151 ngày trước tốt nghiệp
Ba giờ rưỡi. Bãi đậu xe trường.
Tôi đứng dưới ánh mặt trời, tay che mắt. Lúc đầu, tôi không thấy cậu. Có lẽ cậu đã rời đi mà không chờ tôi. Hoặc có lẽ tôi đã đi sai cửa. Thành phố của chúng tôi nhỏ nhưng trường chúng tôi rộng. Chúng tôi có hơn hai ngàn học sinh bởi đây là trường trung học duy nhất trong phạm vi nhiều cây số. Cậu có thể ở bất cứ nơi nào.
Tôi đang bám lấy ghi đông xe đạp, chiếc xe cũ màu cam thừa hưởng từ Eleanor. Chị gọi nó là Leroy vì chị thích nói với cha mẹ là, “Con đang cưỡi Leroy đi chơi,” và “con sẽ đưa Leroy đi dạo một lúc.”
Brenda Shank-Kravitz hùng hổ bước tới như một đám mây bão màu hồng tươi. Charlie Donahue đủng đỉnh phía sau. “Anh ấy kia kìa,” Brenda nói. Nó chỉ một ngón tay đánh móng màu xanh vào tôi. “Nếu mày làm tan nát trái tim anh ấy, tao sẽ đá văng bộ mông gầy nhỏng của mày tới tận Kentucky. Tao nói nghiêm túc đấy. Anh ấy không cần mày đùa giỡn tình cảm của anh ấy đâu. Hiểu chưa?”
“Hiểu rồi.”
“Và tao rất tiếc. Mày biết đấy. Về chị gái mày.”
Tôi nhìn theo hướng Brenda chỉ và cậu ở đó. Theodore Finch đang tựa vào một chiếc SUV, tay đút túi, như thể cậu có vô số thời gian và đang chờ mong tôi. Tôi nghĩ tới những áng văn của Virginia Woolf, những câu từ trong Những con sóng: “Xanh xao, tóc sậm màu, người đang đến có vẻ u sầu, lãng mạn. Và tôi thì tinh nghịch, uyển chuyển và thất thường khó đoán; bởi anh u sầu, anh lãng mạn. Anh ở đây.”
Tôi dắt xe về phía cậu. Mái tóc tối màu của cậu xổ tung và lộn xộn như thể cậu vừa ở ngoài biển về, mặc dù không có bãi biển nào ở Bartlett, và nó ánh lên sắc xanh đen dưới ánh nắng. Làn da nhợt nhạt của cậu trắng đến nỗi tôi có thể nhìn thấy các mạch máu trên cánh tay cậu.
Cậu mở cửa bên ghế phụ. “Xin mời.”
“Tớ đã nói là không đi ô tô rồi mà.”
“Tớ quên xe đạp rồi, vì vậy chúng ta sẽ phải qua nhà tớ để lấy xe.”
“Thế tớ sẽ đi theo cậu.”
Cậu lái chậm hơn cần thiết, và mười phút sau chúng tôi đến nhà cậu. Đó là một ngôi nhà gạch hai tầng có các khóm cây rậm rạp dưới cửa sổ, những cửa chớp màu đen, và cánh cửa ra vào màu đỏ. Một hộp thư màu đỏ cùng tông với cửa có ghi chữ FINCH. Tôi chờ ở lối vào trong khi cậu lục lọi trong đống lộn xộn ở gara để tìm chiếc xe đạp. Cuối cùng cậu nhấc nó lên và mang ra ngoài, và tôi thấy các cơ bắp cánh tay cậu căng lên.
“Cậu để túi xách trên phòng tớ cũng được.” Cậu lau bụi trên yên xe bằng áo sơ mi.
“Nhưng còn đồ của tớ trong đó…” Một cuốn sách về lịch sử Indiana, mượn từ thư viện sau tiết cuối, và các túi ni lông đủ kích cỡ - xin được từ một cô phụ bếp ở trường - để đựng bất kỳ thứ đồ lưu niệm nào chúng tôi thu được.
