Ngày 18 tháng 3
Tôi không nghe tin gì từ Finch một ngày trước, rồi hai ngày, rồi ba ngày. Tới lúc tôi từ trường về nhà hôm thứ Tư, trời đang đổ tuyết. Đường phố trắng xóa, và tôi đã phải gạt tuyết trên Leroy đến sáu lần rồi. Tôi thấy mẹ trong phòng làm việc và hỏi liệu tôi có thể mượn xe ô tô của bà không.
Mẹ sững lại một lúc rồi mới trả lời được. “Con định đi đâu?”
“Đến nhà Shelby ạ.” Shelby Padgett sống ở phía bên kia thị trấn. Tôi ngạc nhiên vì những từ đó thốt ra khỏi miệng tôi dễ dàng biết bao. Tôi cư xử như thể việc tôi hỏi mượn xe mẹ, dù tôi đã không lái xe một năm nay, là một chuyện hết sức bình thường, nhưng mẹ nhìn tôi chằm chằm. Bà tiếp tục nhìn tôi chằm chằm khi đưa cho tôi chìa khóa, đi cùng tôi ra cửa và xuống lối đi. Và rồi tôi có thể nhận ra bà không chỉ nhìn chằm chằm, bà còn đang khóc.
“Mẹ xin lỗi,” mẹ nói, đưa tay quệt mắt. “Bố mẹ chỉ không chắc… chúng ta đã không biết liệu chúng ta có bao giờ nhìn thấy con lái xe trở lại không. Vụ tai nạn đã thay đổi rất nhiều thứ và đã lấy đi rất nhiều thứ. So với cuộc đời mênh mông này, việc lái xe thực ra, cũng chẳng to tát đến thế, nhưng đáng ra con đã không phải nghĩ đi nghĩ lại về việc đó ở độ tuổi của con, trừ việc phải cẩn thận…”
Mẹ hơi lúng búng, nhưng trông mẹ hạnh phúc, và điều đó chỉ khiến tôi cảm thấy tệ hơn vì đã nói dối mẹ. Tôi ôm mẹ trước khi ngồi vào ghế lái. Tôi vẫy tay, mỉm cười, khởi động động cơ và nói to, “Con hiểu mà.” Tôi đi chầm chậm, vẫn vẫy tay và mỉm cười nhưng trong đầu tự hỏi mình đang làm cái quái gì vậy.
Lúc đầu tôi hơi run bởi đã quá lâu rồi tôi chưa lái xe và tôi đã không chắc liệu tôi có bao giờ lái xe lại nữa không. Tôi tự làm mình bầm tím vì liên tục nhấn phanh. Nhưng sau đó tôi tưởng tượng Eleanor ngồi bên cạnh mình, đang để tôi lái xe về nhà sau khi tôi nhận được bằng lái. Từ giờ em có thể chở chị đi khắp mọi nơi, em gái. Em sẽ là tài xế riêng của, chị. Chị sẽ ngồi ở phía sau, chân gác lên, và chỉ ngắm cảnh thôi.
Tôi nhìn qua ghế bên cạnh và cơ hồ có thể nhìn thấy chị, đang mỉm cười với tôi, thậm chí còn không thèm liếc nhìn đường, như thể chị không cần phải quan sát vì chị tin rằng tôi biết phải làm gì mà không cần sự giúp đỡ của chị. Tôi có thể nhìn thấy chị dựa lưng vào cửa xe, cằm gác lên đầu gối, cười một cái gì đó hoặc hát theo nhạc. Tôi gần như có thể nghe thấy chị.
Khi tôi đến được khu nhà của Finch, tôi đang lướt đi êm ru như một người lái xe lâu năm. Một người phụ nữ ra mở cửa, cô hẳn phải là mẹ anh vì mắt cô cũng xanh biếc màu trời như mắt Finch. Nghĩ cũng kỳ, sau bao nhiêu thời gian, đến bây giờ tôi mới gặp cô.
Tôi chìa tay ra và nói, “Cháu là Violet. Cháu rất vui được gặp cô. Cháu đến để gặp Finch ạ.” Tôi chợt nhận ra có thể cô chưa bao giờ nghe kể về tôi, vì vậy tôi nói thêm, “Cháu là Violet Markey ạ.”
