩ riêng, nhưng khó mà chấp nhận được.
Một thứ bùa ếm. Một sự mê hoặc tai ác, theo kiểu các ghûl, nhử mồi bằng những mưu mô quỷ quái, những lời nói dối và ma thuật. Tất nhiên, việc này hoàn toàn không có cơ sở.
Không có cơ sở chẳng kém gì tin đồn đang ám ảnh các khu phố phía Đông. Rằng kẻ giết người là một ghûl.
Tuy nhiên… điều này có thể giải thích nhiều chi tiết. Bạo lực cùng cực - không người nào có thể tàn bạo như thế với một đứa trẻ, trừ một kẻ tâm thần đã trở nên thú vật. Những vết vuốt khổng lồ - hiện chưa có lời giải thích nào hợp lý, không ai ngoài ông bác sĩ già chán chường tin rằng chính những cái móng tay đã tạo nên những vết khắc sâu như thế, hơn nữa ông nghĩ đến điều này không phải dựa vào hiểu biết y học mà vì ông không có giả thiết nào khác. Bùa yểm - giải thích việc những đứa trẻ tình nguyện đến với tên giết người. Và nhất là: những lời chứng - giả thiết kia bắt nguồn từ đó, xét cho cùng thì cũng có người từng nhìn thấy con quái thú.
Những lời chứng.
“Nếu đó là cơ sở cho sự tồn tại của nó, con quái ấy, thì phải tìm hiểu ngay từ đó để làm rõ mọi việc!” Azim nói lớn khi đi trên một con phố thuộc khu Darb el-Ahmar, khu phố cổ của thành phố.
Anh dừng lại uống nước tại một cái đài phun nước, vã nước lên mặt và cổ trước khi trở lại khu El-Abbasiya tìm gặp gia đình anh đã đến thăm hôm trước cùng Jeremy Matheson.
Trên đường đi, anh thấy ngạc nhiên vì đồng nghiệp người Anh không bác bỏ giả thiết về ghûl. Anh ta thờ ơ trước điều phi lý đến mức không buồn lắng nghe anh. Azim đã thổ lộ với anh ta rằng ghûl là các nữ quỷ. Vậy mà, người ta tìm thấy tinh dịch trên người các nạn nhân. Thám tử người Anh đã không tập trung đúng mức.
Azim lật đi lật lại câu hỏi này trong đầu đã được một thời gian. Tất nhiên, câu chuyện về ghûl chỉ là một truyền thuyết để gây sợ hãi… nhưng ai hoặc cái gì ẩn phía sau thứ đi lang thang ban đêm trên phố đó? Bởi Azim không hề nghi ngờ việc chắc chắn có một cái gì đấy. Anh hiểu rõ đồng bào của anh, họ nhanh nhảu thêu dệt các sự kiện, nhưng không bao giờ có khói mà không có lửa. Phía sau chuyện ghûl ẩn giấu một sự thật.
Azim quay lại ngôi nhà đang để tang, bọn trẻ không ở nhà. Chỉ còn người cha và bà vợ ông ta. Viên thám tử hỏi han bà ta hồi lâu, hỏi tên những người phụ nữ có thể chỉ dẫn anh, và nơi có thể tìm được họ. Rồi anh đi tìm.
Anh tìm thấy hai trong số ba người. Người đầu tiên kể rằng cậu của cô là người trực tiếp nhìn thấy con quái vật; Azim đề nghị gặp ông ta. Ông ta sống trong khu Gamaliya.
Người thứ hai kể với anh về một phụ nữ khác có chồng từng rình ghûl. Tim Azim nẩy lên khi anh biết đôi vợ chồng đó sống dưới khu nghĩa địa Bab el-Nasr, cũng ở khu Gamaliya. Họ không phải cùng một người. Azim ghi lại những thông tin cần thiết rồi cảm ơn cô.
Một giờ sau, anh đi bên một ông cụ, ria màu xám, da sạm lại dưới hàng thập kỷ mặt trời nóng bỏng, di chuyển trong bộ áo dài djellaba màu xanh da trời, màu đặc trưng của người Tuareg[1], những ‘Con người Xanh da trời của hoang mạc’. Azim nêu lý do có mặt, và giải thích rằng cháu gái ông ta chỉ anh đến đây vì cái ‘con vật’ ông ta từng nói là đã thấy.
Họ bước bên nhau, cùng đi xuống một con phố hẹp đến nỗi những khu nhà cũ kỹ mọc hai bên khiến nó giống một cái vực sâu.
“Hãy kể tôi nghe chuyện đó xảy ra trong hoàn cảnh nào,” viên thám tử đề nghị.
