Tu viện Immaru
Khu tự trị Tây Tạng
Sáng hôm sau, Milo lại đợi Kate dậy, cũng như sáng hôm trước. Cậu ta ngồi đó bao lâu để đợi mình thức dậy? cô tự hỏi.
Kate ngồi dậy và thấy một bát cháo sáng vẫn ở chỗ cũ. Cô và Milo pha trò chào nhau buổi sáng, rồi cậu lại dẫn cô đến phòng của David.
Cuốn nhật ký vẫn nằm trên bàn cạnh giường, nhưng Kate không để ý đến nó mà lại gần David trước. Cô cho anh uống kháng sinh rồi kiểm tra vết thương trên vai và chân anh. Sau một đêm, những quầng đỏ đã lan ra đến ngực và bắp đùi anh. Kate cắn cắn má trong của mình và lơ đãng nhìn ra cửa sổ.
“Milo, tôi cần cậu giúp một việc. Việc rất quan trọng.”
“Như tôi đã nói khi chúng ta mới gặp nhau ấy, thưa bác sĩ,” cậu lại cúi đầu, “Milo luôn sẵn sàng phục vụ.”
“Cậu có sợ máu không, Milo?”

Mấy tiếng sau, Kate băng nốt miếng gạc cuối cùng lên vai David. Một đống băng vấy máu nằm giữa một vũng máu và mủ trong cái bát đặt bên bàn. Milo đã làm rất tốt, có lẽ không tốt bằng y tá phòng phẫu thuật, nhưng vẻ điềm tĩnh kiểu thiền của cậu đã giúp được nhiều, nhất là giúp Kate giữ cho chính mình bình tĩnh.
Khi băng bó cho anh xong, Kate vuốt tay lên ngực David và thở ra một hơi dài. Giờ cô chỉ còn có thể chờ đợi thôi. Cô ngồi dựa vào vách tường và ngắm ngực anh nhô lên hạ xuống, khẽ đến mức gần như không nhìn thấy nổi.
Một lát sau, cô mở cuốn nhật ký ra và bắt đầu đọc.

Ngày 3 tháng 6, 1917
“Giờ thì sao?” bác sĩ Carlisle hỏi trong lúc ấn mạnh ngòi bút mực vào chân tôi.
“Có,” tôi nghiến răng đáp.
Ông ta lướt cái bút xuống dưới và chọc một cái nữa. “Thế còn ở đây?”
“Đau chết đi được.”
Ông ta ngồi thẳng dậy và nghiền ngẫm kết quả kiểm tra của mình.
Trước khi ông ta khám chân cho tôi, ông ta đã dành kha khá thời gian thu thập “bệnh sử”. Đây là một thay đổi đáng hoan nghênh so với những bác sĩ phẫu thuật ở bệnh viện dã chiến chỉ biết nhìn vết thương chứ không nhìn bệnh nhân, và thường tiến hành phẫu thuật luôn mà không nói một lời nào. Tôi nói với bác sĩ rằng tôi hai mươi sáu tuổi, sức khỏe bình thường, không “nghiện ngập” gì, và đã bị thương khi một đường hầm sập xuống trên Mặt trận phía Tây. Ông ta gật đầu và khám cho tôi hết sức kỹ lưỡng, nhận xét rằng vết thương không khác lắm so với những vết thương ông ta đã thấy ở các thợ mỏ và vận động viên mà ông ta đã chữa.
Tôi chờ đợi kết luận của ông ta, bụng tự hỏi mình có nên nói gì không.
Ông bác sĩ thành thị gãi gãi đầu rồi ngồi xuống cạnh giường. “Phải nói thật là tôi đồng ý với những gì các bác sĩ quân y đã khuyên anh. Lẽ ra tốt hơn hết là phải cắt bỏ nó ngay lúc ấy, có lẽ là cắt ngay dưới đầu gối, hay ít ra nếu là tôi thì tôi sẽ bắt đầu từ đó.”
“Thế giờ thì sao?” Tôi khiếp sợ câu trả lời.
“Giờ thì... tôi không chắc lắm. Anh sẽ không đi lại bằng nó được nữa hay ít ra là không đi bình thường được. Chủ yếu sẽ phụ thuộc vào việc anh đau đớn đến mức nào. Chắc chắn là rất nhiều dây thần kinh bị tổn thương. Tôi đề nghị anh hãy thử cố hết sức đi bộ trong một hai tháng tới. Nếu đau không thể chịu được, như tôi đoán, thì chúng ta sẽ cắt bỏ dưới đầu gối. Phần lớn cảm giác nằm ở hai bàn chân; ở đó có nhiều dây thần kinh hơn cả. Như vậy sẽ giúp anh bớt đau hơn.” Như để đón trước nỗi đau đớn của tôi, ông ta nói thêm, “Chúng ta không chỉ chống lại cơn đau không thôi. Tính tự phụ cũng là một vấn đề. Không ai muốn bị mất nửa cái chân cả, nhưng người bị mất nửa chân cũng không vì thế mà kém cỏi hơn. Tốt nhất là nên suy nghĩ thực tế một chút. Rồi anh sẽ thấy biết ơn điều đó đấy. Và tôi đoán yếu tố cuối cùng cần tính đến đó là công việc anh sẽ làm, đại úy - không, là thiếu tá, phải không? Tôi chưa bao giờ gặp một thiếu tá còn trẻ như anh.”