“Yên tâm, tớ chuẩn bị hết rồi.” Cậu mở khóa và giữ cửa cho tôi. Khung cảnh bên trong không khác gì những ngôi nhà bình thường khác, không như hình dung của tôi về nơi Theodore Finch sống. Tôi theo cậu lên lầu. Các bức tường treo đầy những bức ảnh chụp cuối khóa được đóng khung. Finch ở trường mẫu giáo. Finch ở trường trung học. Mỗi năm cậu một khác, không chỉ về tuổi tác mà cả con người. Finch cây hài trong lớp. Finch nhút nhát. Finch bố đời. Finch mê thể thao. Ở cuối hành lang, cậu đẩy một cánh cửa.
Tường phòng màu đỏ đậm, còn mọi thứ khác đều màu đen - bàn, ghế, tủ sách, ga trải giường, những cây ghita. Một mặt tường được phủ kín những tấm ảnh, những tờ ghi chú, khăn ăn và những mẩu giấy xé nhỏ. Trên các mặt tường khác là áp phích các chương trình âm nhạc và một tấm ảnh đen trắng lớn hình cậu biểu diễn trên sân khấu ở một nơi nào đó, với cây ghita trong tay.
Tôi đứng trước bức tường dính đầy giấy ghi chú và nói, “Những cái này là gì vậy?”
“Các kế hoạch,” cậu nói. “Các bài hát. Ý tưởng. Giấc mơ.” Cậu ném túi tôi lên giường và bới thứ gì đó ra khỏi ngăn kéo.
Phần lớn trông như những khúc đoạn còn dang dở, những từ đơn lẻ hay cụm từ không có ý nghĩa rõ ràng: Những đóa hoa đêm. Tôi chết để thấy thật*. Hãy cùng rơi. Hoàn toàn là quyết định của tôi. Tháp tưởng niệm. Hôm nay có phải là ngày để?
•
Một câu trong bài thơ nói về việc tự tử Lady Lazarus của Sylvia Plath.
Hôm nay là ngày để làm gì? Tôi muốn hỏi vậy. Nhưng thay vào đó tôi nói, “Obelisk*?”
•
Tiếng Anh: tháp tưởng niệm.
“Đó là từ yêu thích của tớ.”
“Thật ư?
“Một trong nhiều từ, ít ra là thế. Hãy nhìn nó.” Tôi nhìn. “Đó là một từ ngay thẳng, hiên ngang, mạnh mẽ. Độc nhất, nguyên bản, và có phần kín đáo vì mới nghe thì không ai lại nghĩ nó có nghĩa đó. Nó là một từ làm ta ngạc nhiên và khiến ta suy nghĩ rằng, Ồ. Hay đấy. Nó yêu cầu sự tôn trọng, nhưng nó cũng khiêm nhường. Không như ‘monument’* hay ‘tower’*.” Cậu lắc đầu. “Lũ khốn nạn giả tạo.”
•
Tiếng Anh: tượng đài.
•
Tower: tòa tháp.
Tôi không nói gì vì trước đây tôi đã từng yêu thích từ ngữ. Tôi mê mẩn từ ngữ và tôi rất giỏi trong việc sắp đặt chúng thành câu, thành bài. Bởi thế, tôi muốn bảo vệ tất cả những ngôn từ hay nhất. Nhưng bây giờ tất cả chúng, những từ hay và những từ dở, đều làm tôi thất vọng.
Cậu nói, “Cậu đã bao giờ nghe đến cụm ‘trở lại lên lưng lạc đà’ trước kia chưa?”
“Đến khi thầy Black dùng tớ mới biết.”
Cậu dựa người vào bàn, xé một mảnh giấy làm đôi, và viết cách diễn đạt đó xuống. Cậu dán nó lên tường khi chúng tôi rời đi.
Ra ngoài, tôi leo lên Leroy, một chân chống xuống đất. Theodore Finch đeo ba lô lên, áo phông cậu tốc lên ngang bụng, nơi một vết sẹo màu đỏ xấu xí cắt ngang ngay giữa.
Tôi đẩy cặp kính của Eleanor lên. “Sao cậu lại bị vết sẹo đó?”
“Tớ vẽ lên đấy. Kinh nghiệm của tớ là các cô gái thậm chí còn thích các vết sẹo hơn hình xăm.” Cậu leo lên xe đạp, ngồi hẳn xuống yên, hai chân đặt chắc chắn. “Cậu đã lên xe ô tô lần nào kể từ hồi tai nạn chưa?”
