Ngày 21 tháng Ba và sau đó
Tôi gõ cửa phòng anh nhưng không có ai đáp lại. Tôi gõ cửa lần nữa. “Finch?” Tôi gõ đi gõ lại, và cuối cùng tôi nghe thấy tiếng lê chân, tiếng rơi vỡ, tiếng chết tiệt, và cánh cửa mở ra. Finch đang mặc một bộ vest. Tóc anh cắt ngắn, cắt rất sát, với mái tóc ấy và mớ râu lởm chởm trên cằm, khuôn mặt anh trông có vẻ khác, già dặn hơn, và, vâng, hấp dẫn nữa.
Anh nhếch mép cười và nói, “Tia Cực Tím. Người duy nhất anh muốn gặp.” Anh tránh sang một bên để tôi vào.
Căn phòng vẫn trống trơn như bệnh viện, và tôi chợt có cảm giác chùng xuống vì anh đã vào viện nhưng không nói với tôi, và có điều gì đó ở màu xanh kia khiến tôi cảm thấy ngột ngạt.
Tôi nói, “Em cần nói chuyện với anh.”
Finch hôn tôi, và đôi mắt của anh dường như sáng hơn tối hôm nọ, hoặc có lẽ chỉ là anh không đeo kính. Mỗi lần anh thay đổi, phải mất một thời gian tôi mới quen được. Anh hôn tôi lần nữa rồi dựa người đầy gợi cảm vào cánh cửa, như thể anh biết trông anh bảnh như thế nào.
“Để sau đã. Anh muốn biết em cảm thấy thế nào về du hành ngoài không gian và đồ ăn Trung Quốc.”
“Theo thứ tự đó?”
“Không nhất thiết.”
“Em nghĩ một cái thì thú vị và cái còn lại thì thực sự ăn rất ngon.”
“Thế thì tốt. Cởi giày ra đi.”
Tôi tháo đôi giày ra, và tụt đi vài phân.
“Cởi quần áo nữa, cô lùn ạ.”
Tôi đập vào anh.
“Vậy sau nhé, nhưng anh sẽ không quên đâu. Được rồi. Hãy nhắm mắt lại.”
Tôi nhắm mắt lại. Trong tâm trí, tôi đang nghĩ xem nên đề cập đến nhóm Cuộc Sống Là Cuộc Sống như thế nào. Nhưng lần này anh dường như đã trở về đúng với con người của mình, ngay cả khi anh mang một diện mạo khác, đến mức tôi tự nhủ rằng khi tôi mở mắt ra, tường phòng anh sẽ được sơn đỏ và đồ nội thất sẽ trở lại chỗ vốn có của chúng, còn giường sẽ được dọn dẹp gọn gàng bởi đó là nơi anh ngủ.
Tôi nghe tiếng cửa buồng thay đồ mở ra và anh dẫn tôi đi về phía trước một vài bước. “Đừng mở mắt ra nhé.” Theo bản năng, tôi đưa tay ra trước, và Finch hạ chúng xuống hai bên tôi. Nhạc của nhóm Slow Club đang chơi. Tôi thích nhóm nhạc này, họ khá bất cần, hơi phá cách, và đem lại cảm giác hạnh phúc lẫn đau khổ. Giống Finch, tôi nghĩ. Giống chúng tôi.
Anh đỡ tôi ngồi xuống thứ có cảm giác như một chồng gối. Tôi nghe thấy và cảm thấy anh di chuyển xung quanh tôi khi cánh cửa đóng lại, và rồi đầu gối anh tì vào đầu gối tôi. Dường như tôi đang trở lại tuổi lên mười, quay lại những ngày tôi còn chơi trò dựng pháo đài.
“Mở mắt ra đi.”
Tôi mở mắt ra.
Và tôi đang ở ngoài không gian, mọi thứ phát sáng như thành phố Ngọc Lục Bảo ở xứ Oz. Tường và trần nhà được sơn đầy những hành tinh và ngôi sao. Đống giấy nhắn của chúng tôi vẫn đính trên một mặt tường. Chiếc chăn xanh nằm dưới chân chúng tôi, khiến cả sàn nhà sáng bừng lên. Đĩa, dao dĩa và khăn ăn được xếp chồng lên nhau bên cạnh hàng đống thức ăn. Một chai vodka đặt trong xô đá.
“Làm thế nào anh…”
Finch chỉ vào bóng đèn tia cực tím trên trần nhà. “Nếu em để ý,” anh nói, giơ một tay lên trời, “Sao Mộc và Sao Diêm Vương đang nằm thẳng hàng một cách hoàn hảo với Trái đất. Đây là buồng hiệu ứng hấp dẫn Sao Mộc - Sao Diêm Vương. Nơi mà mọi thứ trôi nổi vô định.”
Tôi chỉ có thể thốt lên, “Ôi trời ơi.” Tôi đã rất lo lắng về anh, người con trai tôi yêu, lo lắng nhiều hơn tôi nghĩ, cho đến tận thời điểm này, khi đang nhìn lên hệ Mặt trời. Đây đúng là điều ngọt ngào nhất mà ai đó từng làm cho tôi. Nó đáng yêu như trong một bộ phim vậy. Cảm giác sao đó mà tráng lệ và mong manh, và tôi muốn buổi tối nay kéo dài mãi mãi, và thoáng buồn khi biết rõ rằng điều đó là không thể.
Thức ăn được mua từ cửa hàng Happy Family. Tôi không hỏi anh lấy thức ăn bằng cách nào, là anh thực sự đã tự lái xe tới đó hay nhờ Kate mang về cho anh, nhưng tôi tự nhủ rằng anh chính là người đã đi mua bởi vì anh không phải ở lại trong buồng thay đồ này nếu anh không muốn.
Anh mở vodka và chúng tôi chuyền tay nhau chai rượu. Nó có vị khô và đắng, như lá mùa thu. Tôi thích cái cách nó khiến mũi và cổ họng tôi bỏng rát trước khi trôi xuống dạ dày.
“Anh kiếm cái này ở đâu vậy?” Tôi giơ cái chai lên.
“Anh có cách của anh.”
“Thật hoàn hảo. Không chỉ cái này - mà là tất cả. Nhưng hôm nay là sinh nhật anh, không phải em. Em nên làm gì đó như thế này cho anh.”
Anh hôn tôi.
Tôi hôn anh.
Không khí chứa đầy những điều chúng tôi không nói ra, và tôi tự hỏi có phải anh cũng cảm thấy thế không. Anh đang thoải mái và giống Finch tôi biết đến nỗi tôi tự nhủ hãy cứ để mặc mọi chuyện, đừng nghĩ quá nhiều. Có lẽ Amanda nhầm. Có lẽ nó chỉ nói với tôi về cái nhóm đó để làm tôi khó chịu. Có lẽ nó đã bịa ra toàn bộ chuyện đó.
Anh lấy đầy hai đĩa thức ăn, và khi chúng tôi dùng bữa, chúng tôi nói về tất cả mọi thứ ngoại trừ việc anh cảm thấy như thế nào. Tôi nói với anh về những gì anh đã bỏ lỡ trong tiết Địa lý Hoa Kỳ và nói về những nơi chúng tôi còn phải đi. Tôi tặng anh quà sinh nhật, ấn bản đầu tiên của cuốn Những Con Sóng tôi tìm thấy trong một hiệu sách nhỏ ở New York. Tôi đề tặng anh: Anh cũng khiến em cảm thấy mình vàng rực chảy trôi. Em yêu anh. Tia Cực Tím Phi Thường.
Anh nói, “Đây là cuốn sách anh đã tìm mãi ở tiệm Bookmarks và ở Thư viện Lưu động. Lần nào vào hiệu sách anh cũng tìm nó.”
Anh hôn tôi.
Tôi hôn anh.
Tôi có thể cảm thấy những lo lắng phai nhạt dần. Tôi cảm thấy thoải mái và hạnh phúc - hạnh phúc hơn bao giờ hết. Tôi đang sống trọn vẹn khoảnh khắc này. Tôi đang ở đây.
Khi chúng tôi ăn xong, Finch cởi áo khoác và chúng tôi nằm cạnh nhau trên sàn. Trong khi anh lật qua cuốn sách và đọc to vài đoạn cho tôi nghe, tôi nhìn chằm chằm lên bầu trời. Cuối cùng, anh đặt cuốn sách lên ngực và nói, “Em nhớ ngài Patrick Moore chứ.”
“Nhà thiên văn học người Anh xuất hiện trên chương trình truyền hình.” Tôi giơ tay hướng lên trần nhà. “Người chúng ta phải cảm ơn vì đã nghĩ ra hiệu ứng hấp dẫn Sao Mộc - Sao Diêm Vương.”
“Cái đó thì, chúng ta phải cảm ơn chính chúng ta, nhưng đúng, là ông ấy. Trong một chương trình của mình, ông ấy đã giải thích cái khái niệm rằng có một lỗ đen khổng lồ ở trung tâm thiên hà của chúng ta. Hiểu được cái đó chẳng dễ chút nào. Ông ấy là người đầu tiên giải thích sự tồn tại của lỗ đen theo cách mà một người bình thường cũng có thể hiểu được. Ý anh là, ông ấy giải thích nó theo cái cách mà ngay cả Roamer cũng có thể hiểu.”
Anh mỉm cười với tôi. Tôi mỉm cười với anh. Anh nói, “Chết cha, anh nói đến đâu rồi nhỉ?”
“Ngài Patrick Moore.”
“Đúng. Ngài Patrick Moore đã yêu cầu vẽ bản đồ dải Ngân Hà trên sàn phòng thu truyền hình. Khi máy quay đang chạy, ông ấy vừa đi về phía trung tâm vừa mô tả thuyết tương đối tổng quát của Einstein và đề cập đến một số dữ kiện thực tế - các lỗ đen là tàn dư của các ngôi sao; chúng đặc đến nỗi ngay cả ánh sáng cũng không thể đi qua; chúng ẩn nấp bên trong mọi thiên hà; chúng là thứ có sức phá hoại khủng khiếp nhất trong vũ trụ; khi một lỗ đen đi qua không gian, nó hút tất cả mọi thứ đến quá gần nó, những ngôi sao, sao chổi, hành tinh. Ý anh là tất cả mọi thứ. Khi các hành tinh, ánh sáng, các ngôi sao, bất kể cái gì, vượt quá cái điểm không thể quay trở lại, cái điểm người ta gọi là chân trời sự kiện - một khi đã đi qua nó, không gì có thể thoát ra.”
“Nghe có vẻ giống một hố xanh*.”
“Đúng, anh nghĩ nó giống thế thật. Và khi giải thích tất cả những điều này, Patrick Moore đã thể hiện một màn trình diễn vĩ đại hơn bao giờ hết - ông đi thẳng vào trung tâm của lỗ đen và biến mất.”
“Hiệu ứng đặc biệt.”
•
Hố xanh: là những hố sụt nằm dưới mặt nước.
“Không. Nó kiểu như một việc kỳ lạ hết sức ấy. Người quay phim và những người khác có mặt ở đó nói rằng ông ấy cứ thế biến mất.” Anh với lấy tay tôi.
“Sao lại thế?”
“Ma thuật.”
Anh mỉm cười với tôi.
Tôi mỉm cười với anh.
Anh nói, “Bị hút vào một lỗ đen quả là cách chết tuyệt vời nhất. Chưa có ai từng trải nghiệm cái chết theo cách đó, và các nhà khoa học không thể biết liệu ta sẽ mất nhiều tuần bay qua chân trời sự kiện trước khi bị xé toạc ra hay lao thẳng vào một cơn lốc các hạt phân tử và bị thiêu sống trong đó. Anh thích nghĩ xem cảm giác sẽ như thế nào nếu chúng ta bị nuốt chửng như thế. Đột nhiên tất thảy mọi thứ đều chẳng có nghĩa lý gì nữa. Không còn phải bận tâm chúng ta đang đi tới đâu, hay chúng ta sẽ trở thành gì, hay liệu chúng ta có bao giờ làm người khác thất vọng nữa không. Tất cả những điều ấy chỉ đơn giản là… biến mất.”
“Vậy là không còn gì cả.”
“Có thể. Hoặc có thể nó là một thế giới hoàn toàn khác, một thế giới mà chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng ra.”
Tôi cảm nhận cách bàn tay ấm áp và chắc chắn của anh ôm trọn tay tôi. Anh có thể luôn thay đổi, nhưng điều đó thì không.
Tôi nói, “Anh là người bạn thân nhất mà em từng có, Theodore Finch.” Và đúng vậy, anh còn thân thiết với tôi hơn cả Eleanor.
Đột nhiên tôi bật khóc. Tôi cảm thấy như một con ngốc vì tôi ghét phải khóc, nhưng tôi không thể ngừng lại. Tất cả những âu lo tuôn ra và cứ tí tách rơi trên sàn buồng thay đồ của anh.
Finch xoay về phía tôi và gần như ôm tôi vào lòng. “Thôi nào. Sao thế?”
“Amanda đã kể với em.”
“Kể với em gì?”
“Về bệnh viện và những viên thuốc, về Cuộc Sống Là Cuộc Sống.”
Anh không buông tôi ra nhưng cơ thể của anh cứng đờ. “Nó đã kể với em?”
“Em rất lo cho anh, và em muốn anh cảm thấy ổn, nhưng em không biết phải làm gì cho anh.”
“Em không cần phải làm bất cứ điều gì.” Rồi anh buông tôi ra. Anh lùi lại và ngồi dậy, nhìn chằm chằm lên tường.
“Nhưng em phải làm gì đó, bởi vì anh có thể cần giúp đỡ. Em không biết bất kỳ ai chui vào buồng thay đồ và sống trong đó. Anh cần phải nói chuyện với tư vấn viên của anh, hoặc có thể là Kate. Anh có thể nói chuyện với bố mẹ em nếu anh muốn.”
“Chậc… sẽ không có chuyện đó đâu.” Dưới ánh sáng của tia cực tím, răng và mắt anh rực lên.
“Em đang cố gắng giúp anh.”
“Anh không cần giúp. Và anh không phải Eleanor. Đừng cố gắng cứu anh chỉ vì em không thể cứu chị ấy.”
Tôi bắt đầu bực mình. “Không phải như thế.”
“Anh chỉ muốn nói là anh vẫn ổn.”
“Anh ổn?” Tôi hất tay lên chỉ quanh buồng thay đồ.
Anh nhìn tôi với nụ cười nặng nề và đáng sợ ấy. “Em có biết anh sẽ đánh đổi bất cứ điều gì để được là em trong một ngày không? Anh sẽ chỉ sống và sống, không bao giờ lo âu và biết ơn về những gì anh có.”
“Bởi vì em thì không có gì để lo lắng?” Anh chỉ nhìn tôi. “Bởi vì Violet thì có thể lo lắng về cái gì chứ? Sau cùng thì, Eleanor mới là người phải chết. Violet vẫn ở đây. Nó thoát chết. Nó thật may mắn vì nó có cả một cuộc đời phía trước. Violet may mắn, may mắn quá nhỉ.”
“Nghe này, anh lập dị. Anh kỳ quặc. Anh chuyên gây rắc rối. Anh ẩu đả với kẻ khác. Anh làm mọi người thất vọng. Làm gì thì làm, đừng chọc điên thằng Finch. Ôi, nó lại thế rồi, lại lên cơn hâm hấp rồi. Finch Thất Thường. Finch Giận Dữ. Finch Khó Đoán. Finch Điên Khùng. Nhưng anh không phải là một tập hợp các triệu chứng. Không phải là nạn nhân của các vị phụ huynh tệ hại, hay của một hợp chất hóa học thậm chí còn tệ hại hơn. Không phải một vấn đề. Không phải một lời chẩn đoán. Không phải một loại bệnh tật. Không phải là cái gì để đem ra cứu giúp. Anh là một con người.” Anh lại nở nụ cười đáng sợ ấy. “Anh cá bây giờ chắc em đang hối hận vì đã chọn đúng cái gờ tường đó vào đúng cái ngày đó.”
“Đừng làm thế. Đừng như thế này.”
Cứ thế, nụ cười biến mất. “Anh không thể ngừng được. Đó là con người anh. Anh đã cảnh báo em nó sẽ xảy ra.” Giọng anh trở nên lạnh lùng thay vì tức giận, mà như vậy còn tệ hơn vì như thế chẳng khác gì anh không còn chút cảm xúc nào nữa. “Em biết không, ngay lúc này anh thấy cái buồng thay đồ này có vẻ hơi chật, hình như ở đây không có nhiều không gian như anh tưởng.”
Tôi đứng dậy. “Tình cờ là em có thể giúp anh vụ đó.”
Và tôi đẩy mạnh cửa bước ra trong khi hoàn toàn biết rõ anh không thể đi theo tôi, mặc dù tôi tự nhủ: Nếu anh ấy thực sự yêu mày, anh ấy sẽ tìm ra cách.
