Georges đưa bàn tay rộng xoa cằm và môi.
“Chính là hắn, Marion ạ. Chính vì thế mà tôi chắc chắn. Tôi không gợi ý cho cô. Tôi khẳng định. Jeremy Matheson đã lên tàu điện. Tối hôm trước, cha tôi đã giới thiệu hắn với tôi, và hắn là cảnh sát, điều đó đủ để tôi chấp nhận xuống tàu điện với hắn khi hắn nói rằng cha tôi phái hắn đến tìm tôi và dẫn tôi đến một nơi không phải nơi dự kiến.”
Họng Marion nghẹn lại khi cô thấy nước mắt trong mắt ông già.
“Hắn đã bỏ tôi vào tay sinh vật của hắn, để nó cảm thấy bớt cô độc, để nó có thể… chơi. Và hắn chỉ quay lại vào buổi tối, trong một lát, để hành hạ tôi. Hơn nữa, trong cuốn nhật ký, hắn không nói rõ thời gian biểu của hắn ngày hôm đó. Nếu đọc kỹ, cô sẽ nhận ra là hắn kể rằng buổi sáng hắn điều tra về sự biến mất của Azim, hắn về nhà rồi đi tắm vào đầu buổi chiều. Tiếp đó hắn kể lại phần cuối ngày ở phòng làm việc và việc tìm ra xác người đồng nghiệp. Những gì hắn làm giữa lúc đi tắm và đến phòng làm việc, vài giờ sau đó, thì không có bất kỳ dấu vết gì. Là vì thế này. Hắn còn bận đi theo tôi khi tôi lên tàu điện và lôi tôi vào chỗ ẩn náu nhơ nhớp đó. Tối hôm trước hắn có nghe cha tôi nói về giờ học piano, về tàu điện…”
Ông im lặng không nói gì thêm trong một phút, dưới những vì sao. Marion không biết ông đang cố gắng kìm nén nỗi xúc động hay đang tìm điều gì đó để nói thêm.
“Tối đó, hắn viết rằng hắn nói chuyện với Humphreys vào đầu buổi tối,” cuộc nói chuyện chỉ kéo dài mười lăm phút. “tiếp theo là với bác sĩ Cork vào gần nửa đêm. Giữa hai cuộc nói chuyện đó, ta không biết gì cả.”
Đầu ông già quay trên vai như đầu một con cú, để rình phản ứng của Marion.
“Hắn ở cùng tôi vào quãng thời gian đó.”
Marion siết cuốn sách cho đến khi lớp bìa da ép chặt vào da cô.
“Nhiều giờ trôi qua, và sự đối xử khủng khiếp tôi phải chịu đựng khiến tôi càng ngày càng xa rời thực tế. Ngày hôm sau tôi hoàn toàn bất tỉnh. Rồi chỉ thức dậy khi tiếp xúc với nước trong cái thùng đổ ra. Trời tối đen như mực, tôi toát mồ hôi lạnh, sốt và đau đớn không thể chịu nổi. Tôi nằm im không động đậy một lúc lâu. Họng tôi thắt lại, tôi thở rất khó khăn. Rồi, mò mẫm, tôi tìm thấy diêm, và một cây nến. Có xác con quái vật. Tôi không biết điều gì thực sự đã xảy ra giữa ‘hai người’ đó, tôi nghĩ Jeremy đến để chắc chắn rằng tôi đã chết, như hắn vẫn chờ đợi từ con ghûl của hắn. Và hắn đã giết tên nô lệ để tên này không thể phản bội hắn bằng bất cứ cách nào. Có một cuốn sổ trên bàn. Tôi mở cuốn sổ, tôi thấy đó là lời của hắn. Tôi không biết điều gì đã xảy ra với tôi, tôi đã lấy cắp nó. Tôi giấu nó trong mớ quần áo rách của mình rồi không lâu sau thì cảnh sát đến.”
Một tràng vỗ tay vang lên dưới chân họ. Buổi hòa nhạc đã kết thúc.
“Tôi không mở miệng suốt năm tuần sau đó. Tôi cũng không nói gì về cuốn sổ, tôi giữ nó như một chiến lợi phẩm, một cách bí mật. Và tôi đã đọc nó. Thỉnh thoảng đọc một trang, khi chỉ có một mình. Khi đọc xong thì tôi nói được. Tôi đi tìm cha tôi, tôi hỏi ông có thực sự là kẻ giết người không. Vậy là hai chúng tôi đã có một cuộc nói chuyện dài, tôi chỉ biết được kết cục của cuộc nói chuyện đó mười năm sau, khi ông từ giã chúng tôi. Jezabel đã thú nhận những gì xảy ra đêm hôm đó, giữa họ và Jeremy. Bởi vì đúng là hắn đã đến tận khu biệt thự. Hắn trèo qua hàng rào vào nhà, chĩa súng vào cha tôi. Hắn hành hạ ông để buộc ông thú nhận đã giết những đứa trẻ. Hắn vừa gào thét vừa cầm trong tay một hộp thuốc lá, nói rằng đó là bằng chứng tìm thấy trong hang ổ của con quái vật. Một bằng chứng hắn có thể mua được ở Groppi’s vì cha tôi đã nói đến cửa hiệu này trong buổi tối họ ăn cùng nhau. Hắn trở nên điên loạn, đánh cha tôi, đánh mãi, đánh mãi. Hắn muốn bắt ông thú tội trước Jezabel bằng mọi giá. Để bà hiểu ra. Cuối cùng Jezabel lấy khẩu súng lục chúng tôi vẫn cất giữ trong trường hợp cần phòng vệ, và bắn tên thám tử.”
Marion không rời mắt khỏi ông nữa. Georges Keoraz kể câu chuyện của mình một cách rất khó nhọc, giọng ông không tự tin như lúc thường nữa và hai tay ông run rẩy.
“Jeremy Matheson chết ngay lập tức, một viên đạn xuyên giữa sọ. Jezabel và cha tôi không biết phải làm gì. Họ hoảng sợ. Họ vừa giết một cảnh sát. Hơn nữa còn là tay cảnh sát đang buộc tội cha tôi, đó có thể là động cơ giết người dưới mắt một viên quan tòa đần độn. Vậy là họ lèn đầy đồ vào người hắn và đẩy hắn xuống một bể thủy ngân trong vườn, trong lúc chờ tìm ra giải pháp tốt hơn. Cả một đội sĩ quan cảnh sát đã đổ tới nhà sau đó một lúc, không phải để bắt họ, mà để đưa tôi về. Vài ngày sau, cha tôi chôn Matheson trong hoang mạc. Một cuộc điều tra được mở ra sau vụ mất tích của hắn nhưng không mang lại kết quả gì. Theo lời những người biết hắn rõ nhất, hắn trở nên ngày càng bốc đồng trong những tháng gần đấy, đôi khi nóng nảy. Tính tình hắn thay đổi, con vật trong hắn nổi lên. Bản năng bắt đầu áp đảo người đi săn trong hắn. Về phần tôi, tôi nói mình không nhớ gì cả, tôi đã nói dối vì không biết phải nói gì nữa. Họ kết luận rằng kẻ giết trẻ con là tên da đen khổng lồ, và ai cũng hài lòng. Sau đó khá lâu tôi biết rằng Jezabel đã tìm kiếm cuốn nhật ký của Matheson mà không thấy, hắn từng kể với bà về cuốn nhật ký đó, và bà lo lắng muốn biết hắn đã thật sự viết những gì. Tôi chưa bao giờ đủ can đảm nói với bà rằng chính tôi là người giữ nó.”
Georges nuốt nước bọt liên tục rồi cật vấn Marion:
“Giờ thì cô còn nghi ngờ gì về danh tính của kẻ thực sự giết đám trẻ nữa không?”
Cô những muốn bày tỏ, tuy nhiên sức mạnh cần thiết để thốt ra lời bốc hơi ngay lập tức.
“Cô tự hỏi tại sao, có phải không?” Georges đoán. “Tại sao hắn lại làm tất cả những việc đó? Đó là một tâm hồn bị giày vò. Một sinh vật đã mất đi toàn bộ khái niệm về cảm xúc. Như Jezabel đã nói với hắn vào buổi tối đáng nhớ nọ khi bà đến tìm hắn trong toa tàu. Bà không thể nắm bắt được hắn. Vì hắn không phải một con người giống như những người khác. Hắn không thật sự còn tính người nữa. Nói cách khác, hắn là kẻ mất thăng bằng trong đầu óc, nhưng là kẻ bệnh hoạn ý thức được sự bệnh hoạn của mình, và hắn đau khổ vì điều đó. Tôi nghĩ rằng sở dĩ Jezabel quan trọng với hắn nhường ấy, là bởi tính cách mạnh mẽ và khác người của bà đã khiến hắn cảm nhận được những tình cảm hắn không thể cảm nhận được lúc bình thường. Và những tội ác bỉ ổi đó, với tính chất cực đoan của chúng, mang lại cho hắn cảm xúc. Hắn chỉ là một cái vỏ rỗng, khóc than trên sự hư vô mà hắn chỉ có thể lấp đầy bằng những cảm xúc rối loạn, thái quá.”