“Chưa.”
“Đó quả là một kỷ lục. Chúng ta đang nói tới, xem nào, tám, chín tháng rồi nhỉ? Cậu đến trường bằng cách nào?”
“Tớ đi xe đạp hoặc đi bộ. Nhà tớ không xa lắm.”
“Thế khi trời mưa hoặc tuyết rơi?”
“Tớ đi xe đạp hoặc đi bộ.”
“Vậy cậu sợ đi xe hơi nhưng lại có thể leo lên gờ tường trên tháp chuông?”
“Tớ về nhà đây.”
Cậu bật cười và với tay tới xe đạp tôi, giữ chặt lại trước khi tôi kịp đạp đi. “Tớ sẽ không nhắc đến chuyện đó nữa.”
“Tớ không tin cậu.”
“Coi này, cậu đã ở đây rồi, và chúng ta đã nhận làm bài tập này, vì thế theo tớ thấy, chúng ta càng tới đồi Hoosier nhanh bao nhiêu, cậu càng thoát được vụ này nhanh bấy nhiêu.”
Chúng tôi vượt hết cánh đồng ngô này tới cánh đồng ngô khác. Đồi Hoosier chỉ cách thành phố mười bảy cây số, vì thế chúng tôi không phải đi xa. Trời lạnh nhưng sáng sủa, và thật thoải mái khi được ra ngoài. Tôi nhắm mắt lại và ngửa mặt lên. Đây là phần còn sót lại của Violet Ngày xưa. Cô bé Violet bình thường. Violet Chẳng Có Gì Đáng Chú Ý*.
•
Nguyên bản tiếng Anh là Unremarkey-able, là từ ghép giữa “un-remarkable”, tức là không-phi thường, và Markey là tên họ của Violet.
Finch đạp xe bên cạnh tôi. “Cậu biết tớ thích lái xe ở điểm gì không? Sự chuyển động về phía trước, lực đẩy tới, như thể ta có thể đi bất cứ nơi nào.”
Tôi mở mắt và cau mày với cậu. “Đây không phải là lái xe.”
“Còn phải nói.” Cậu lượn qua đường theo vòng số tám, sau đó đi vòng tròn quanh tôi, sau đó lại đi bên cạnh tôi. “Tớ ngạc nhiên khi cậu không đội mũ bảo hiểm hoặc mặc áo giáp toàn thân, để cho an toàn ấy. Nếu ngày tận thế xảy ra và tất cả mọi người trừ cậu biến thành xác sống, và cách duy nhất cậu có thể cứu mình là biến khỏi thành phố, cậu sẽ làm thế nào? Không máy bay, không tàu, không xe buýt. Giao thông công cộng hoàn toàn không dùng được. Xe đạp thì quá lộ liễu, quá nguy hiểm. Thế nào đây?”
“Sao tớ biết được tớ sẽ an toàn khi ra khỏi thành phố?”
“Bartlett là nơi duy nhất bị ảnh hưởng.”
“Và tớ biết chắc thế?”
“Đấy là điều ai cũng biết. Chính phủ đã xác nhận thế.”
Tôi không trả lời.
Cậu lượn vòng số tám xung quanh tôi. “Cậu sẽ đi đâu nếu cậu có thể tới bất cứ nơi nào?”
“Vẫn đang nói về ngày tận thế à?”
“Không.”
New York, tôi nghĩ.
“Trở về California,” tôi nói. Ý tôi là California của bốn năm trước, trước khi chúng tôi chuyển tới đây, khi Eleanor đang học lớp mười và tôi đang chuẩn bị vào lớp chín.
“Nhưng cậu đã từng ở đó. Cậu không muốn chiêm ngưỡng những nơi cậu chưa đến bao giờ ư?” Cậu đạp xe song song với tôi, hai bàn tay kẹp dưới nách.
“Ở đó trời ấm áp và không bao giờ có tuyết.” Tôi ghét tuyết và sẽ luôn luôn ghét tuyết. Và rồi tôi như nghe thấy cô Kresney và bố mẹ dặn tôi phải cố gắng lên. Thế là tôi nói, “Tớ có thể đến Argentina hay Singapore học. Tớ sẽ không nộp đơn xin học ở bất cứ nơi nào cách đây ít hơn ba nghìn cây số.” Hoặc bất cứ nơi nào có lượng tuyết rơi hằng năm dày hơn hai phân rưỡi, đó là lý do tại sao tôi loại trường Đại học New York. “Tuy thế tớ cũng có thể ở lại đây. Tớ vẫn chưa quyết định.”