“Lúc đó đã muộn, tôi ở cả tối tại nhà một người bạn vẫn còn quán ghoraz[2]. Anh biết đấy, giờ không giống trước nữa, với đám người Anh đó. Họ nói rằng chúng ta độc lập, vậy mà họ lại muốn đóng cửa các quán hút thuốc. Họ là ai mà lại áp đặt điều đó cho chúng ta, hả?”
“Tất nhiên rồi. Nhưng hãy quay lại tối hôm đó, ông nói là ông ở trong một quán ghoraz. Ông có hút nhiều thuốc không?”
“Không nhiều hơn lệ thường.”
“Và ông đang trên đường về nhà thì sự việc xảy ra phải không?”
“Phải, ở phía dưới kia một chút, ta sắp đến nơi rồi. Tôi đang đi chậm rãi, tâm hồn thư thái vì khói thuốc. Bỗng dưng tôi cảm thấy có một cái gì đó. Đầu tiên gáy tôi run lên. Tôi cứ ngỡ như tóc mình tự dựng đứng! Thế rồi tôi suy nghĩ, tôi áp sát người vào tường. Phải nói rằng trời khá tối, ở đây không có thứ ánh sáng bằng ga như những khu phố sang!”
Ông già bắt đầu nói to, gần như hét lên.
“Tôi hiểu,” Azim xoa dịu bằng cách đưa bàn tay đỡ khuỷu tay ông ta, như để dẫn đường.
“Tôi dán chặt mình vào tường, thật thế, anh biết đấy! Chính là cơ thể tôi đã dẫn dắt tôi, nó đã cứu tôi thoát chết! Và anh biết tại sao không? Bởi thuốc haschisch giúp tâm trí tôi hiểu biết rõ hơn về thế giới này. Tâm trí tôi mở ra đón nhận những gì đến từ thế giới bên kia! Và nó đã cảm nhận được thứ đang đến gần, rồi báo động cho cơ thể tôi, và cơ thể tôi truyền đạt lại cho tôi để rồi, tôi, con người ở bề nổi, tôi hiểu rằng có cái gì đó phi nhân tính đang đến gần.”
Cần phải xem xét lời chứng này một cách thật dè chừng, Azim kìm lòng lại, gần như thất vọng. Tối đó hẳn ông già đã bị thuốc phiện tác động quá mức nên không được tỉnh táo, cần phân biệt rõ những gì có thể là thật nhưng được thêu dệt thêm, và những gì là kết quả của bộ óc hoàn toàn mê sảng.
“Rồi ghûl hiện ra từ bóng tối, toàn thân phủ kín trong bộ áo choàng đen với mũ trùm rộng che mặt. Nó đi chậm rãi, nó rất cao, phải gần hai mét, và nó đi vào con hẻm cụt phía dưới.”
Quả thật, họ đến nơi giao giữa mấy phố, cũng chật hẹp như những con phố từ đó tỏa ra. Ông cậu già chỉ chỗ ông đứng tối hôm đó và chỉ ngón tay vào cái ngõ cụt nơi con vật đi vào.
“Dù cơ thể giữ tôi lại, có lẽ tôi cũng không thể biết nó thật ra là gì nếu nó không ngẩng mặt lên trước khi bỏ đi. Nó muốn nhìn lên phía trên và lúc đó, tôi đã thấy những nét quỷ dữ của nó dưới ánh trăng. Nó không có mặt, chỉ có thịt và răng! Kể từ hôm đó đêm nào tôi cũng gặp ác mộng.”
Azim cúi người xem xét phía bên trong con ngõ. Nó không sâu lắm và không cao hơn là mấy so với phần còn lại của khu phố, nơi có nhiều nhà hai tầng nối tiếp nhau, một số nhà ở trong tình trạng tồi tàn tới nỗi không thể nghĩ đến việc sống trong đó.
“Sau đó ông có ở lại lâu không?” Viên thám tử hỏi.
“Ít ra là năm phút. Tôi đã bị tê liệt, tôi thật sự sợ hãi, anh biết đấy. Rồi tôi men theo các ngôi nhà thật nhanh và ngược về nhà mình.”
“Vậy là ông đi qua cái ngõ cụt đó phải không?”
“Phải. Không nhìn rõ bên trong lắm, nhưng tôi tin rằng nó vắng tanh. Dù sao thì con quái vật cũng không từ đó lao ra khi tôi đi qua.”
Azim vừa gật đầu vừa đảo mắt qua phần mặt tiền. Anh đếm được mười ba cánh cửa. Nhưng cũng có thể thoát qua bằng bức tường trong cùng, không cao lắm.
“Ông biết rõ khu này chứ?” Azim hỏi người đối thoại và ông này gật đầu. “Vậy có lẽ ông biết phía bên kia bức tường, tận trong cùng kia, dẫn đến đâu phải không?”
“Đến một cái sân sau, đầy gạch vụn.”
Vậy là, ta có thể đi ra theo bất cứ hướng nào. Azim khó lòng giấu nỗi thất vọng.
