Jeremy Matheson cùng đồng nghiệp Azim Abd el-Dayim rẽ lối đi trên con phố đi bộ của khu El-Musky. Nơi đây, ta chỉ có thể đi bộ hoặc cưỡi lừa, mật độ người đi lại và các sạp hàng khiến ta không thể làm khác được.
Dưới những mặt tiền cao cũ nát có ban công trồi ra, các quầy hàng sâu lòng thoải mái lấn đến tận giữa phố, tạo thành một dãy dài nối tiếp những bó hoa màu sắc sặc sỡ và những tấm mạng che mặt đượm mùi hương lạ.
Jeremy chui qua một tấm thảm lớn bằng da lạc đà treo cao như một cái lều, tấm da tỏa mùi chua, ngửi muốn lộn mửa. Một người bán lụa gọi anh nhưng rồi lùi lại ngay khi thấy Azim đuổi anh ta đi bằng chính ngôn ngữ của anh ta.
Những khăn quàng lụa đỏ, xanh lá cây, xanh da trời, vàng và những màu biến tấu từ chúng lần lượt biến mất để mở lối vào một mê cung các sọt đầy chà là và sung mũm mĩm tỏa mùi ngọt lừ.
Ai cũng nói, cũng hét lên bằng tiếng Ả Rập, đổi tiền lấy thực phẩm, đám đàn ông đùa cợt và cười phá lên để lộ những cái miệng móm, người ta rình rập lẫn nhau, thèm muốn lẫn nhau dưới vành mũ fez, mũ tarboosh, khăn đội đầu, tránh nắng nhờ những mái che bằng da thuộc, vải hay những đại diện khác đặc trưng cho lối kiến trúc cổ.
“Tại sao lại là một ‘thợ săn’?” Azim hỏi. “Lúc nãy ngài có nói rằng kẻ giết người là một thợ săn. Cùng lắm thì hắn là một tên thú vật, một thằng điên đáng bị xử chém, chứ sao lại gọi là ‘thợ săn’?”
“Vì đó chính là những gì hắn đã làm. Khi đi săn ở châu Phi, tôi lượn nhiều giờ liền ngoài trảng cỏ, rình con mồi từ xa, tiến đến gần nó thật nhẹ nhàng, ở vị trí cao hơn nó nếu có thể, nếu nó phát hiện ra tôi thì tôi dụ nó đến nơi tôi muốn, lừa nhốt nó vào trong một vùng trũng kín hoặc một đường cùng nào đó, để nó bị giam hãm, và nếu có tầm nhìn từ trên cao, tôi chỉ việc lao xuống, nó sẽ bị tiêu diệt rất nhanh.”
“Trước hết đó là một kẻ bệnh hoạn, thưa ngài. Phải bị điên thì mới đi giết một đứa trẻ con. Mà không chỉ giết đứa trẻ, hắn còn tàn sát nó. Đó là một thằng điên!” Anh chàng nhỏ bé người Ai Cập lớn tiếng công kích.
“Không chỉ có thế đâu, Azim ạ, mọi việc còn đi xa hơn cơ. Hắn không những giết đứa trẻ, mà còn lần theo nó nữa. Hắn săn đứa trẻ. Và trong cuộc săn, khoái cảm không nằm ở giây cuối cùng, khi cò súng đã nhấn, dù đó cũng là một phần của khoái cảm. Nó nằm trong những nghi thức trước đó, việc dò kiếm chậm rãi và tỉ mẩn để định vị con mồi, lần theo dấu vết con mồi, điều khiển con mồi từ xa, bủa vây con mồi. Khoái cảm nằm ở đó. Và đó chính là điều hắn đã làm, tên giết người đó, hắn đã đi săn, hắn có khoái cảm khi vây dồn.”
Azim xua tay trong không khí ra hiệu không đồng ý.
“Ấy vậy mà,” Jeremy bồi thêm,. “kẻ giết người giấu mình sau bức tường, trên nóc một lăng mộ, rình đợi nạn nhân đến. Hắn đã chờ đợi, để nhảy xổ vào nạn nhân, không cho nạn nhân bất kỳ cơ may nào. Tiếp đó hắn chơi vờn nạn nhân… Đó là suy nghĩ của một thợ săn, cũng là một kẻ đồi bại. Hắn yêu thích những gì hắn làm.”
“Tại sao ngài lại nói vậy? Ngài đọc được trong đầu hắn ư?”
“Các dấu vết cho phép ta khẳng định điều đó.”