Một bầy dơi hợp lại lướt qua hai bóng người trên đỉnh nhà thờ tu viện, ở độ cao hơn một trăm mét so với mực nước biển.
“Để nắm bắt được hắn, cần phải nói với cô rằng phần lớn những hoang tưởng trong hắn về tính cách đồi bại của cha tôi chỉ là một chuyển đổi của tính cách hắn. Những trang phân tích tâm lý của hắn không gì khác ngoài sự chuyển đổi những gì thuộc tính cách hắn vào kẻ gánh tội hắn tự tạo ra. Hắn khử kẻ tình địch và cũng nhân dịp đó biện bạch cho chính mình. Tuy vậy, khi đọc cuốn nhật ký của hắn, ta thấy quá trình phạm tội mà hắn áp đặt lên tâm trí cha tôi có vẻ rất thô thiển; ngược lại, quá trình đó trở nên hợp lý hơn nhiều khi ta đặt nó lên chính Jeremy. Chỉ cần thay cơn say quyền lực mà hắn coi là điểm gãy,” điểm khởi đầu. “của cha tôi bằng những hậu quả khủng khiếp của chiến tranh đã biến hắn thành một sinh vật khinh thường thể xác, là ta có thể hiểu được hắn.”
Joe vỗ đốp hai tay trước mặt ông.
“Xét cho cùng đó là một sinh vật bị đày đọa. Chiến tranh đã làm mất tính người trong đứa trẻ từng là hắn.”
Marion giật nẩy mình. Chiến tranh. Những vụ hành hạ Jeremy từng thấy người lính tội nghiệp đó phải gánh chịu.
Georges chỉ cuốn nhật ký.
“Cô giở trang đầu tiên ra, và xé cái bìa đi. Cô giở ra đi, đừng sợ, hồi đó chính tôi đã làm bìa cho nó, để ngụy trang.”
Marion nghe lời và kéo lớp da ra. Nó vừa rách vừa kêu rẹt rẹt.
“Được rồi,” Georges ra lệnh.
Ông cúi xuống và đưa ngón tay lục tìm dưới lớp da rách.
“Đây rồi…”
Ông già lôi ra một bức ảnh cũ màu nâu xám.
“Đây, cô xem đi. Đây là Jeremy Matheson.”
Marion cầm lấy bức ảnh và khám phá các đường nét của tác giả với đôi chút e sợ. Ông ta có vẻ ngoài như ông ta tự tả, điển trai, tuy nhiên sắc mặt làm tối khuôn mặt. Thật ra, còn có thể nói đó là những đường nét gây lo ngại. Một tia sáng không thể nắm bắt lộ ra trên đôi mắt, vừa mơ hồ vừa bất ổn như trong các bức ảnh toàn ký, nét biểu cảm của khuôn mặt thay đổi khi ta thay đổi góc nhìn. Một cơn giận lạnh lùng, thường trực, Marion nhận định mà không lấy làm chắc chắn. Hoặc là nỗi đau khổ còn sót lại, thứ đang gặm mòn ông ta.
Một linh tính khác chợt nảy ra trong cô. Xáo trộn hơn. Ánh mắt đó là ánh mắt của một cơ thể không hồn đang trôi nổi trong sâu thẳm con người ông ta. Ánh mắt của tâm hồn ông ta. Trong mắt ông ta có một quầng sáng đáng sợ, quầng sáng của một lương tâm đã chết từ lâu, bỏ mặc cho thể xác trôi nổi. Ông ta ngụ trong xác của chính mình. Bên cạnh Jeremy là một phụ nữ tuyệt đẹp. Marion nhận ra bà không khó khăn gì. vẻ lịch lãm và dữ dội in đậm trên các đường nét của bà. Jezabel.
Bức ảnh được chụp trên một bãi biển. Jeremy mặc quần bơi, là một cái quần soóc dài, hợp với thời trang bấy giờ, lộ ra một bộ ngực vằn vện những vết phồng rộp kéo dài.