Cô bắt tay tôi và nói, “Tất nhiên rồi. Violet. Ừ. Giờ này chắc nó đi học về rồi.” Cô ấy không biết anh đã bị đuổi học. Cô mặc đồ công sở, nhưng đi tất mà không đi giày. Cô có một vẻ đẹp đã phai nhạt và rã rời. “Vào đi cháu. Cô cũng vừa mới về.”
Tôi theo cô vào bếp. Ví cô để trên bàn ăn bên cạnh một chùm chìa khóa xe ô tô, và đôi giày của cô nằm trên sàn. Tôi nghe thấy tiếng vô tuyến từ một phòng khác, và cô Finch gọi, “Decca à?”
Một lúc sau tôi nghe thấy tiếng “Cái gì ạ?” từ xa vọng lại.
“Chỉ để kiểm tra thôi.” Cô Finch mỉm cười với tôi và mời tôi uống nước - nước lọc, nước trái cây, soda - còn cô rót cho mình một ly rượu vang từ cái chai có nút trong tủ lạnh. Tôi bảo mình dùng nước lọc cũng được, rồi cô hỏi có muốn uống đá hay không, và tôi nói không, mặc dù tôi thích uống lạnh hơn.
Kate đi vào và vẫy tay chào. “Chào em.”
“Chào chị. Em đến gặp Finch.”
Họ tán chuyện với tôi như thể mọi thứ đều bình thường, như thể anh chưa hề bị đuổi học, và Kate lấy cái gì đó ra khỏi tủ đá và chỉnh nhiệt độ lò nướng. Chị nói với mẹ nhớ để ý tiếng báo của lò và sau đó mặc áo khoác vào. “Chắc nó ở trên tầng. Em có thể lên đó.”
Tôi gõ cửa phòng anh, nhưng không có ai trả lời. Tôi gõ một lần nữa. “Finch? Em đây.”
Tôi nghe thấy tiếng lê chân, rồi cánh cửa mở ra. Finch mặc quần ngủ nhưng không mặc áo, trên mặt đeo kính. Tóc anh xổ tung ra, và tôi nghĩ, Finch Mọt Sách. Anh cười nhếch mép với tôi và nói, “Người duy nhất anh muốn gặp. Hiệu ứng hấp dẫn Sao Mộc - Sao Diêm vương của anh.” Anh tránh sang một bên để tôi có thể vào.
Căn phòng đã được dọn sạch đồ đạc, thậm chí cả những tấm ga trải giường. Trông nó giống như một căn phòng trống màu xanh dương ở bệnh viện, đang chờ được dọn dẹp cho bệnh nhân tiếp theo. Hai hộp màu nâu cỡ vừa được xếp chồng lên nhau ở cửa.
Tim tôi tự nhiên nhói lên. “Trông như - anh định chuyển đi à?”
“Không, anh chỉ bỏ đi một số thứ thôi. Gửi tặng một số thứ tới Goodwill.”
“Anh có ổn không?” Tôi cố gắng không nói cái giọng của một cô bạn gái đang trách cứ. Tại sao anh không dành thời gian với em nữa? Tại sao anh không gọi lại cho em? Anh không thích em nữa à?
“Xin lỗi, Tia Cực Tím. Anh vẫn cảm thấy xây xẩm*. Đó là một cách nói mà khi nghĩ kỹ thì ta thấy rất kỳ lạ. Cách nói đó có nguồn gốc từ vùng biển - cụ thể là trong tình huống một thủy thủ hoặc hành khách cảm thấy say sóng vì gặp bão, và người ta đưa họ xuống dưới boong tàu để tránh thời tiết xấu.”
•
Nguyên bản trong sách gốc là “under the weather” có nghĩa đen là “ở bên dưới thời tiết”.
“Nhưng bây giờ anh khỏe hơn rồi chứ?”
“Lúc đầu anh không dám chắc lắm mình bị sao nhưng giờ thì ổn rồi.” Anh mỉm cười và mặc áo vào. “Muốn xem pháo đài của anh không?”
“Đó có phải là một câu hỏi mẹo không đấy?”
“Đàn ông thằng nào cũng cần một pháo đài, Tia Cực Tím ạ. Một nơi để cho trí tưởng tượng của anh ta được xổ lồng. Kiểu không gian ‘Cấm xâm nhậpCấm con gái’.”