“Cậu không muốn biết tớ sẽ đến nơi nào nếu có thể à?”
Không hẳn, tôi nghĩ. “Cậu sẽ đi đâu nếu cậu có thể tới bất cứ nơi nào?” Câu đó vang lên nghe có vẻ ác ý hơn tôi muốn.
Cậu nghiêng người về phía trước qua ghi đông, mặt dán thẳng vào tôi. “Tớ sẽ tới đồi Hoosier với một cô gái xinh đẹp.”
Rừng cây đứng ở một bên. Khoảng đất trồng trọt bằng phẳng trải rộng phủ đầy tuyết ở phía bên kia. Finch nói, “Tớ nghĩ mình đi đằng đó.”
Chúng tôi để xe đạp lại bên hàng cây, băng qua đường lớn và đi theo con đường đất chỉ dài vài mét. Đôi chân tôi đau nhừ do đạp xe. Tôi cảm thấy khó thở một cách kỳ lạ.
Có vài đứa trẻ lang thang ở cánh đồng, đu người tới lui trên hàng rào. Khi thấy chúng tôi đến, một đứa đâm sầm vào đứa khác và đứng thẳng dậy. “Anh chị cứ đi tiếp về phía trước,” nó nói. “Mọi người đến từ khắp nơi trên thế giới để chiêm ngưỡng nơi đây và anh chị không phải là những người đầu tiên.”
“Trước đây có một bảng hiệu bằng giấy,” một đứa khác nói thêm. Giọng nó có vẻ buồn chán.
Bằng giọng Úc, Finch nói với chúng, “Anh chị từ Perth đến đây. Anh chị đã đi cả một chặng đường dài để xem đỉnh cao nhất của Indiana. Anh chị chinh phục đỉnh đồi có được không?”
Chúng không hỏi Perth ở đâu. Chúng chỉ nhún vai.
Chúng tôi rẽ vào rặng cây mùa đông héo úa, gạt các nhánh cây khỏi mặt mình. Chúng tôi lom khom đi vào một con đường đất hẹp hơn và tiếp tục bước tới, nhưng không còn đi cạnh nhau nữa. Finch ở phía trước, còn tôi để tâm nhiều hơn đến ánh sáng hắt ra từ mái tóc cậu và cách cậu đủng đỉnh bước đi, uyển chuyển và dẻo dai, hơn là để tâm đến khung cảnh này.
Đột nhiên chúng tôi đã ở đó, giữa một vòng tròn màu nâu. Một băng ghế gỗ dài nằm dưới một cái cây, một bàn ăn ngoài trời kê ngay cạnh nó. Biển báo ở bên phải chúng tôi - ĐIỂM CAO NHẤT INDIANA, ĐỒI HOOSIER, CAO 383M SO VỚI MỰC NƯỚC BIỂN. Mốc đánh dấu ở ngay phía trước - một cái cọc gỗ nhô lên khỏi mặt đất, giữa một đống đá chỉ to như cái gò ném bóng ở sân bóng chày, không hơn không kém.
“Nó đây ư?” tôi buột miệng.
Điểm cao nhất đấy. Thất vọng đến mức sửng sốt. Nhưng tôi mong đợi gì cơ chứ?
Cậu nắm tay tôi và kéo tôi lên sau cậu để chúng tôi cùng đứng trên đống đá.
Trong khoảnh khắc da cậu chạm vào da tôi, tôi cảm thấy sốc nhẹ.
Tôi tự nhủ rằng đó không gì hơn là cảm giác choáng váng dễ lý giải khi ta có sự tiếp xúc cơ thể với người mới gặp. Nhưng sau đó dòng điện ấy bắt đầu chạy ngược lên cánh tay tôi, và rồi ngón tay cái cậu xoa xoa trong lòng bàn tay tôi, khiến dòng điện chạy dọc phần còn lại của cơ thể tôi. Ôi ôi.