“Rốt cuộc ngài có định nói cho tôi biết ngài đã tìm thấy thứ gì trên đó không?” Azim giả bộ bực bội.
Họ đi giữa những chiếc túi đựng gia vị treo vào một giàn cây hình vòm dài bất tận, đột nhiên từng đợt sóng mùi hương liên tiếp tràn vào mũi họ.
“Thứ khiến tôi nói hắn là một kẻ đi săn đồi bại, Azim ạ. Tinh dịch.”
“Cái gì cơ?”
“Anh hiểu rất rõ đấy. Tinh dịch của hắn, tôi chắc chắn vậy. Hắn không thể kìm nổi khi quá kích thích. Người ta rỉ tai nhau rằng điều đó xảy ra đối với nhũng tay thợ săn thiện nghệ, anh biết đấy, rằng họ… cương cứng trong những phút giây hồi hộp nhất của cuộc săn. Hắn đã không thể tự kiểm soát được. Và việc này tốt cho ta.”
“Tốt cho ta? Ngài là kiểu người Anh gì mà lại nói như vậy? Ngài nói với tôi về thợ săn, hành vi tình dục, và… Tốt cho ta?”
“Phải, rất nhiều thông tin nếu anh thích cách nói này hơn,” Jeremy Matheson chữa lại mà không bận tâm đến vẻ ngạc nhiên của đồng nghiệp. “Trước hết, ta xác định tính cách của hắn được rõ ràng hơn. Tiếp theo, ta biết rằng đó là một người đàn ông chứ không phải một phụ nữ trốn khỏi nhà thương điên. Ta biết rằng rất có thể hắn mặc một chiếc áo choàng dài boubou[1] hoặc djellaba[2], nếu không tinh dịch của hắn đã không rơi xuống đất, tôi khó lòng tin rằng một thợ săn sắp sửa lao vào con mồi lại để mở khóa quần; và để kết thúc, chắc chắn là điều quan trọng nhất: chúng ta biết rằng có một hướng điều tra bằng cách nghiên cứu thời gian biểu của đứa trẻ.”
Azim dừng lại giữa con phố luôn náo nhiệt không ngừng, mọi người xô vào anh một chút nhưng không càu nhàu gì.
“Tôi không hiểu ý ngài,” anh thú nhận.
“Anh cứ nghĩ mà xem, anh bạn ạ… Sở dĩ hắn có mặt ở đó, sẵn sàng cho cuộc săn, là vì hắn biết trước có người sẽ đến. Một sự kích thích tới mức ấy cần phải được chuẩn bị sẵn, tôi khó tưởng tượng nổi nó lại đột ngột xảy ra, không, hắn đã nghĩ đến điều đó được một thời gian trước khi đứa trẻ xuất hiện. Hắn đã rình nó, trước khi giết chết nó. Và anh cũng sẽ dễ dàng đồng ý với tôi rằng khu mộ cổ của các vua Thổ Nhĩ Kỳ không phải là nơi ta bắt gặp nhiều trẻ con! Hắn biết rằng nạn nhân của hắn sẽ đến, vì hắn đã dụ dỗ nó, hoặc là hắn biết thời gian biểu của nó. Đó là điểm chúng ta phải tiến hành tìm kiếm.”
Jeremy dùng mặt trái ống tay áo lau mồ hôi trán.
“Vẫn còn nỗi khiếp sợ của đứa trẻ,” anh sầu thảm thêm vào.
“Mái tóc trắng, ý ngài là thế phải không?”
“Dù là bị bất ngờ thì tôi vẫn không hiểu sao thằng bé đó lại có thể sợ đến thế.”
Azim lục lọi trong đống từ vựng tiếng Anh trước khi nói:
“Diện mạo kẻ giết người. Có thể vẻ ngoài hắn cũng xấu xí như bên trong.”
“Có thể lắm, có thể lắm…”
Azim nhăn cằm và gật gù cái khăn đội đầu tỏ vẻ đồng tình.
“Dù sao tôi cũng rất ấn tượng với bài học suy luận này. Phải nói là hơi điên rồ một chút, nhưng hoàn toàn hợp lý. Và điều này quả thật dẫn chúng ta đến một hướng điều tra, hoan hô. Hơn nữa, trong giả thuyết về kẻ giết người-thợ săn, ta có thể thêm vào một yếu tố luôn làm tôi trăn trở từ khi tiến hành điều tra: hắn có bản năng lãnh thổ. Ngài cứ nhìn mà xem, hắn luôn giết người trong một vùng được xác định rõ ràng: phía Đông Cairo. Từ khu tường thành đến tận phố El-Abbasiya. Hắn đã ấn định khu vực đi săn.”