“Khi tất cả đồng đội quanh ta đều chết cả thì sẽ được thăng chức nhanh thôi,” tôi nói, cố trì hoãn một câu hỏi khác, câu hỏi mà tôi đã tránh nghĩ tới kể từ khi đường hầm sập xuống. Khai thác mỏ là công việc duy nhất tôi biết. “Tôi không biết tôi sẽ làm gì sau... sau khi tôi đi lại được.” Đó là cụm từ duy nhất tôi nghĩ ra.
“Công việc bàn giấy sẽ, ờ, phù hợp với anh nhất, nếu anh kiếm được việc đó.” Ông ta gật đầu và đứng dậy. “Thôi, nếu chỉ có vậy thì một tháng nữa anh hãy gọi điện hoặc viết thư cho tôi.” Ông ta trao cho tôi một tấm danh thiếp có địa chỉ của ông ta ở London.
“Cảm ơn ông, bác sĩ, thật sự đấy.”
“Tôi không thể từ chối một yêu cầu của Huân tước Barton được. Chúng tôi quen nhau từ thuở còn học trường Eton, và khi ông ấy nói anh là anh hùng chiến tranh, và cô con gái của ông ấy cứ cố nài mãi, đến nỗi ông ấy sợ trái tim cô bé sẽ tan nát nếu tôi không đến khám cho anh, thì tôi lập tức lên tàu ngay ngày hôm sau.”
Có tiếng động ngoài hành lang, như thể ai đó vừa làm rơi cái gì từ trên giá xuống. Bác sĩ Carlisle và tôi cùng liếc về phía đó, nhưng cả hai chúng tôi đều không nói gì.
Ông ta xách cái túi đen lên và đứng dậy. “Tôi sẽ hướng dẫn Helena cách băng bó cái chân. Chúc may mắn, thiếu tá.”

Ngày 5 tháng 8, 1917
Hai tháng đã trôi qua, và tôi đã “đi lại” được khoảng một tháng rồi. Chủ yếu là tập tễnh. Vào những ngày khá khẩm thì tôi có thể đi cà nhắc được với gậy chống.
Một tuần trước, Carlisle đã đến để xem màn biểu diễn què cụt của tôi. Ông ta đứng cạnh Helena và hò reo như một người chủ tự hào ở cuộc thi chó vậy.
Nói như vậy kể cũng bất công. Và nhẫn tâm nữa - với một người chỉ toàn đối xử tốt với tôi.
Những viên thuốc. Chúng làm lu mờ cơn đau và những thứ khác nữa, bao gồm cả ý nghĩ của tôi. Khi uống chúng thì tôi chẳng còn cảm giác gì, còn khi thuốc hết tác dụng thì tôi lại lồng lộn như con ong bắp cày. Chiến đấu với tâm trí mình là một kiểu tra tấn kỳ lạ. Tôi nghĩ tôi thích bắn vào quân Liên minh hơn; ít nhất lúc đó tôi biết mình đang ở đâu và có thể nghỉ ngơi một chút khi không phải ra trận. Những tuần đi lại, nốc thuốc, rồi lại tập tễnh lê bước khiến tôi có một nỗi sợ khác: rằng tôi sẽ không bao giờ thoát khỏi con quỷ đeo bám trên lưng, liên tục xúi giục tôi chấm dứt cơn đau. Tôi cần những viên thuốc, không thể thiếu chúng, và cũng không muốn phải thiếu chúng. Tôi đã đánh đổi con quỷ thuốc phiện lấy hai cái nạng, một cái trên tay tôi và một cái trong túi tôi.
Carlisle nói tôi sẽ đi lại vững vàng hơn một khi tôi “quen với cái chân” và tìm được liều lượng ít nhất có thể với thuốc giảm đau. Nói thì dễ lắm.
Nhưng những viên thuốc không phải là thứ tôi đã trở nên gắn bó nhất trong những tháng tôi rời bệnh viện. Nàng không giống bất kỳ ai tôi đã từng gặp. Ý nghĩ về việc phải chuyển đi, phải nói lời tạm biệt, khiến tôi khiếp sợ. Tôi biết tôi muốn làm gì: nắm tay nàng, lên một con tàu và đi xa khỏi Gibraltar, ra khỏi cuộc chiến, xa khỏi quá khứ, và bắt đầu lại từ đầu, ở một nơi an toàn, nơi con cái chúng tôi có thể lớn lên không chút lo phiền.