Ở nhà, bố mẹ đang xem TV trong phòng sinh hoạt chung. “Con về sớm vậy,” mẹ nói. Bà đứng dậy khỏi xô pha để nhường chỗ cho tôi.
“Có chuyện này con cần nói với bố mẹ.” Bà ngồi xuống chính xác vị trí cũ và bố nhấn tắt màn hình vô tuyến. Tôi lập tức cảm thấy hối tiếc bởi vì trước khi tôi bước vào họ đang có một buổi tối yên bình, hạnh phúc, còn bây giờ họ đang lo lắng bởi vì qua giọng nói của tôi, họ có thể đoán được dù là chuyện gì thì nó cũng không ổn.
“Vào ngày đầu tiên đến trường sau kỳ nghỉ Giáng sinh, con đã leo lên gờ tường tháp chuông. Đó là nơi con đã gặp Finch. Cậu ấy cũng ở trên đó, nhưng cậu ấy mới là người thuyết phục con xuống, bởi vì khi con nhận ra mình đang đứng ở đâu, con đã quá sợ hãi và không thể nhúc nhích. Con có thể đã ngã xuống nếu cậu ấy không ở đó. Nhưng con đã không ngã, và đó là nhờ cậu ấy. Vâng, bây giờ cậu ấy đang ở trên gờ tường đó. Không phải theo nghĩa đen,” tôi nói với bố trước khi ông kịp lao ra chỗ điện thoại. “Và chúng ta cần phải giúp cậu ấy.”
Mẹ nói, “Vậy bấy lâu nay con vẫn gặp nó?”
“Vâng. Và con xin lỗi, con biết bố mẹ đang giận và thất vọng, nhưng con yêu cậu ấy, và cậu ấy đã cứu sống con. Sau này bố mẹ có thể nói với con rằng bố mẹ không hài lòng về con thế nào và con đã làm bố mẹ thất vọng ra sao, nhưng ngay bây giờ con cần phải làm tất cả những gì có thể để giúp cậu ấy.”
Tôi kể với họ tất cả, và sau đó mẹ tôi điện thoại cho mẹ Finch. Bà để lại một tin nhắn, và khi gác máy, bà nói, “Bố con và mẹ sẽ tìm ra cách. Có một bác sĩ tâm lý ở trường đại học, một người bạn của bố con. Bố đang nói chuyện với bác ấy. Đúng, bố mẹ đang rất thất vọng về con, nhưng mẹ rất vui vì con đã nói với bố mẹ. Con đã làm đúng khi nói chuyện đó với chúng ta.”
Tôi nằm thao thức trong phòng trong ít nhất là một tiếng, lo lắng đến nỗi không ngủ được. Khi tôi ngủ quên, tôi lăn lộn trên giường và những giấc mơ của tôi là một mớ bòng bong lộn xộn, bi thảm. Đến một lúc tôi thức dậy. Tôi trở mình và lại ngủ quên, và trong giấc mơ tôi nghe thấy nó - tiếng sỏi va vào cửa sổ, mơ hồ, xa xăm.
Tôi không ra khỏi giường, vì trời lạnh và tôi đang ngái ngủ, và dù sao âm thanh đó cũng không có thật. Không phải bây giờ, Finch, tôi nói trong giấc mơ. Đi đi.
Và rồi tôi tỉnh như sáo và nghĩ, Nếu anh thực sự đã ở đây thì sao? Nếu anh thực sự đã bước ra khỏi buồng thay đồ và lái xe đến gặp mình thì sao? Nhưng khi tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, đường phố trống trơn.
Tôi dành cả ngày với bố mẹ, liên tục kiểm tra tin nhắn mới trên Facebook khi không giả vờ tập trung vào bài tập về nhà và Mầm. Tất cả các cô gái đều đồng ý tham gia - có, có, có. Chúng nằm nguyên trong hộp thư, chưa được tôi trả lời.
Mẹ cứ chốc chốc lại gọi điện thoại, cố gắng liên lạc với cô Finch. Khi mà mãi đến tận trưa vẫn không thể liên hệ với cô, bố mẹ đến nhà Finch. Không ai ra mở cửa và họ buộc phải để lại một mẩu giấy nhắn. Vị bác sĩ tâm lý may mắn hơn một chút. Ông có thể nói chuyện với Decca. Con bé để bác sĩ giữ máy chờ trong khi nó kiểm tra phòng ngủ và buồng thay đồ của Finch, nhưng nó nói anh không ở đó. Tôi tự hỏi liệu anh có đang trốn ở đâu đó không. Tôi gửi cho anh một tin nhắn, nói với anh tôi xin lỗi. Đến nửa đêm, anh vẫn không nhắn lại.