“Phải rồi, chính xác là vậy. Có lẽ cần phải tìm kiếm thêm nữa, nhưng để bắt đầu chúng ta phải tiến hành việc cấp bách hơn: xác định danh tính thằng bé.”
Jeremy bỏ vào miệng một quả chà là anh vừa thó trên đường đi trước đó không lâu.
“Ngài có óc phân tích xuất sắc,” Azim bình luận. “Khi ta để người thám tử lên tiếng, thì việc được theo bước anh ta trong những lập luận là cả một kho báu.”
Jeremy nhìn anh ta chằm chằm một lúc rồi mới chữa lại:
“Đó không phải là những gì người thám tử nói, Azim ạ; anh ta không cảm nhận được những điều đó đâu. Không. Đó là người thợ săn.”
Họ ở dưới tầng hầm một tòa nhà cổ. Đủ sâu để hơi mát có thể lan tỏa và được duy trì bất chấp nhiệt độ cao bên ngoài.
Căn phòng có trần dạng vòm, khá thấp, được chiếu sáng vừa bằng những ngọn đèn lồng đốt ga treo tường vừa bằng đèn dầu tỏa mùi ngấy dai dẳng, lẫn với mùi kinh khủng hơn của thịt. Đó là một mùi hăng hắc, phả ra từ giăm bông hỏng và mùi hôi của nhiều loại thức ăn để thiu qua nhiều ngày trong một cái túi rồi đột ngột mở ra.
Bốn cái bàn gỗ phủ giấy nến xếp nối nhau dưới hai tấm bảng đen lớn. Mấy cái bàn thu dọn bát đĩa nằm song song với bốn cái bàn lớn, người ta đặt trên đó những dụng cụ mảnh và sắc, cái nào cái nấy trông rất đáng sợ: dao cạo mỏng, có khía, có răng, kìm cắt, cưa, và thậm chí cả búa. Trong một góc có một cái thước dài nửa mét được đặt thăng bằng, trên nền sơn vàng lốm đốm những vòng tròn đỏ.
Và trong cái bồn rửa duy nhất nhưng rất to chồng chất hàng đống những dụng cụ nhớp nháp, một đáy nước tù đọng màu boóc đô, trong đó nổi lên những chất đặc hơn, lằng nhằng nhiều thớ. Những tập giấy ghi rộp lên do ngấm nước chất thành đống trên cái bàn nhỏ gần lối vào.
Jeremy Matheson đứng đối diện một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, bộ râu và mái tóc màu trắng. Cái tạp dề màu đen của ông ta ánh lên vẻ ẩm ướt kỳ lạ dưới ánh đèn.
“Đây là lần cuối cùng tôi làm việc vội vã thế đấy nhé,” ông ta báo trước.
“Ông biết là việc quan trọng mà, bác sĩ. Thế nào?” Jeremy hỏi.
Người đàn ông luống tuổi quay về phía hình người được phủ một tấm ga trên cái bàn ngay cạnh.
“Đứa bé tội nghiệp đã trải qua một khoảnh khắc vô cùng kinh khủng, ông có thể tin tôi, nó đã bị đánh rất mạnh, hầu như toàn thân nó có vết bầm máu. Người ta đã bẻ gãy cánh tay trái của nó, vỡ làm ba phần, khuỷu tay cũng vậy, nhiều xương sườn…”
Ông quay người đối diện với một trong những tấm bảng lớn trên đó ghi lại nhiều quan sát khác nhau.
“… Chính xác là bốn. Tóm lại, tôi bỏ qua phần còn lại, mọi thứ sẽ được miêu tả chi tiết trong bản báo cáo mà thư ký đưa cho anh. Điều khiến anh quan tâm đây: nó chết do bị bóp cổ bằng tay, tôi gần như chắc chắn thế. Hơn nữa cứ nhìn vào các vết thương thì thằng bé cũng không sống sót lâu được. Điều khiến tôi bối rối là những dấu vết để lại trên cổ nó.”
Ông ngồi ghé lên mép bàn.