“Kể từ đó ông có gặp lại nó không?”
“Ôi không! Và tôi cũng không mong thế đâu!”
Azim cảm ơn ông già rồi đi tìm nhân chứng thứ hai, một người bán quần áo. Anh tìm thấy ông ta trong cửa hàng, đang cầu nguyện. Thầy tu báo giờ kinh đã gọi các tín đồ đến dự buổi lễ Asr, lễ cầu kinh chiều. Azim đợi trên ngưỡng cửa chờ cho lễ cầu kinh kết thúc. Anh im lặng thầm nguyện bài kinh Coran. Khi chấp nhận vào ngành cảnh sát với chức vụ quan trọng thế này, anh cũng đã chấp nhận để qua một bên việc thực hành các nghi lễ tôn giáo trong giờ làm việc.
Người bán hàng cũng nhìn thấy cùng một con vật. Một thứ cao lớn, toàn thân phủ áo choàng đen với mũ trùm.
“Cao như thế nào?”
“Tôi không biết, cao hơn tôi một cái đầu.”
Người đàn ông cao chừng một mét bảy mươi. Dù sao cũng không bằng hình ảnh quá khổ mà ông già hút haschisch miêu tả khi nói là thấy một ghûl cao hai mét. Một mét tám nhăm, một mét chín, Azim ước chừng.
“Tôi đang ngồi trên hiên nhà,” nhân chứng nói tiếp,. “thì thấy nó lướt qua ngay phía dưới, trên mái nhà ông hàng xóm. Ở đó nó tìm đến đống quần áo trẻ con đang phơi, rồi nhảy sang nhà bên cạnh, dừng một lúc trước một cái cửa sổ mái để tìm cách chui vào. Đó là lối vào phòng bọn trẻ con của nhà hàng xóm nhà tôi. Nó muốn chui vào, nhưng vì không mở được cửa nên nó bỏ đi. Tôi chắc chắn chính nó đã giết lũ trẻ. Chúng là thứ nó tìm kiếm vào ban đêm.”
“Nó nhảy từ mái nhà này sang mái nhà khác ư?”
“Vâng, nhanh nhẹn lắm, nó không gây tiếng động đâu.”
“Ông có nhìn được mặt nó không?”
Có một khoảng lặng giữa hai người đàn ông.
“Có. (Người bán hàng lấy hơi rồi nói liền một mạch). Nó thường xuyên nhìn lại phía sau. Và khi đi qua trước mắt tôi, nó tiến lên phía trước và trước khi nhảy sang nhà hàng xóm, nó đã quay đầu lại.”
Ông ta ngồi xuống cái ghế đẩu, mắt nhìn xa xăm.
“Đội ơn thánh Allah, tôi đã không nhìn vào mắt nó, nếu không tôi chắc là nó đã hớp hồn tôi rồi. Nó không có…”
Ông ta đưa một tay lên sờ má, mũi rồi đến cằm và môi.
“Nó không giống người chút nào. Không có da, không có nét mặt, chỉ có gân, máu và răng. Những cái răng sáng lóe trồi ra khỏi hàm, gần như lên đến tận tai. Không bao giờ tôi có thể quên được.”
Azim bị lời kể hút hồn, đến mức anh quên mất mình đang ở đâu và đang làm gì giữa đống vải vóc từ trần nhà rủ xuống này.
“Còn tay nó… Tôi cũng nhìn thấy tay nó, và dù đêm tối tôi vẫn nhận ra nó không giống người chút nào. Ngón tay nó quá dài, và… Và nó có những cái vuốt dài ngoằng, đáng sợ hơn cả vuốt đại bàng.”
Azim chớp mắt, như sực tỉnh trở lại. Anh hỏi người bán hàng thêm vài điều và biết rằng ông ta sống cách nơi ông cậu già nghiện thuốc nhìn thấy ghûl chưa đầy năm trăm mét theo đường chim bay.
“Ông có con không?” Azim hỏi.
“Bốn đứa.”
“Vậy đừng để chúng ngủ trên mái nhà, dù trời có nóng đi chăng nữa.”
Người đàn ông tiến lại gần Azim.
“Anh điên à? Tôi đã nhìn thấy con quái vật đó. Không bao giờ tôi làm thế cả! Thậm chí lũ trẻ nhà tôi sẽ được không ra ngoài một mình!”
“Khôn ngoan thận trọng đấy. Mặc dù tôi nghĩ là ít có khả năng cái… thứ đó lại quay về khu này…”
“Người ta không nói với anh ư?” Người bán hàng ngạc nhiên. “Nó không chỉ đến đây một lần đâu. Tôi nhìn thấy nó nhiều lần rồi.”
❀ ❀ ❀
[1] Dân tộc du mục ở hoang mạc Sahara.
[2] Quán hút thuốc haschisch.