Bằng giọng Úc, cậu nói, “Chúng ta nghĩ gì đây?”
Bàn tay cậu chắc chắn và ấm áp, và không hiểu sao, dù lớn như thế, vẫn vừa khít tay tôi.
“Nếu chúng ta đến từ Perth á?” Cái dòng điện chạy dọc cơ thể ấy khiến tôi bị phân tâm và tôi cố gắng không để lộ ra. Nếu không, tôi biết cậu sẽ nói về chuyện này mãi không thôi.
“Hoặc có lẽ chúng ta đến từ Moscow.” Cậu bắt chước giọng Nga cũng rất khá.
“Chúng ta bị hố to rồi.”
Với giọng thật của cậu, cậu nói: “Không hố như những người đến đồi Cát, điểm cao thứ hai ở Indiana. Nó chỉ cao 328 mét, và thậm chí còn không có khu dã ngoại.”
“Nếu nó chỉ đứng thứ hai thì cũng đâu cần khu dã ngoại làm gì.”
“Hết sức đúng. Theo như tớ biết, nó thậm chí còn không đáng nhìn vào. Nhất là khi đã có đồi Hoosier.” Cậu mỉm cười với tôi, và lần đầu tiên tôi nhận ra đôi mắt cậu xanh đến thế nào - giống màu xanh trong của bầu trời. “Ít nhất là tớ thấy thế khi đứng ở đây với cậu.” Cậu nhắm đôi mắt xanh lại và hít một hơi. Khi mở mắt ra, cậu nói, “Mà thực ra, đứng bên cạnh cậu làm tớ cảm thấy chỗ này cao như đỉnh Everest.”
Tôi rụt tay lại. Ngay cả sau khi buông tay, tôi vẫn có thể cảm nhận được dòng điện ngu ngốc đó. “Bọn mình đáng lẽ phải thu thập tư liệu chứ nhỉ? Rồi còn phải ghi chép? Quay video? Bọn mình sẽ làm gì?”
“Bọn mình sẽ không làm thế. Khi bọn mình đang đi dạo chơi, bọn mình cần phải hiện hữu ở đó, chứ không nên ngắm cảnh qua một ống kính.”
Cùng nhau, chúng tôi nhìn ra ngoài vòng tròn màu nâu và băng ghế, cây cối cùng cái phong cảnh bằng phẳng, trắng xóa bên ngoài. Mười tháng trước, tôi hẳn đã đứng đây tả lại nơi này trong đầu. Ở đây có bảng hiệu, thế là tốt, bởi nếu không bạn sẽ không bao giờ biết bạn đang ngắm nhìn điểm cao nhất ở Indiana… Tôi đã có thể sáng tạo nên cả một câu chuyện hoành tráng và thú vị cho bọn trẻ. Bây giờ chúng chỉ là những đứa trẻ nông thôn Indiana ngồi chơi bên hàng rào.
Tôi nói, “Tớ nghĩ đây là nơi xấu xí nhất mà tớ từng thấy. Không phải mỗi nơi đây. Toàn bộ bang này ấy.” Tôi như nghe thấy bố mẹ dặn mình không được tiêu cực, một chuyện nghe thật buồn cười, bởi tôi luôn là đứa hạnh phúc vui vẻ. Chính Eleanor mới là người hay ủ dột.
“Tớ đã từng nghĩ vậy. Nhưng sau đó tớ nhận ra, dù cậu có tin hay không, nó thực sự đẹp với một số người. Nó hẳn phải thế, bởi có rất nhiều người sống ở đây, và không thể nào tất cả họ đều cho rằng nó xấu xí.” Cậu mỉm cười với lũ cây xấu xí và khu đất trồng trọt xấu xí và những đứa trẻ xấu xí như thể cậu đang thấy xứ Oz. Như thể cậu thật sự, thành tâm nhìn thấy vẻ đẹp của nơi đây. Vào thời điểm đó tôi ước tôi có thể nhìn ngắm nơi này qua đôi mắt cậu. Tôi ước cậu có kính mà cho tôi mượn. “Và, tớ nhận ra khi đứng ở đây, rằng có khi tớ sẽ đi tìm hiểu nhiều hơn về nơi này, cậu biết đây - khi ngắm nhìn những gì vốn có ở đây.”