Marion lật xem phía sau bức ảnh.
‘Alexandria, tháng Chín năm 1926.’
“Khi tôi tìm thấy nó, bức ảnh được dùng để đánh dấu trang trong cuốn sổ,” Georges bình luận. “Một sai lầm của Jeremy, phạm phải do tình cảm hắn dành cho Jezabel.”
Georges hé lộ ra khớp nối cuối cùng của cỗ máy điên loạn đã tạo nên Jeremy Matheson:
“Khi đã hơi say, hắn tâm sự một chuyện với cha tôi và Jezabel vào buổi tối họ ăn tối cùng nhau. Cô chắc cũng đã đoán ra, hắn nói dối cả về điều này. Hắn đã không nhìn thấy người lính trẻ đó bị đánh đến què cụt và bị những tay hạ sĩ quan bỉ ổi cưỡng bức suốt một thời gian dài. Hắn không nhìn thấy, mà đã trải qua. Hắn là người lính trẻ đó.”
Marion lần ngón trỏ theo đường cong mảnh mai của những vết sẹo trên ngực viên thám tử. Bức ảnh run rẩy trong gió.
“Chính vì vậy mà tối đó Jezabel đã khóc,” Georges nhấn mạnh. “Bà đã hiểu ra. Khi hắn kể về cảnh cắt xẻo bằng lưỡi lê, và về vết rạch dài ở ngực, bà đã nhớ ra vết sẹo khủng khiếp trên ngực hắn. Bà đã cảm nhận được những đau đớn hắn phải chịu đựng trong chiến tranh. Sau mỗi cuộc tàn sát, khi phải đi tấn công quân Đức, hắn trở về, ngạc nhiên vì vẫn còn sống, người phủ đầy thịt nát của đồng đội, và lại đương đầu với một địa ngục khác, chờ đợi một đợt tấn công khác làm nổ tung da thịt hắn.”
Marion chăm chú nhìn kỹ bức ảnh và người đàn ông đã chia sẻ cuộc đời ông ta, những gì cô từng nghĩ là cuộc điều tra của ông ta, những đau đớn của ông ta. Cô tưởng tượng hình ảnh ông ta dật dờ trên các con phố nhơ nhớp của Shubra, để xua tên khổng lồ da đen ra, tiếp cận hắn, nói vài lời bằng tiếng Ả Rập với hắn. Rồi cô hình dung ra ông ta đang dẫn kẻ ‘thuộc hạ’ xuống các đường hầm, cho hắn ở đó. Hứa hẹn cho hắn thức ăn. Rồi kích động hắn giải tỏa cơn cuồng nộ lên những đứa trẻ ông ta mang đến. Jeremy thưởng thức cảnh tượng. Ông ta cũng giết cả bạn mình, nhà khảo cổ đã cho ông ta biết về phát hiện của mình, một nơi ẩn náu lý tưởng. Ông ta đã tàn sát Azim vì anh sắp làm vỡ lở mọi việc. Chính ông ta đã phá khóa quỹ Keoraz để xem hồ sơ đám trẻ, biết làm thế nào để tiếp cận và cho chúng tiền một cách hiệu quả nhất. Marion nhắm mắt lại khi nghĩ rằng ông ta có thể đã cố tình chọn đứa trẻ bị bệnh máu không đông, để thỏa thích ngắm nhìn dòng máu không ngừng chảy.
Toàn bộ cuốn nhật ký liên kết lại trong cô, các nhân vật, ngày tháng, cái nóng, kiến trúc Cairo, cô sống lại trong một đoạn phim tua nhanh toàn bộ những gì cô đã hình dung ra trong lúc đọc.
Đột nhiên, hình ảnh chững lại trong im lặng.
Và một cảnh tượng mới thêm vào tất cả những cảnh tượng đã có. Cảnh tượng đó không nằm trong cuốn nhật ký, mà trong ký ức một ông già bị tổn thương.
* * *
Đó là một buổi chiều tháng Ba năm 1928.
Phố Maspero chật cứng người qua lại. Các quý bà người Pháp vừa làm duyên dưới những chiếc ô nhỏ vừa cười đùa, các bảo mẫu người Cairo đẩy xe nôi đi dạo dưới bóng những cây cọ hợp thành một dải xanh giữa con phố và sông Nile oai vệ. Các quý ông đóng bộ vừa xô đẩy nhau vừa lịch sự xin lỗi trên vỉa hè, dưới chân các tòa nhà hiện đại, cao sáu tầng, hoàn toàn bằng đá và thép, trên đỉnh, các cửa kính để mở được che rèm tránh ánh mặt trời chói chang.