Sang thứ Hai, Ryan gặp tôi ở hành lang và đi cùng tôi đến lớp Văn học Nga. “Đã có trường nào báo tin lại cho em chưa?” anh hỏi.
“Chỉ có hai trường thôi.”
“Còn Finch thì sao? Em có nghĩ rằng cả hai sẽ tình cờ đậu cùng một trường không?” Anh cố gắng tỏ ra tử tế, nhưng trong thái độ đó còn có thứ gì đó khác - có thể là chút hy vọng rằng câu trả lời của tôi là không, Finch và tôi đã chia tay.
“Em không chắc anh ấy sẽ làm gì. Em không nghĩ anh ấy đã quyết định.”
Anh gật đầu và chuyển cuốn sách sang tay kia để tay còn lại của anh ở cạnh tay tôi. Đôi lúc tôi lại cảm thấy cái chạm nhẹ từ làn da anh. Cứ mỗi bước chúng tôi đi lại có chừng năm người gọi anh hoặc gật đầu chào anh. Ánh mắt họ chuyển từ anh sang tôi, và tôi tự hỏi họ đang nhìn thấy gì.
Eli Cross đang mở tiệc. Em đi cùng chị nhé.
Tôi tự hỏi liệu anh có nhớ rằng Eleanor và tôi đã gặp tai nạn khi ra về từ bữa tiệc do anh trai anh tổ chức. Rồi tôi tự hỏi trong một giây, rằng nếu giờ tôi quay trở lại với anh thì mọi thứ sẽ như thế nào, liệu người ta có thể trở lại với một người tử tế, ít thay đổi như Ryan sau khi đã ở bên Theodore Finch. Sẽ không ai gọi Ryan Cross là thằng lập dị hay nói xấu anh sau lưng. Rốt cuộc thì, anh là kiểu người mặc quần áo phù hợp, nói những điều phù hợp và nhập học ở trường đại học phù hợp.
Khi tôi đến lớp Địa lý Hoa Kỳ, Finch không ở đó, tất nhiên, bởi anh đã bị đuổi học, và tôi không thể tập trung vào bất cứ điều gì thầy Black đang giảng. Charlie và Brenda đã không nghe tin gì từ Finch mấy ngày rồi, nhưng họ không có vẻ lo lắng vì anh là thế, đó là những gì anh làm, và anh vẫn luôn luôn là thế.
Thầy Black bắt đầu yêu cầu chúng tôi, từng người một, theo thứ tự, báo cáo tiến độ bài tập của chúng tôi. Khi thầy gọi đến tôi, tôi nói, “Finch không có ở đây ạ.”
“Tôi biết… rằng bạn ấy không có ở đây và rằng bạn ấy sẽ không… trở lại trường… Còn bài tập của em thì… thế nào, Markey?”
Tôi nghĩ đến tất cả những thứ tôi có thể nói đến: Theodore Finch đang sống trong buồng thay đồ của cậu ấy. Em nghĩ rằng có điều gì đó cực kỳ không ổn với cậu ấy. Gần đây chúng em đã không thể dạo chơi với nhau, và chúng em vẫn còn lại bốn hoặc năm nơi chưa đến trên bản đồ.
Tôi nói, “Chúng em đã học được rất nhiều về bang chúng ta. Em chưa bao giờ thấy nhiều nơi như thế ở Indiana trước đây, nhưng bây giờ em đã biết được nhiều điều về nó.”
Thầy Black có vẻ hài lòng với câu trả lời này, và rồi thầy gọi người kế tiếp. Dưới gầm bàn, tôi gửi tin nhắn cho Finch: Xin anh hãy cho em biết là anh ổn.
Khi tới tận thứ Ba tôi vẫn không nhận được tin gì từ anh, tôi đạp xe đến thẳng nhà anh. Lần này một cô bé ra mở cửa. Nó có mái tóc tối màu cắt tém và đôi mắt xanh giống Finch và Kate. “Chắc em là Decca,” tôi nói, với cái giọng người lớn mà tôi vẫn ghét.
“Chị là ai?”