“Nếu cấm con gái, tại sao anh lại cho em xem?”
“Bởi vì em không phải một cô gái bình thường.”
Anh mở cửa vào buồng thay đồ, và nó thực sự trông khá ngầu. Anh đã tạo một cái hang cho mình, cùng với cây ghita, máy tính, sổ ghi nhạc, cùng với bút và các tập giấy nhắn. Ảnh của tôi được đính lên bức tường xanh dương cùng với một tấm biển số xe.
“Những người khác có thể gọi nó là văn phòng, nhưng anh thích từ pháo đài hơn.”
Anh mời tôi ngồi lên cái chăn màu xanh dương và chúng tôi ngồi cạnh nhau, vai kề vai, lưng dựa vào tường. Anh hất đầu về phía bức tường đối diện, và đó là khi tôi nhìn thấy những mảnh giấy ở đó, gần giống như Bức Tường Ý Tưởng của anh, nhưng không lộn xộn bằng.
“Anh nhận ra ở đây anh có thể suy nghĩ liền mạch hơn. Tiếng nhạc của Decca và tiếng mẹ hét lên với bố qua điện thoại khiến cho ngoài kia đôi khi hơi ồn. Em thật may mắn được sống trong một ngôi nhà không có tiếng la hét.” Anh viết Ngôi nhà không tiếng la hét vào tờ giấy và dán nó lên tường. Rồi anh đưa tôi một cây bút và một tập giấy nhắn. “Muốn thử không?”
“Bất cứ cái gì sao?”
“Bất cứ cái gì. Những điều tích cực đính lên tường, những điều tiêu cực thì nằm ở đằng kia trên sàn nhà.” Anh chỉ vào đống giấy bị xé. “Viết chúng ra là cần thiết, nhưng chúng không cần phải bám lấy ta mãi. Từ ngữ cũng có thể là những kẻ bắt nạt. Có nhớ Paula Cleary không?” Tôi lắc đầu. “Cô ấy chuyển từ Ireland đến Hoa Kỳ năm mười lăm tuổi và bắt đầu hẹn hò với một thằng ngốc mà những đứa con gái khác yêu. Bọn chúng gọi cô ấy là ‘đĩ’, ‘điếm’ và tệ hơn thế, và chúng không để cô ấy yên, cho đến khi cô ấy treo cổ tự tử ở cầu thang.”
Tôi viết Kẻ bắt nạt và đưa nó cho Finch, anh xé nó ra thành cả trăm mảnh và ném nó vào đống giấy. Tôi viết Những đứa nhỏ nhen và rồi xé vụn nó ra. Tôi viết Tai nạn, Mùa đông, Băng và Cầu, rồi xé vụn chúng ra cho đến khi chúng chỉ còn là những mẩu vụn không khác gì hạt bụi.
Finch nguệch ngoạc từ gì đó và dán nó lên tường. Hoan nghênh. Anh nguệch ngoạc một từ khác. Lập dị. Anh cho tôi xem trước khi xé vụn nó ra. Anh viết Thuộc về, nó được đính lên tường, và Nhãn mác, không được đính lên tường. Ấm áp, Thứ Bảy, Dạo chơi, Em, Bạn tốt nhất được dán lên tường, còn Lạnh, Chủ nhật, Đứng yên, Mọi người khác chui vào đống giấy.
Cần thiết, Được yêu, Được hiểu, Được tha thứ bây giờ đã được đính lên tường, và rồi tôi viết Anh, Finch, Theodore, Theo, Theodore Finch, và dán chúng lên.
Chúng tôi làm thế một lúc lâu, và rồi anh chỉ cho tôi cách anh sáng tác bài hát từ các từ ngữ đó. Đầu tiên anh sắp xếp chúng theo một trật tự gần như có nghĩa. Anh lấy ghita và gảy một giai điệu rồi, cứ như thế, bắt đầu hát. Anh cố gắng đưa vào tất cả các từ ngữ, rồi tôi vỗ tay và anh gập nửa người cúi chào bởi anh vẫn đang ngồi trên sàn, còn tôi thì nói, “Anh phải ghi lại. Đừng để mất nó.”
“Anh không bao giờ ghi lại bài hát của mình.”
“Thế tất cả chỗ giấy ghi nhạc đó là gì?”