“Anh biết đấy, thám tử ạ, khi bóp cổ một người, cần vận sức để chặn đứng sự lưu thông của không khí vàhoặc của máu, thế nên phải bóp thật mạnh… Và thường thì ta ấn sâu ngón tay vào da, để lại các vết móng tay, vết xước hay trầy da. Trong trường hợp này, đó rõ ràng là những lỗ sâu, những vết trích máu, có khi khá sâu.”
“Điều đó có nghĩa gì? Rằng kẻ giết người có một món vũ khí sắc ư?”
“Không, không hẳn vậy. Rõ là có vết ngón tay, các vết bầm có hình giống với bàn tay. Không, điều đó có nghĩa là kẻ giết đứa bé này có móng tay rất cứng, và rất dài, gần như sắc lẻm.”
Vị bác sĩ cầm lấy cái bát sứ chứa mẩu sừng tam giác mà Jeremy và Azim tìm thấy cách đấy vài giờ.
“Nếu anh muốn nghe ý kiến của tôi, thì vật này hoàn toàn có thể là một phần của nó.”
Jeremy nghiêng người về phía ông ta, gập gáy xuống. Anh không hiểu.
“Cái gì cơ?”
“Tôi chỉ nói đơn giản là cái mẩu này có thể là một phần của cái móng đó.”
“Cái này ư? Ông không nghĩ thế chứ? Nó quá to! Thế thì tên giết người hẳn phải là một kẻ khổng lồ kinh dị!”
“Nghe này, tôi không phải là người chắp nối các sự việc lại với nhau, người nào việc nấy, và việc của tôi khiến tôi nghĩ rằng đó có thể là một mẩu móng tay. Nhọn, dày, cứng, chắc chắn rồi, sao lại không. Dù sao nó cũng trùng khớp với kiểu vết thương trên người thằng bé. À, phải rồi, bởi vì không chỉ có những vết cào tương tự trên họng mà trên khắp cơ thể hoặc gần như thế. Bất kỳ chỗ nào nó bị chạm tới, ta đều thấy những vết cắt thế này, như của một bàn tay có móng quá dài.”
“Những cái vuốt, hẳn ông muốn nói vậy…”
“Cứ nhìn vào kích cỡ và độ sắc thì đúng thế, ta có thể cho đó là những cái vuốt.”
“Nó… nó có bị xâm hại tình dục không?”
Vị bác sĩ có vẻ do dự.
“Theo nghĩa đen của từ này thì không. Hơi giống những đứa trẻ khác, có tinh dịch trên người nó, nhưng không có sự giao cấu.”
“Còn gì nữa không?”
Ông bác sĩ đưa tay sờ râu. Viền móng tay ông có màu đỏ của một chút máu khô.
“Các chi tiết sinh học, không liên quan gì đến khía cạnh tội phạm cả. Khi mổ đứa trẻ, tôi nhận thấy nó thuộc kiểu người situs inversus, nghĩa là kiểu người có nội tạng bị đảo lộn, tim gan nằm bên phải chứ không phải bên trái. Thường thì ở người trưởng thành, ta nhận thấy điều đó trước cả khi khám nghiệm tử thi, vì tinh hoàn bên phải sẽ thấp hơn tinh hoàn bên trái, trên lý thuyết là vậy, với những người tim bên trái thì ngược lại.”
“Và điều đó có thay đổi được gì không?”
“Không gì cả, chỉ là một điểm đặc biệt thôi. Một điều nữa: thằng bé bị bệnh ưa chảy máu. Tôi không thể dám chắc điều đó, nhưng với tôi nó có vẻ khá rõ ràng. Ống tiêu hóa và các khớp xương đều có dấu hiệu chấn thương liên quan đến bệnh ưa chảy máu. Còn về các vết thương, máu chảy quá nhiều so với kiểu vết thương này, hầu như không có dấu vết đông máu.”
Jeremy nhìn lướt về phía cuốn sổ ngự giữa đống dao mổ cũ. Những giọt nhỏ màu đỏ chứng thực cho những trang viết nguệch ngoạc.
“Cảm ơn bác sĩ.”
“Đây là lần cuối cùng tôi làm việc khẩn cấp thế này đấy nhé,” ông bác sĩ nhắc lại,. “lần sau, anh sẽ phải đợi đấy.”