“Violet. Chị là bạn của anh trai em. Anh ấy có đây không?” Cô bé đẩy cửa ra và tránh sang một bên.
Ở tầng trên, tôi đi qua bức tường đầy ảnh Finch và gõ cửa nhưng không chờ trả lời. Tôi đẩy cửa xông vào, và tôi có thể nhận ra ngay lập tức: Không có ai ở đây. Không chỉ là căn phòng trống không - mà có một sự tĩnh lặng kỳ lạ, chết chóc, như thể căn phòng là một cái vỏ rỗng mà một con vật đã bỏ lại phía sau.
“Finch?” Tim tôi bắt đầu đập mạnh. Tôi gõ cửa buồng thay đồ rồi chui vào trong, nhưng anh không có ở đó. Cái chăn đã biến mất, cùng với cây ghita và cái âm ly, những cuốn sổ ghi nhạc, những tập giấy nhắn chưa viết, bình đựng nước, máy tính xách tay của anh, cuốn sách tôi tặng anh, biển số xe, và ảnh của tôi. Những từ ngữ chúng tôi viết ra vẫn nằm trên tường, và các hành tinh cùng ngôi sao anh tạo ra đều còn đó, nhưng chúng đã tắt ngấm, nằm im lìm và không còn tỏa sáng.
Tôi chỉ còn biết quay qua quay lại, tìm kiếm thứ gì đó, bất cứ thứ gì, mà anh có thể để lại để cho tôi biết anh đã đi đâu. Tôi lấy điện thoại gọi anh, nhưng chỉ có hộp thư thoại trả lời. “Finch, em đây. Em đang ở trong buồng thay đồ của anh, nhưng anh không ở đây. Hãy gọi lại cho em. Em lo lắm. Em rất tiếc. Em yêu anh. Nhưng không phải em hối tiếc vì đã yêu anh, bởi em không bao giờ hối tiếc vì điều đó.”
Trong phòng anh tôi bắt đầu mở các ngăn kéo ra. Trong phòng tắm của anh tôi mở hết các cửa tủ ra. Anh đã để lại một số thứ, nhưng tôi không biết thế có phải là anh sẽ quay lại không hay liệu đây chỉ là những thứ anh không cần nữa.
Trong hành lang tôi đi qua những bức ảnh chụp anh, đôi mắt anh dõi theo tôi khi tôi xuống cầu thang, nhanh đến nỗi tôi suýt ngã. Tim tôi đập mạnh đến nỗi tôi không thể nghe thấy bất cứ điều gì trừ tiếng trống ngực đang tràn ngập trong tai tôi. Trong phòng khách tôi thấy Decca nhìn chằm chằm vào vô tuyến, và tôi hỏi, “Mẹ em có nhà không?”
“Không ạ.”
“Em có biết liệu mẹ em đã nhận được tin nhắn từ mẹ chị chưa?”
“Mẹ không mấy khi kiểm tra điện thoại đâu. Chị Kate có lẽ đã nhận tin nhắn.”
“Chị Kate có đây không?”
“Chưa ạ. Chị có thấy anh Theo không?”
“Không. Anh ấy không ở đó.”
“Thỉnh thoảng anh ấy lại như vậy.”
“Đi khỏi nhà ư?”
“Anh ấy sẽ về. Anh ấy luôn luôn quay về.” Anh là thế. Đó là những gì anh làm.
Tôi muốn nói với con bé và Charlie và Brenda, với Kate, với mẹ anh: Không ai quan tâm tại sao anh đến rồi đi ư? Đã bao giờ mọi người dừng lại nghĩ xem chuyện này có thể có điều gì đó không ổn chưa?
Tôi vào phòng bếp kiểm tra tủ lạnh và bàn bếp trong trường hợp anh để lại lời nhắn, bởi vì chỗ đó có vẻ là nơi mọi người thường để lại lời nhắn, và rồi tôi mở cửa tới ga ra, nơi đó trống trơn. Thằng Lỏi cũng đã biến mất.
Tôi gặp Decca và bảo con bé báo cho tôi nếu nó nghe tin gì từ anh trai mình, và tôi cho nó số của tôi. Ở ngoài đường, tôi nhìn khắp nơi tìm xe của anh, nhưng nó cũng không có ở đó.
Tôi lấy điện thoại ra. Hộp thư thoại lại vang lên lần nữa. “Finch, anh đang ở đâu?”