“Ý tưởng cho các bài hát. Những ghi chú ngẫu nhiên. Những gì sẽ trở thành bài hát. Những gì anh có thể viết lại một ngày nào đó trong tương lai, hoặc đã bắt đầu viết mà chưa hoàn thành vì chúng chưa đủ thứ anh cần. Nếu một bài hát tồn tại được, nó sẽ khắc cốt ghi xương trong em.”
Anh viết Anh, muốn, được, làm, tình, với, Tia Cực Tím, Phi thường.
Tôi viết Có thể, và anh ngay lập tức xé nó đi.
Thế rồi tôi viết Thôi được.
Anh cũng xé từ này đi.
Vâng!
Anh dán từ này lên tường rồi hôn tôi, cánh tay anh ôm lấy eo tôi. Trước khi tôi nhận ra, tôi đã nằm ngửa ra còn anh đang nhìn xuống tôi, và tôi đang cởi áo sơ mi của anh. Rồi da anh áp vào tôi, còn tôi ở trên anh, và trong một lúc tôi quên bẵng rằng chúng tôi đang ở trên sàn buồng thay đồ bởi tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là anh, chúng tôi, anh và tôi, Finch và Violet, Violet và Finch, và tất cả mọi thứ đều ổn.
Sau đó, tôi nhìn chằm chằm lên trần nhà, và khi tôi đưa mắt nhìn anh, vẻ mặt anh có gì đó rất lạ. “Finch?” Anh đang chăm chú nhìn một cái gì đó phía trên chúng tôi. Tôi huých vào sườn anh. “Finch!”
Cuối cùng anh nhìn sang tôi và nói, “Em à,” như thể anh chợt nhớ ra tôi đang ở đó. Anh ngồi dậy lấy tay xoa mặt rồi với lấy tập giấy nhớ. Anh viết Thư giãn. Rồi Hít thở sâu. Rồi Violet là cuộc sống.
Anh gắn chúng lên tường rồi lại với lấy cây ghita. Tôi ngả sang để chúng tôi tựa đầu vào nhau trong khi anh chơi, các hợp âm đổi khác một chút, nhưng tôi không thể quên đi cái cảm giác rằng có chuyện gì đó đã xảy ra, như thể trong một phút anh đã đi mất và chỉ một phần của anh quay trở lại.
“Đừng nói cho ai biết về pháo đài của anh, được chứ, Tia Cực Tím?”
“Cũng giống như việc không nói cho gia đình anh biết anh đã bị đuổi học à?”
Anh viết Tội lỗi và giơ lên trước khi xé nó ra thành nhiều mảnh.
“Được rồi.” Rồi tôi viết Tin tưởng, Lời hứa, Bí mật, An toàn, và dán chúng lên tường.
“Aaaaaa, thế là giờ anh lại phải bắt đầu lại từ đầu.” Anh nhắm mắt lại, rồi chơi bài hát đó một lần nữa, thêm vào các từ mới. Lần thứ hai bài hát nghe có vẻ buồn bã, như thể anh đã chuyển sang gam thứ.
“Em thích pháo đài bí mật của anh, Theodore Finch.” Lần này tôi ngả đầu lên vai anh, nhìn vào những từ ngữ chúng tôi đã viết và bài hát chúng tôi đã sáng tác, và rồi vào tấm biển số xe. Tôi cảm thấy một nhu cầu kỳ lạ là muốn ngồi sát anh hơn, như thể anh có thể bỏ tôi mà đi. Tôi đặt một tay lên chân anh.
Lát sau anh nói, “Đôi khi anh rơi vào tâm trạng kiểu này, và anh không thể dứt khỏi chúng.” Anh vẫn gảy đàn ghita, vẫn mỉm cười, nhưng giọng anh đã trở nên nghiêm túc. “Kiểu tâm trạng u tối, trầm uất. Anh tưởng tượng nó giống như khi ta ở giữa tâm một cơn lốc xoáy, thật tĩnh lặng và cùng lúc đó cũng thật ngột ngạt. Anh ghét nó.”
Tôi đan ngón tay mình vào những ngón tay anh để anh ngừng chơi. “Em cũng có tâm trạng thất thường. Điều đó bình thường mà. Đó là những gì chúng ta sẽ phải trải qua. Ý em là, chúng ta đang là thiếu niên mà.” Để chứng minh điều đó, tôi viết Tâm trạng xấu trước khi xé nó đi.