“Dạo chơi khắp Indiana?”
“Ừ.”
“Cậu trông khác so với hôm trước đấy.”
Cậu liếc nhìn tôi, mắt nhắm hờ. “Do độ cao đấy.”
Tôi bật cười và rồi ngừng lại.
“Cậu cười cũng không sao, cậu biết mà. Mặt đất sẽ không nứt ra đâu. Cậu sẽ không phải xuống địa ngục. Tin tớ đi. Nếu có địa ngục, tớ sẽ đến đó trước cậu, và người ta sẽ bận rộn với tớ đến mức chẳng có thời gian đưa cậu vào.”
Tôi muốn hỏi đã có chuyện gì xảy ra với cậu. Có thật cậu đã bị suy nhược thần kinh? Có thật cậu đã bị sốc thuốc? Cậu đã ở đâu vào cuối học kỳ vừa rồi?
“Tớ đã nghe rất nhiều chuyện.”
“Về tớ?”
“Chúng có thật không?”
“Có thể.”
Cậu lắc đầu cho tóc rơi khỏi mắt và chăm chú nhìn tôi. Ánh mắt cậu chậm rãi lướt xuống môi tôi. Trong một giây, tôi nghĩ cậu sẽ hôn tôi. Trong một giây, tôi muốn cậu làm thế.
“Vậy, chúng ta có thể gạch cái này đi, phải không? Xong một nơi, còn một nơi nữa. Đi đâu bây giờ?” Tôi nói hệt như thư ký của bố.
“Tớ có một tấm bản đồ trong ba lô.” Cậu không hề nhúc nhích. Thay vào đó cậu đứng đấy, hít vào khí trời, nhìn ngắm xung quanh. Tôi muốn lấy bản đồ vì tôi là người như thế, hoặc đã từng thế, luôn sẵn sàng cho mục tiêu tiếp theo một khi tôi đã nhắm đến nó trong đầu. Nhưng cậu không đi đâu cả, và rồi tay cậu tìm tới tay tôi lần nữa. Thay vì rụt tay lại, tôi bắt mình đứng yên ở đây, và thực ra thế này cũng hay. Các dòng điện đua nhau chạy. Cơ thể tôi xáo động. Gió thổi xào xạc những tán lá. Nghe như một bản nhạc. Chúng tôi đứng cạnh nhau, nhìn ra xa và khắp xung quanh.
Và rồi cậu nói, “Hãy nhảy xuống đi.”
“Cậu chắc không? Đây là nơi cao nhất Indiana đấy.”
“Tớ chắc. Bây giờ hoặc không bao giờ, nhưng tớ cần biết cậu có nhảy cùng tớ không.”
“Được.”
“Sẵn sàng chưa?”
“Sẵn sàng.”
“Đếm đến ba nhé.”
Chúng tôi nhảy ngay lúc những đứa trẻ lững thững đi tới. Chúng tôi hạ cánh, phá ra cười, người đầy bụi. Bằng giọng Úc, Finch nói với chúng: “Bọn anh là dân chuyên nghiệp. Dù thế nào thì mấy đứa cũng đừng thử trò này ở nhà đấy.”
Những gì chúng tôi để lại là một vài đồng xu Anh, một cái gảy ghita màu đỏ, và một móc chìa khóa của trường trung học Bartlett. Chúng tôi cất chúng trong một tảng đá giả dùng để giấu chìa khóa mà Finch tìm thấy trong ga ra nhà cậu. Cậu chèn nó ở giữa những tảng đá xung quanh cột mốc. Cậu xoa bụi bẩn khỏi tay khi đứng dậy. “Cho dù cậu có muốn hay không, từ bây giờ chúng ta sẽ luôn là một phần của nơi đây. Trừ phi những đứa bé kia tới và lấy cắp hết của chúng ta”.
Bàn tay tôi lạnh hơn khi không có tay cậu. Tôi lấy điện thoại ra và nói, “Dù sao chúng ta cũng cần ghi lại trải nghiệm này bằng cách nào đó.” Tôi bắt đầu chụp ảnh trước khi cậu kịp gật đầu đồng tình, và chúng tôi lần lượt tạo dáng ở điểm cao nhất của bang.