Những chiếc ô tô đời mới phì phò dưới lòng đường, thúc giục đám người dắt lạc đà và xe la kéo nhường chỗ bằng những hồi còi lanh lảnh. Và giữa con phố đó, mọi người tránh lối cho đoàn tàu điện đang lại gần phát ra tiếng lách cách của sắt cũ và bắn ra những tia lửa trên bộ tóc bằng dây cáp.
Một phụ nữ nói giọng Ý cúi xuống một cậu bé đi dép xăng đan bằng da mang tất trắng, mặc quần soóc và áo sơ mi đầy vết kẹo hồi. Một người bán cam rong dừng lại chỗ họ để mời mua. Người phụ nữ đuổi ông ta đi bằng lời từ chối dứt khoát, thể hiện sự quen thuộc với những kiểu mời mọc thế này.
“Đừng quên tập gam nhé,” bà nhắc đứa bé. “Ngày nào cũng tập đấy.”
Đoàn tàu điện kêu rin rít dừng lại trước mặt họ.
Các cánh cửa mở ra và cậu bé vừa trèo lên vừa chào bà người Ý.
“Hẹn tuần sau,” bà ta kêu lên át tiếng cánh cửa đang đóng lại.
Đoàn tàu rùng mình rồi tăng tốc. Những tủ kính màu sắc rực rỡ nối tiếp nhau khi đoàn tàu điện đi qua các khu phố giàu có.
Tàu điện chật cứng, các chỗ ngồi đều đã có người và cậu bé do dự định đi về phía cuối, khoang dành cho phụ nữ vẫn còn ghế trống. Nhưng cậu không làm thế: ‘Không ai làm thế’, người ta luôn nói với cậu như vậy.
Cậu bé bấu vào tay vịn và chuẩn bị ngắm những chiếc ô tô đẹp đẽ thì nhận ra một khuôn mặt trong đám hành khách. Một người đàn ông khá cao lớn đang nhìn cậu chằm chằm, môi nở nụ cười, vẻ mặt ông ta dãn ra biểu lộ niềm vui thực sự.
“Xin chào, Georges!” Ông ta nói.
Georges nhận ra ông ta, đó là vị khách ở nhà cậu tối qua. Một viên cảnh sát, cha cậu nói vậy.
“Cháu nhận ra ta chứ?”
Cậu bé gật đầu.
“Xin chào ông.”
Người đàn ông không nói to, chỉ vừa đủ để cậu bé nghe thấy.
“May quá gặp cháu ở đây,” ông ta trả lời. “Ta cứ sợ sẽ không gặp cháu. Ta phải chạy mới kịp tàu điện đấy, cháu biết không.”
Georges gật đầu vì lịch sự. Ánh mắt cậu lập tức bị tiếng gầm của một cái xe chạy qua thu hút.
“Cháu thích ô tô chứ?” Viên cảnh sát hỏi.
“Vâng, cháu thích lắm. Cha cháu có một cái Bentley. Ông có biết Bentley nghĩa là thế nào không, thưa ông? Đó là chiếc xe chạy rất nhanh, nhanh nhất!”
Quanh họ, hai người đàn ông đọc báo, vẻ nghiêm nghị, xa hơn một chút, một người đang vừa ngoáy mũi vừa nhìn khung cảnh bên ngoài.
“À phải rồi, ta biết xe Bentley là thế nào rồi. Thế cháu có muốn biết không? Xe của ta còn nhanh hơn cả Bentley đấy!”
Georges nhíu mày, như thể điều đó đối với cậu là không thể chấp nhận được.
“Thật mà, ta đảm bảo với cháu. Nào, nếu cháu muốn ta có thể dẫn cháu đi một vòng.”
Georges có vẻ mặt của một đứa trẻ hoài nghi nhưng lại bị thu hút.
“Được rồi, nhưng trước đó,” viên cảnh sát nói tiếp,. “ta phải nói với cháu là chính cha cháu đã cử ta đến. Vì thế mà ta biết là cháu ở trên tàu điện này. Ông ấy bảo ta đến tìm cháu và dẫn cháu đến chỗ ông ấy, ở sân chơi polo. Cháu đã bao giờ xem một trận polo chưa?”