“Tôi biết rồi…”
“Không, anh không biết gì cả,” ông ta giận dữ tiếp lời khiến Jeremy bất ngờ,. “làm việc khẩn cấp có nghĩa là phải đánh liều thọc tay vào sục sạo và có thể bị đứt tay. Anh có biết tất cả những căn bệnh lây qua đường đó không? Hai bác sĩ vừa chết cách đây không lâu như thế đấy, một người ở Alexandria vào mùa đông vừa rồi và một người ở ngay đây vào năm ngoái. Viêm quầng[3], anh đã nghe đến bao giờ chưa? Chưa hả? Đó là một bệnh nhiễm trùng làm chết hàng loạt bác sĩ từ vài năm nay. Chỉ bị đứt tay một chút, vậy là quá muộn… Phần da tổn thương sưng phồng, sốt rồi ra đi. Tôi không sống sót qua chiến tranh tại Pháp để chết một cách ngớ ngẩn như vậy! Đây là lần cuối đấy.”
Người đàn ông vớ lấy một mảnh giẻ sạch rồi máy móc lau tay. Ông ta liếm môi rồi day cơ hàm cho đỡ mỏi, làm bộ râu đung đưa qua lại. Tiếp đó ông quay về phía Jeremy Matheson, anh đang nhìn chằm chằm vào cái đống quá nhỏ bé phủ ga nằm trên bàn.
“Buồn, phải thế không?” Ông nói.
Ông lại gần viên thám tử, tay cầm miếng giẻ.
“Anh biết không, đôi lúc, khi đang mày mò trong bụng chúng ta, tôi ngừng lại một phút để ngắm nhìn cái tác phẩm là thân thể con người. Chúng ta mới khác nhau làm sao. Có người có động mạch rất chắc, rộng, khó bị tắc. Ngược lại, có người lại có mạch máu mỏng và hẹp. Tại sao? Không có nguyên tắc nào cả. Rất có thể không phải do di truyền, đó là lỗi may rủi của tạo hóa, anh sinh ra với thiên hướng chết sớm hay không. Đối với thằng bé khốn khổ này, việc đó đến nhanh hơn nó nghĩ. Tim nó đã đập chừng, xem nào, một tỷ lần trước khi ngưng chứ gì? Gần như vậy. Một tỷ tiếng gọi cuộc sống coi như vô ích. Sẽ không ai nghe thấy gì cả. Nó quay về với cát bụi.”
“Ông làm tôi phát sầu, bác sĩ ạ.”
Jeremy thân mật vỗ vai ông ta rồi tỏ vẻ sắp đi về phía lối ra, một cái cầu thang nhớp nhúa.
“Anh sẽ tìm được hắn chứ, cái kẻ đã gây ra việc này ấy?” Ông bác sĩ hỏi sau lưng anh.
Jeremy đứng bất động trên bậc thang đầu tiên. Anh hoàn toàn không ngờ đến biểu hiện quan tâm này từ phía người đàn ông ngay từ đầu đã có vẻ dửng dưng giữ khoảng cách với tình huống này. Dưới ánh sáng những ngọn đèn lồng đong đưa, ông ta lại nói thêm:
“Nếu anh tìm thấy hắn, thám tử ạ, xin hãy vui lòng bắn hắn một phát cho riêng tôi.”
Jeremy gặp lại Azim một lúc sau đó, vào cuối buổi chiều. Anh chàng người Ai Cập nhỏ bé đã làm một vòng quanh các đồn cảnh sát để kiểm tra xem có đơn trình báo trẻ em mất tích nào không. Anh ta tìm một đứa trẻ chừng mười tuổi với những đặc điểm nhận dạng - trong chừng mực những gì anh ta có thể quan sát - tương ứng với đứa trẻ được tìm thấy sáng nay ở con hẻm cụt.
Không kết quả gì.
Gần như chắc chắn là thằng bé xuất thân từ một khu phố nghèo, và rất thường xuyên, trong môi trường đó, người ta ưu tiên tìm cách giải quyết vấn đề với nhau trước khi tìm đến chính quyền. Đơn trình báo mất tích có thể phải mất nhiều ngày mới được trình ra.
Jeremy thuật lại cho Azim tất cả những gì vị bác sĩ cho anh biết, không bỏ qua một chi tiết nào, Azim không ghi chép, chỉ ghi nhớ các thông tin mà không biểu lộ cảm xúc gì.
“Azim này, tôi sẽ làm một vòng phía trại điên để chắc chắn rằng không có cuộc bỏ trốn hay trả tự do cho một kẻ từng hiếp dâm trẻ em nào, trong lúc đó, anh nên làm một vòng quanh các bệnh viện kiểm tra xem gần đây có đứa trẻ nào nhập viện vì bị tấn công tàn bạo kiểu này không. Ai mà biết được, rất có thể đã có những vụ không thành từ trước.”