Rồi cậu lấy bản đồ ra khỏi ba lô cùng với một quyển vở kẻ dòng. Cậu đưa tôi cuốn sổ và cây bút, và khi tôi nói, “Thế được rồi,” cậu bảo chữ viết tay của cậu chẳng khác nào gà bới và tôi sẽ phụ trách việc ghi chép. Tôi không thể nói là tôi thà lái xe cả chặng đường đến tận Indianapolis còn hơn viết vào quyển sổ này.
Nhưng bởi vì cậu đang nhìn tôi, tôi nguệch ngoạc xuống một vài dòng - địa điểm, ngày, giờ, mô tả ngắn gọn về nơi này và những đứa trẻ bên hàng rào - và sau đó, chúng tôi trải bản đồ ra trên chiếc bàn cắm trại.
Finch và ngón trỏ dò theo đường cao tốc màu đỏ. “Tớ biết thầy Black nói chọn hai kỳ quan rồi đi thăm thú, nhưng tớ không nghĩ thế là đủ. Tớ nghĩ chúng ta cần phải chiêm ngưỡng tất cả chúng.”
“Tất cả gì?”
“Tất cả những điểm hấp dẫn ở bang này. Tất cả những nơi chúng ta có đủ thời gian để đi trong học kỳ này.”
“Chỉ hai thôi. Thỏa thuận vậy rồi mà.”
Cậu nghiên cứu bản đồ, rồi lắc đầu. Bàn tay cậu di chuyển trên mặt giấy. Đến lúc cậu xong việc, trên toàn bộ bang đâu đâu cũng có dấu bút của cậu, cậu khoanh tròn từng thị trấn mà cậu biết có kỳ quan - công viên quốc gia Dune, Quả Trứng Lớn Nhất Thế Giới, nhà của chú ngựa đua Dan Patch, đường hầm phố Market, và Thất Trụ, một loạt các cột đá vôi khổng lồ do thiên nhiên khắc tạc nên nhìn ra sông Mississinewa. Một số vòng tròn ở gần Bartlett, một số ở xa hơn.
“Thế là quá nhiều,” tôi nói.
“Có lẽ thế. Có lẽ không.”
Sẩm tối. Trên lối vào nhà Finch. Tôi đứng cùng Leroy khi Finch tống xe đạp của cậu vào ga ra. Cậu mở cửa vào nhà, và khi thấy tôi đứng im, cậu nói, “Chúng ta phải lấy túi của cậu.”
“Tớ sẽ đợi ở đây.”
Cậu chỉ cười rồi đi mất. Lúc ấy, tôi nhắn tin cho mẹ để thông báo rằng tôi sắp về nhà. Tôi hình dung bà đang đợi ở cửa sổ, ngóng chờ tôi, mặc dù bà sẽ không bao giờ để tôi bắt gặp bà trong cảnh như thế.
Mấy phút sau, Finch trở lại và đứng sát vào tôi, nhìn xuống tôi với đôi mắt xanh biếc. Bằng một tay, cậu vén tóc khỏi xòa xuống mắt. Lâu lắm rồi tôi mới đứng gần một người con trai không phải Ryan đến thế, và tôi chợt nhớ Suze đã nói rằng Finch biết phải làm gì với con gái. Theodore, dù có “Lập Dị” hay không, vẫn mảnh mai, ưa nhìn và là trùm rắc rối.
Thế là, tôi co mình lại. Tôi thả cặp kính của Eleanor xuống mặt để hình ảnh Finch trở nên méo mó và kỳ lạ, như thể tôi đang nhìn cậu qua những tấm gương trong nhà gương.
“Bởi vì cậu đã cười với tớ.”
“Gì cơ?
“Cậu đã hỏi tại sao tớ muốn làm bài tập cùng cậu. Không phải vì cậu cũng ở trên gờ tường đó, mặc dù, được rồi, đó là một phần lý do. Không phải vì tớ cảm thấy mình mang một cái trách nhiệm kỳ lạ là phải để mắt đến cậu, dù cũng có một phần vì thế. Mà là bởi vì cậu đã mỉm cười với tớ hôm đó trên lớp. Một nụ cười thật sự, không phải là nụ cười dớ dẩn mà lúc nào tớ cũng thấy cậu dành cho tất cả mọi người trong khi đôi mắt cậu thể hiện khác hắn với miệng cậu.”
“Đó chỉ là một nụ cười thôi.”
“Có thể là thế đối với cậu.”
“Cậu biết tớ đang hẹn hò với Ryan Cross mà.”
“Tớ tưởng cậu đã nói nó không phải bạn trai cậu.” Trước khi tôi kịp hoàn hồn, cậu bật cười. “Thoải mái đi. Tớ không thích cậu kiểu đấy đâu.”
Bữa tối. Nhà tôi. Bố làm món gà chiên xốt chanh piccata, và thế tức là bếp sẽ biến thành một bãi chiến trường. Tôi bày bàn ăn khi mẹ buộc tóc ra sau và lấy đĩa bố đưa. Ở nhà tôi, ăn uống là cả một sự kiện được đi kèm với một thứ âm nhạc phù hợp và loại vang phù hợp.
Mẹ cắn một miếng thịt gà, giơ ngón tay cái lên khen bố, và nhìn tôi. “Nào, kể cho mẹ thêm về bài tập này đi.”
“Bọn con phải đi dạo khắp Indiana, như thể ở đây có cái gì thú vị lắm ấy. Bọn con phải làm bài theo nhóm, nên con đang làm bài với một bạn nam trong lớp.”
Bố nhướng mày nhìn mẹ và sau đó nhìn tôi. “Con biết không, ngày xưa bố học Địa lý giỏi xuất sắc luôn đấy. Nếu con cần giúp gì…”
Mẹ và tôi ngắt lời bố cùng một lúc, khen bố thức ăn ngon thế nào và hỏi xem có thể lấy thêm không. Ông đứng dậy, hài lòng và quên tiệt cái mình đang nói, còn mẹ che miệng bảo tôi, “Hú vía.” Bố sinh ra là để giúp tôi làm các bài tập ở trường. Vấn đề là cuối cùng ông luôn tự mình làm hết chỗ bài đó.
Ông trở lại và nói, “Này, bài tập này…” đúng lúc mẹ nói, “Thế bạn nam này…”
Ngoài việc muốn biết mọi động thái của tôi, bố mẹ vẫn cư xử như trước đây. Tôi cảm thấy bối rối khi họ lại là những phụ huynh của Ngày xưa, bởi giờ tôi chẳng còn giống ngày xưa chút nào nữa.
“Bố ơi, con đang thắc mắc,” tôi mở lời, miệng đầy thịt gà. “Món ăn này bắt nguồn từ đâu? Ý con là, làm thế nào người ta phát minh ra nó?”
Nếu có bất cứ điều gì bố thích hơn các bài tập, thì đó là việc giải thích lịch sử của mọi sự. Trong phần còn lại của bữa ăn, ông nói không ngừng về Italy cổ và tình yêu người Italia dành cho nghệ thuật nấu ăn lành mạnh, đơn giản, và thế tức là bài tập của tôi và cậu bạn rơi vào quên lãng.
Trên nhà, tôi lướt qua trang Facebook của Finch. Tôi vẫn là người bạn duy nhất của cậu. Đột nhiên một tin nhắn mới xuất hiện. Tớ cảm thấy như mình vừa đi qua tủ quần áo vào xứ Narnia.
Tôi ngay lập tức tìm trích dẫn trong Narnia. Câu nổi bật nhất là: “Cuối cùng tôi đã về nhà! Đây là quê hương đích thực của tôi! Tôi thuộc về nơi này. Đây là vùng đất tôi đã tìm kiếm cả cuộc đời mình, dù đến tận bây giờ tôi mới biết đến nó… Hãy lên cao hơn, hãy đi xa hơn!”
Nhưng thay vì copy lại và gửi đi, tôi ngồi dậy và gạch chéo ngày này trên lịch. Tôi đứng đó nhìn vào chữ “Tốt nghiệp” ở tít tận tháng Sáu, trong khi nghĩ về đồi Hoosier, về đôi mắt xanh biếc của Finch, và cảm giác cậu mang đến cho tôi. Như tất cả mọi thứ sớm hay muộn rồi sẽ kết thúc, ngày hôm nay đã qua đi, nhưng nó là một ngày khá đẹp. Ngày đẹp nhất tôi biết trong hàng tháng vừa rồi.