“Khi anh còn bé, bé hơn Decca, có một chú chim hồng tước ở sân sau nhà anh, nó cứ bay vào tấm của kính trượt, bay đi bay lại cho đến khi nó kiệt sức. Mỗi lần như thế, anh lại nghĩ rằng nó đã chết, nhưng rồi nó lại đứng dậy và bay đi. Có một cô hồng tước nhỏ đậu trên một tán cây và nhìn chú hồng tước, và anh luôn nghĩ rằng đó là vợ của nó. Dù sao chăng nữa, anh đã năn nỉ bố mẹ ngăn không để chú chim này đập đầu vào kính nữa. Anh nghĩ nên cho nó vào nhà và sống với cả gia đình. Kate gọi hiệp hội bảo tồn chim Audubon, và người đàn ông ở đó nói rằng, nếu đúng như những gì ông suy đoán, thì chú hồng tước có lẽ chỉ đang cố trở lại cái cây của mình, cái cây đã đứng đó trước khi có người đến đốn hạ và xây một ngôi nhà bên trên.”
Anh kể với tôi về cái ngày chú chim chết, về việc tìm thấy xác chú trên sân sau nhà, về việc chôn chú trong tổ bùn. “Chẳng có lý do gì khiến nó ở lại,” Finch nói với bố mẹ mình sau đó. Anh kể anh luôn luôn đổ lỗi cho họ vì anh biết rằng chú hồng tước lẽ ra đã có thể sống sót nếu họ cho chú vào trong nhà như anh yêu cầu.
“Đó là lần đầu tiên anh rơi vào tâm trạng u ám. Anh không nhớ lắm những gì đã xảy ra sau đó, ít nhất là trong một thời gian ngắn.”
Cảm giác lo lắng quay trở lại. “Anh có bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai không? Bố mẹ anh hay Kate - hoặc có lẽ là một trong những tư vấn viên…?”
“Bố mẹ, không. Kate, cũng không hẳn. Còn thì anh đang nói chuyện với một tư vấn viên ở trường.”
Tôi nhìn xung quanh buồng thay đồ, nhìn chiếc chăn chúng tôi đang ngồi lên, những chiếc gối, cái bình nước, chỗ bánh dinh dưỡng, và chính lúc đó tôi giật mình. “Finch, anh đang sống ở đây ư?”
“Đây không phải lần đầu tiên. Rồi sẽ có một buổi sáng anh thức dậy và cảm thấy muốn ra ngoài.” Anh mỉm cười với tôi, và nụ cười ấy dường như trống rỗng. “Anh giữ bí mật cho em; em giữ cho anh.”
Khi về nhà, tôi mở cửa buồng thay đồ và chui vào trong. Nó lớn hơn buồng của Finch, nhưng chật ních quần áo, giày dép, ví, áo khoác. Tôi thử tưởng tượng cảm giác sẽ thế nào nếu sống ở đây và cảm thấy mình không thể ra ngoài. Tôi nằm xuống và nhìn chằm chằm lên trần. Sàn nhà cứng và lạnh. Tôi viết lại trong đầu: Có một cậu bé sống trong một buồng thay đồ… Nhưng tôi chỉ viết được đến thế.
Tôi không mắc chứng sợ không gian hẹp, nhưng khi tôi mở cửa trở lại phòng mình, tôi cảm thấy như giờ mình mới có thể thở lại.
Trong bữa tối, mẹ hỏi, “Con đi chơi với Shelby vui chứ?” Bà nhướng lông mày với bố. “Violet đã lái xe đến nhà Shelby sau giờ học đấy. Tự nó Lái xe đấy.”
Bố cụng ly với tôi. “Bố tự hào về con, V. Có lẽ đã đến lúc chúng ta bàn chuyện mua cho con một chiếc xe riêng.”
Họ quá vui mừng về chuyện này đến nỗi tôi còn cảm thấy tội lỗi hơn vì đã nói dối. Tôi tự hỏi họ sẽ làm gì nếu tôi nói với họ tôi thực sự đã ở đâu - mây mưa với người con trai họ không muốn tôi gặp, trong buồng thay đồ nơi anh đang sống.