“Chưa ạ,” đứa bé nói ngay, đầy phấn khích.
“Vậy thì ta tin rằng chính vì thế mà cha cháu muốn làm cháu bất ngờ. Cháu phải đi theo ta, để ta dẫn cháu đến chỗ cha cháu.”
Georges đánh bạo rụt rè gật đầu. Cậu không hoàn toàn tin tưởng, nhưng cũng không dám không vâng lời một người lớn.
“Ta sẽ đến đó bằng xe của ông chứ?” Cậu hỏi.
Viên cảnh sát cười nhẹ.
“Ừ, cháu sẽ thấy nó. Và thậm chí còn được ngồi vào trong.”
Đứa bé có vẻ yên tâm.
Viên cảnh sát đứng dậy.
“Nào, ta xuống ở đây. Lại đây nào.”
Ông ta chìa tay ra cho Georges. Georges dúi tay mình vào tay ông ta và họ đi ra khỏi tàu điện dưới ánh nắng hầm hập.
“Nó ở đây ư, chiếc xe của ông ấy?” Đứa bé hỏi.
“Chúng ta đi về nhà ta trước đã, để lấy nó.”
Từ bên trong tàu điện, có thể nhìn thấy họ đi xa dần trong lúc cửa tàu đóng lại.
Giọng viên cảnh sát giờ bị át đi vì khoảng cách và các vật cản. Ông ta nói:
“Khi về đến nhà, ta sẽ giới thiệu cháu với một người bạn của ta. Cháu sẽ thấy, cháu và người bạn đó có thể chơi đùa với nhau.”
Rồi họ mất hút trong mênh mông Cairo và đám đông đang tỏa ra tứ phía.
* * *
Marion nghiến răng để bóp nghẹt cơn đau đang có nguy cơ dâng lên trong lòng. Cô dùng đầu ngón tay ve vuốt môi, như để làm quen với khuôn mặt này, tự tái tạo mình, sau khi lạc lối giữa từng ấy cuộc đời.
Cô nhìn thấy luồng sáng lướt qua của ngọn hải đăng ở đằng xa phía bên phải mình. Và tất cả những ngôi sao đó, nhân chứng câm lặng duy nhất của mọi bi kịch nhân loại từ thuở hồng hoang.
Bằng một cử động rất chậm, cô đặt lại bức ảnh vào trong cuốn nhật ký và giữ nó trước mặt trước khi đưa cho ông già.
“Nó thuộc về ông, tôi tin là vậy.”
Ông già cầm lấy cuốn sách và cất vào túi.
“Giờ thì cô biết hết rồi,” ông kết luận.
“Trừ lý do tại sao ông lại giữ cuốn nhật ký sau chừng đó thời gian,” cô nói, trong giọng nói thể hiện sự kính trọng tột bậc.
Ông già tặng cô một nụ cười mệt mỏi.
“Nó giúp tôi hiểu vụ việc đó. Về phần còn lại… Tôi từng là một đứa trẻ. Không phải lúc nào ta cũng biết điều gì khiến một đứa trẻ hành động. Giờ đây tôi là một ông già. Cũng gần giống nhau.”
“Thế thời gian giữa hai độ tuổi đó thì sao?” Cô nhẹ nhàng hỏi.
“Tôi đã tìm cách hiểu Jeremy Matheson.”
Marion nuốt nước bọt, cô không dám đặt câu hỏi đang lửng lơ trên môi. Georges hất cằm khuyến khích cô nói.
“Và… ông có làm được điều đó không? Ý tôi muốn nói là, vượt qua hận thù?”
Ông vỗ nhẹ cái túi đựng cuốn nhật ký.
“Có lúc tôi khóc vì sự tồn tại của nó.”
Marion kéo áo khoác để che gió.
“Vào lúc này, cô gái thân mến ạ, tôi muốn cô có thể tự nhủ rằng đó chỉ là một câu chuyện. Một câu chuyện dài và kỳ lạ, từ rất lâu rồi, và cùng với thời gian, nó chỉ còn là một kỷ niệm mơ hồ, và vì tôn trọng tôi, cuối cùng cô hãy quên nó đi. Nếu tôi là phù thủy, tôi sẽ lấy lại nó từ trong đầu cô.”
Ông đặt một bàn tay lên vai cô và chỉ về hướng cái cầu thang viền ren.
Khi cất bước, cô nghĩ rằng qua khóe mắt, cô đã thấy một hành động. Georges đang lau má.