“Được thôi, nếu tôi được phép nói, thì ngài đừng quên đảo qua Ibn Touloun, cái nhà thờ Hồi giáo cũ. Đáng nhẽ phải sửa chữa nó trong năm nay, nhưng hiện tại nó đang chứa chấp những lão già lẩn thẩn. Người ta nói rằng bệnh nhân ở đó đôi khi rất nguy hiểm, đó cũng là một hướng điều tra đấy.”
Matheson đồng tình và cảm ơn anh ta rồi hai người đàn ông chia tay nhau. Viên thám tử người Anh ngược lên khu Abbas nơi anh dành hẳn ba giờ đồng hồ để thu nhặt những thông tin cần thiết. Có đến hơn năm nghìn bệnh nhân điều trị ở đây, trong những điều kiện độc hại cho sức khỏe.
Khi hoàng hôn phủ lên Cairo, Jeremy Matheson ẩn mình trong quán qahwa quen thuộc, một quầy hàng nhỏ lụp xụp không bày biện trang trí gì gần nhà ga trung tâm. Qahwagi, ông chủ quán, trực tiếp rót cho anh một cốc cà phê arriha, với một ít bạch đậu khấu cho thơm, mọi sở thích của viên thám tử người Anh đều được biết đến tại quán này.
Mấy người già chơi trò mankaleh[4] cách đó không xa, vừa chơi vừa tán gẫu, trong khi đó một người kể chuyện rong đang kể một trong những truyền thuyết bằng tiếng Ả Rập cho những ai muốn nghe.
Những cuộn khói từ ống điếu bay dày đặc không khí, tỏa mùi dầu vị táo hoặc hôi mùi má assil[5].
Jeremy để giọng nhát gừng của người kể chuyện ru ngủ, tưởng tượng ra vô khối cảnh thần tiên ngay trên hoang mạc và từ những thời xa xưa. Anh nhanh chóng chuyển sang rượu. Quán qahwa này chẳng ngại gì việc phục vụ rượu, điều ngày một trở nên hiếm hoi kể từ khi các giáo phái Hồi giáo chính thống củng cố thêm quyền lực. Anh uống rượu cô nhắc quán tự làm với tốc độ đáng lo ngại, thẳng tay vứt xuống gầm bàn viên đá mà ông chủ quán nhất định bỏ vào cốc rượu.
Anh loạng choạng quay về toa tàu, mọi thứ nhòa đi trong mắt anh, rồi nằm vật xuống cái giường lộn xộn.
Vừa nằm dài ra anh đã vươn ngay tay về phía cái bàn đầu giường. Anh làm đổ vài món đồ đặt trên đó cho đến khi với được một khung ảnh bên trong có bức ảnh đen trắng của một người phụ nữ.
“Jezabel…,” anh làu bàu. “Jeza… bel… Ai chạy trốn những đêm chăn gối bên em… Jezab…”
Cái khung ảnh trượt khỏi tay anh rơi xuống thảm trải sàn, tình trạng thê thảm khiến anh không sao với nổi. Anh vùi đầu vào cái gối lông để vắt kiệt những giọt nước mắt đang dâng lên.
Một ánh chớp lóa mắt đập tan những giấc mơ nhục dục đã mất của anh. Hình ảnh chỉ tồn tại trong giây lát. Hình ảnh một cơ thể. Cơ thể một đứa trẻ.
Những mẩu xương đòn mong manh thòi ra dưới làn da mỏng dính của phần thân trần. Và toàn bộ nỗi kinh hoàng của ngày hôm nay.
Anh đã muốn cuộc điều tra này. Cùng gánh nặng tàn bạo của nó. Giờ thì phải mặc bộ đồ của nó, để có thể bước vào cái vòng khép kín của sự thật. Để tiếp cận nó, nhảy với nó. Liệu anh có khả năng không? Không đi sai bước. Kiểu của người đi ra khỏi con đường mòn trơn trượt, rồi lao mình vào bóng tối.
Jeremy siết chặt lấy cái gối như để nó bóp nghẹt mình. Anh dùng hết sức thét lên.
❀ ❀ ❀
[1] Áo choàng dài của người châu Phi.
[2] Áo khoác dài của người Bắc Phi.
[3] Erysipelas.
[4] Một trò chơi ô ăn quan của người Ả Rập.
[5] Giống với thuốc lào.