Đã gần ba giờ, và cả ngày nay tôi chưa uống viên thuốc nào. Tôi muốn đầu óc tỉnh táo khi nói chuyện với nàng. Tôi không muốn bỏ lỡ điều gì, bất chấp cơn đau, dù là ở chân tôi hay trong tim tôi.
Tôi sẽ cần đến tất cả trí thông minh của mình. Có lẽ vì nàng được nuôi nấng trong tính khắc kỷ và khiếu hài hước phớt lạnh kiểu Anh, hoặc có lẽ vì hai năm trời nàng làm việc ở bệnh viện dã chiến, nơi tình cảm cũng dễ lây và nguy hiểm như chứng nhiễm trùng mà họ luôn phải chống lại, nhưng người phụ nữ này quả là không dò thấu nổi. Nàng cười to, cười mỉm, nàng tràn đầy sức sống, nhưng nàng không bao giờ mất tự chủ, không bao giờ lỡ lời, không bao giờ để lộ ý nghĩ của mình. Tôi sẵn sàng đánh đổi cả cái chân còn lại để biết nàng cảm thấy như thế nào về tôi.
Tôi đã suy nghĩ về các lựa chọn của mình và sắp xếp những việc tôi có thể làm. Ngay sau hôm lão quỷ Damien Webster ấy đến, tôi đã viết ba lá thư. Lá thứ nhất gửi cho Ngân hàng Quốc gia Thứ nhất ở Charleston để báo cho họ chuyển tiền trong tài khoản của cha tôi tới Trại trẻ mồ côi bang Tây Virginia ở Elkins. Tôi gửi lá thư thứ hai tới trại trẻ để họ biết sắp có tiền quyên góp, và nếu họ không nhận được thì hãy liên lạc với ngài Damien Webster, vì đó là người cuối cùng có quyền tiếp cận tài khoản đó. Tôi thực sự mong họ nhận được số tiền.
Lá thư cuối cùng tôi gửi cho Ngân hàng Thành phố Charleston, nơi đặt tài khoản của riêng tôi. Một tuần rưỡi sau, tôi nhận được thư trả lời, báo rằng tài khoản của tôi có 5.752,34 đô la và sẽ tốn một khoản phí để gửi số tiền đó qua séc đến Gibraltar. Tôi đã đoán trước mình sẽ bị chặt chém chút ít khi rút tiền, vì các ngân hàng thường làm vậy, và tôi phúc đáp ngay lập tức, cảm ơn họ và yêu cầu họ gửi séc sớm nhất có thể. Hôm qua, một người đưa thư đã đem nó tới.
Tôi cũng nhận được số tiền lương quân đội ít ỏi, phần lớn do quân đội giữ trong lúc tôi còn ở mặt trận. Tôi đã được xuất ngũ danh dự tuần trước, vì thế đây sẽ là số tiền cuối cùng tôi nhận được.
Cả thảy tôi có 6.382,79 đô la - còn lâu mới đủ để tôi nuôi vợ và lập nghiệp. Tôi sẽ phải kiếm một công việc bàn giấy gì đó, dễ nhất sẽ là việc ở ngân hàng hoặc đầu tư, có lẽ là đầu tư vào lĩnh vực gì đó tôi biết - khai thác mỏ hoặc đạn dược. Nhưng những công việc đó chỉ một loại người nhất định mới kiếm được, những người có quan hệ đúng kiểu và được học hành đúng kiểu. Nếu có vốn riêng, tôi cũng có thể thử, và nếu gặp may trúng được một mạch mỏ - than đá, vàng, kim cương, đồng, hoặc bạc - thì tiền sẽ không thành vấn đề. Hai mươi lăm ngàn đô là mục tiêu tôi tự đặt ra. Với số tiền đó tôi sẽ không được phép phạm sai lầm.
Tôi nghe tiếng Helena mở cửa, và tôi đi ra phòng chờ nhỏ để đón nàng. Bộ đồng phục y tá của nàng đầy máu, và nó đối lập một cách kỳ lạ với nụ cười hiền dịu nở ra trên khuôn mặt nàng khi nàng thấy tôi. Tôi sẵn lòng đánh đổi bất kỳ thứ gì để biết đó là một nụ cười thương hại hay nụ cười hạnh phúc. “Anh đã đứng lên rồi à. Đừng ngại quần áo tôi; tôi đi thay bây giờ đây,” nàng vừa nói vừa ra khỏi phòng.
“Mặc cái gì đẹp đẹp ấy nhé,” tôi gọi với theo. “Tôi sẽ đưa cô đi dạo, rồi đi ăn tối.”
Nàng ló đầu ra khỏi cửa buồng ngủ. “Thật à?” Nụ cười của nàng nở rộng hơn, với một thoáng ngạc nhiên. “Có cần tôi lấy quân phục của anh ra không?”
“Không. Cảm ơn cô, nhưng tôi không mặc quân phục nữa đâu. Tối nay là vì chuyện tương lai.”