[Visayan]
Một ngày nọ, một người đàn ông nói với vợ mình: “Vợ ơi, chúng ta ngày càng nghèo đi và anh phải đi buôn để kiếm ít tiền trang trải.”
“Đó là một ý hay,” vợ ông đáp. “Anh có bao nhiêu vốn rồi?”
“Anh có hai mươi lăm xu,” người đàn ông trả lời; “và anh định mua gạo đem ra các mỏ, vì anh nghe nói gạo bán được giá lắm ở trên đó.”
Thế là ông lấy hai mươi lăm xu mua nửa cavan gạo, vác lên vai rồi lội bộ ra mỏ. Đến nơi, ông bảo với mọi người rằng mình có gạo bán, và họ liền hào hứng hỏi ông bán giá bao nhiêu.
“Ơ hay, các người quên giá chuẩn của gạo rồi à?” người đàn ông hỏi. “Là hai mươi lăm xu.”
Họ lập tức mua sạch số gạo, và người đàn ông vô cùng mừng rỡ vì không phải vác nó đi nữa. Ông nhét tiền vào thắt lưng rồi hỏi họ có muốn mua thêm nữa không.
“Có chứ,” họ đáp, “anh mang bao nhiêu cavans đến chúng tôi mua hết bấy nhiêu.”
Khi người đàn ông về đến nhà, vợ ông liền hỏi xem chuyến đi có thuận lợi không.
“Ôi vợ ơi,” ông đáp, “việc buôn bán tốt lắm em ạ. Anh còn chưa kịp hạ gác gạo xuống vai mà mọi người đã tranh nhau mua rồi.”
“Thế thì tốt quá,” người vợ nói; “chúng ta rồi sẽ giàu to cho mà xem.”
Sáng hôm sau, người đàn ông cũng mua nửa cavan gạo y như trước rồi mang ra mỏ, và khi họ hỏi giá bao nhiêu, ông đáp:
“Vẫn giá như cũ—hai mươi lăm xu.” Ông nhận tiền rồi quay về.
“Hôm nay việc buôn bán thế nào rồi anh?” vợ ông hỏi.
“À, vẫn như hôm trước thôi,” ông bảo. “Anh còn chưa kịp hạ gạo xuống vai thì họ đã kéo đến mua hết sạch.”
Và cứ thế, ông tiếp tục công việc kinh doanh trong suốt một năm trời, ngày nào cũng mua nửa cavan gạo rồi bán lại đúng với giá vốn. Rồi đến một ngày nọ, vợ ông bảo hai vợ chồng sẽ tổng kết sổ sách; bà trải một chiếc chiếu xuống sàn, ngồi vào một đầu và giục chồng ngồi ở đầu bên kia. Khi bà hỏi xin số tiền ông kiếm được trong suốt một năm qua, ông ngơ ngác hỏi:
“Tiền gì cơ em?”
“Thì tiền anh thu về chứ gì,” vợ ông đáp; “rồi chúng ta mới biết được anh đã lãi bao nhiêu chứ.”
“À, đây này,” người đàn ông nói, rồi tháo hai mươi lăm xu ra khỏi thắt lưng đưa cho vợ.
“Cả năm nay anh chỉ thu về được bấy nhiêu thôi á?” người vợ tức giận quát lên. “Chẳng phải anh từng bảo gạo ở mỏ bán được giá lắm cơ mà?”
“Chỉ có thế thôi,” ông đáp.
“Thế anh mua gạo hết bao nhiêu?”
“Hai mươi lăm xu.”
“Thế anh bán lại được bao nhiêu?”
“Hai mươi lăm xu.”
“Trời đất ơi chồng tôi ơi,” người vợ kêu lên, “anh bán đúng bằng giá vốn thì sao mà có lãi cho được.”
Người đàn ông tựa đầu vào tường và trầm ngâm suy nghĩ. Kể từ dạo đó, người ta gọi ông là “Mansumandig”, tức kẻ hay ngả đầu ra sau suy ngẫm.
Bấy giờ người vợ mới bảo: “Đưa đây cho em hai mươi lăm xu, để em thử kiếm tiền xem sao.” Thế là ông giao tiền cho vợ, và bà dặn: “Bây giờ anh hãy ra cánh đồng nơi người ta đang thu hoạch gai dầu và mua về cho em đúng hai mươi lăm xu tiền gai, em sẽ dệt nó thành vải.”
Khi Mansumandig mang gai dầu về, bà đem phơi ngoài nắng, và ngay khi gai khô, bà nối chúng thành những sợi dài rồi đưa lên khung cửi để dệt. Bà miệt mài làm việc cả ngày lẫn đêm, và khi tấm vải hoàn thành, chiều dài của nó được tám vara. Bà đem bán với giá mười hai xu rưỡi một vara, rồi dùng số tiền đó mua thêm gai dầu. Bà cứ tiếp tục công việc dệt và bán vải như thế, tay nghề của bà khéo đến mức ai nấy đều hào hứng mua hàng.
Cuối năm đó, bà lại trải chiếu xuống sàn và ngồi vào một đầu, trong khi chồng ngồi ở đầu bên kia. Kế đó, bà trút đống tiền đựng trong chiếc khăn gói ra giữa chiếu. Bà tách riêng số vốn ban đầu là hai mươi lăm xu, rồi khi đếm phần còn lại, bà giật mình nhận ra mình đã có trong tay ba trăm peso. Mansumandig vô cùng hổ thẹn khi nhớ lại chuyện bản thân chẳng kiếm nổi một xu lợi nhuận, liền tựa đầu vào tường trầm tư suy nghĩ. Một lúc sau, thấy chồng đáng thương, người vợ bèn đưa tiền cho ông và bảo đi mua trâu.
Ông đã mua được mười con trâu và dùng chúng để cày bừa đồng áng. Nhờ mùa màng bội thu, hai vợ chồng có một cuộc sống sung túc suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời.