Gene Atlantis

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 13

❊ ❊ ❊

Phòng thẩm vấn C

Trại tạm giam Đồn cảnh sát Tây Jakarta

Jakarta, Indonesia

Kate ngồi ngả lên ghế và ngẫm nghĩ về các lựa chọn của mình. Cô sẽ phải nói thật với viên sĩ quan điều tra về việc thử nghiệm đã được bắt đầu như thế nào. Cho dù y không tin thì cô cũng có lời khai đó làm bằng chứng, đề phòng trường hợp họ đưa cô ra tòa. “Dừng lại,” cô nói.

Người đàn ông dừng lại ở ngưỡng cửa.

Kate hạ chân ghế xuống và chống tay lên bàn. “Có lý do chính đáng để phòng thí nghiệm của tôi nhận nuôi những đứa trẻ đó. Có điều này ông nên hiểu. Khi mới đến Jakarta, tôi đã nghĩ mình sẽ bắt đầu thử nghiệm này như mọi thử nghiệm khác ở Mỹ. Đó là sai lầm đầu tiên của tôi. Chúng tôi thất bại... và chúng tôi... đã thay đổi phương thức làm việc.”

Người đàn ông nhỏ con quay đi khỏi cửa, ngồi xuống và lắng nghe trong lúc Kate kể lại cô đã mất nhiều tuần để tìm bệnh nhân ra sao.

Tổ chức của Kate đã thuê một Tổ chức Nghiên cứu Lâm sàng (CRO) để điều phối thử nghiệm này, cũng giống như ở Mỹ. Ở Mỹ, các công ty dược tập trung phát triển một loại thuốc hoặc một liệu pháp mới, và khi tìm ra một thứ khả thi, họ thường chuyển việc quản lý thử nghiệm sang cho các CRO. Các CRO sẽ tìm những cơ sở y tế có bác sĩ quan tâm tới việc thử nghiệm này. Những cơ sở này sẽ tìm kiếm các bệnh nhân tự nguyện tham gia thử nghiệm, cho họ dùng thuốc/liệu pháp mới, rồi định kỳ kiểm tra xem họ có vấn đề gì về sức khỏe - tức là họ có gặp phải phản ứng có hại nào hay không. CRO sẽ theo dõi sát sao từng cơ sở một và báo cáo kết quả về cho nhà tài trợ hoặc tổ chức nghiên cứu, sau đó những tổ chức này sẽ tự báo cáo về với Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm hoặc với các chính phủ trên toàn thế giới. Mục đích của họ là cuộc thử nghiệm thu được những kết quả chữa bệnh như mong muốn mà không có tác dụng xấu hoặc tiêu cực nào. Đó là cả một chặng đường dài, và chưa đầy một phần trăm số thuốc có kết quả trong phòng thí nghiệm được đưa ra bày bán ở hiệu thuốc.

Chỉ có một vấn đề duy nhất: ở Jakarta và trên toàn Indonesia nói chung không có một cơ sở nào dành riêng cho trẻ tự kỷ, mà chỉ có một số ít phòng khám đặc biệt chuyên điều trị các hội chứng rối loạn phát triển. Các cơ sở này không có kinh nghiệm trong việc thử nghiệm lâm sàng - một tình huống nguy hiểm đối với bệnh nhân. Nền công nghiệp dược phẩm ở Indonesia rất yếu kém, chủ yếu vì thị trường quá nhỏ (Indonesia nhập khẩu phần lớn các loại thuốc thông dụng), vậy nên họ liên lạc được với rất ít bác sĩ cho việc nghiên cứu.

CRO đã nghĩ ra một ý tưởng mới mẻ: trực tiếp liên lạc với bệnh nhân và tổ chức một cơ sở riêng để tiến hành việc chữa trị. Kate và điều tra viên chính của thử nghiệm, bác sĩ John Helms, đã họp với CRO rất nhiều lần để tìm kiếm cách giải quyết khác. Nhưng không được. Kate thúc giục bác sĩ Helms đồng ý với kế hoạch này, và cuối cùng ông ta cũng chấp nhận.

Họ đã lên một danh sách các gia đình sống trong phạm vi chừng một trăm sáu mươi cây số quanh Jakarta có con được liệt vào dạng tự kỷ. Kate thuê một thính phòng tại một trong những khách sạn sang nhất thành phố và mời các gia đình đó đến dự một buổi giới thiệu.

Trong suốt mấy ngày trời, cô viết đi viết lại tập sách nhỏ giới thiệu về cuộc thử nghiệm. Cuối cùng, Ben đã lao vào văn phòng của cô và dọa cậu ta sẽ bỏ việc nếu cô không chịu thôi. Kate đành nhượng bộ, tập sách được một ủy ban về nội quy thông qua, rồi đem đi in, trong lúc họ chuẩn bị cho buổi giới thiệu.

Đến ngày hôm đó, cô đứng bên cửa, sẵn sàng chào đón từng gia đình khi họ tới. Cô mong tay mình đừng đổ mồ hôi nữa. Cứ chốc chốc cô lại phải chùi tay vào quần. Những ấn tượng đầu tiên là quan trọng nhất. Cần phải tỏ ra tự tin, đáng tin cậy, và chuyên nghiệp.

Cô chờ đợi. Liệu họ có đủ sách giới thiệu không nhỉ? Họ đã cho in một ngàn cuốn, và mặc dù họ chỉ gửi sáu trăm giấy mời, có thể cả bố lẫn mẹ trong gia đình đó sẽ tới. Các gia đình khác cũng có thể sẽ tới - không có một cơ sở dữ liệu hay sổ sách đăng ký nào xác thực có bao nhiêu gia đình có con bị tự kỷ ở Indonesia. Nếu thiếu thì sao đây? Cô bảo Ben sẵn sàng dùng máy photocopy của khách sạn phòng trường hợp đó; cậu ta có thể sao in bản tóm tắt trong lúc cô thuyết trình.

Đã quá mười lăm phút. Hai bà mẹ đầu tiên xuất hiện. Kate lại chùi tay cho khô trước khi bắt tay họ thật mạnh và nói hơi to quá. “Rất vui được gặp các chị - cảm ơn các chị đã đến - không, đúng là ở đây đấy - mời các chị ngồi, chúng tôi sẽ bắt đầu ngay đây...”

Ba mươi phút trôi qua.

Một tiếng trôi qua.

Cô đi quanh sáu bà mẹ, trò chuyện với họ. “Tôi không biết có chuyện gì - chị nhận được giấy mời hôm nào? - Không, chúng tôi có mời cả những người khác nữa - Tôi đoán bưu điện có vấn đề...”

Cuối cùng, Kate đành dẫn sáu người vào một phòng họp nhỏ trong khách sạn để đỡ khó xử cho tất cả. Cô đang trình bày một bài giới thiệu ngắn thì lần lượt, từng bà mẹ một đều xin phép ra về, nói họ phải đi đón con, phải đi làm, vân vân.

Trong quán rượu của khách sạn ở tầng dưới, bác sĩ Helms uống say mèm. Khi Kate đến ngồi với ông ta, ông già tóc bạc ấy ngả sát người cô và nói, “Tôi đã bảo cô là sẽ không có kết quả mà. Chúng ta sẽ không bao giờ kiếm được bệnh nhân ở đây đâu, Kate. Tại sao - ê ê, anh bồi, ra đây, cho tôi một ly, ờ hờ vẫn như cũ nhé, cảm ơn nhiều - Tôi đang nói gì nhỉ? À à, chúng ta phải nhanh chóng thu dọn ở đây thôi. Tôi đã được mời về Oxford. Trời, tôi nhớ Oxford lắm, ở đây ẩm thấp quá thể, lúc nào cũng như trong nhà tắm hơi ấy. Và tôi cũng phải thừa nhận, Oxford là nơi tôi thành công nhất. Nhân tiện...” Ông ta ghé vào sát hơn. “Tôi không muốn trù úm nó bằng cách nói ra mấy từ Giải. No. Bel. Nhưng... tôi nghe nói là tên tôi đã được đề cử - năm nay có thể là năm của tôi, Kate ạ. Tôi chỉ mong chóng quên được thất bại ê chề này. Khi nào tôi mới biết rút ra bài học đây? Chắc tôi luôn yếu lòng trước những sự nghiệp chân chính.”

Kate muốn nhắc ông ta nhớ rằng trái tim mềm yếu của ông ta đã rất cứng rắn khi ngã giá trong vụ này - ông ta đòi gấp ba lần tiền lương của cô và tên ông ta phải được in đầu trong mọi bài báo hoặc bằng sáng chế, mặc dù toàn bộ công trình này là dựa trên các nghiên cứu sau tiến sĩ của cô - nhưng cô cứ im thin thít và chỉ nốc nốt ly vang Chardonnay của mình.

Tối hôm đó, cô gọi cho Martin. “Con không thể...”

“Thôi ngay, Kate. Con có thể làm bất kỳ điều gì nếu con quyết tâm. Con luôn là như vậy. Có hai trăm triệu người ở Indonesia và gần bảy tỉ người trên cái hành tinh nhỏ bé này. Và có đến gần 0,5 phần trăm số người đó có thể được liệt vào dạng tự kỷ - tức là ba mươi lăm triệu người - bằng dân số của toàn bang Texas. Con mới gửi thư cho sáu trăm gia đình thôi. Đừng bỏ cuộc. Ta không cho phép con làm thế. Sáng mai, ta sẽ gọi điện cho giám đốc ban kinh phí của Trung tâm Nghiên cứu Immari; họ sẽ tiếp tục cấp tiền cho con - cho dù cái lão lang băm John Helms ấy có tham gia nghiên cứu hay không.”

Cuộc trò chuyện khiến Kate nhớ lại cái đêm cô gọi điện cho ông từ San Francisco, khi Martin hứa với cô rằng Jakarta sẽ là một nơi tuyệt vời để cô bắt đầu lại từ đầu và tiếp tục nghiên cứu của mình. Có lẽ ông đã đúng.

Sáng hôm sau, cô vào phòng thí nghiệm và bảo Ben đặt in thêm sách giới thiệu. Và tìm phiên dịch viên. Họ sẽ đi đến các làng. Họ sẽ mở rộng phạm vi thả lưới - và họ cũng không đợi các gia đình đến với họ nữa. Cô sa thải CRO. Cô không thèm để ý đến lời phản đối của bác sĩ Helms.

Hai tuần sau, họ lên ba chiếc xe tải với bốn nghiên cứu viên, tám phiên dịch viên, và hàng thùng sách giới thiệu in bằng năm thứ tiếng: tiếng Indo/Mã Lai, tiếng Java, tiếng Sunda, tiếng Madura, và tiếng Betawi. Kate cũng đã phải rất khó khăn mới chọn được năm thứ tiếng này: trên khắp Indonesia có đến hơn bảy trăm thứ tiếng riêng biệt, nhưng cuối cùng, cô đã chọn năm thứ tiếng phổ biến nhất ở Jakarta và đảo Java. Kể cũng mỉa mai thật, nhưng cô sẽ không để thử nghiệm chữa bệnh tự kỷ của mình thất bại chỉ vì vấn đề giao tiếp.

Cũng như ở khách sạn tại trung tâm Jakarta, mọi chuẩn bị của cô hóa ra là công cốc. Khi tiến vào ngôi làng đầu tiên, Kate và cả nhóm hết sức kinh ngạc: ở đây không có đứa trẻ tự kỷ nào. Dân làng không quan tâm đến sách giới thiệu. Các phiên dịch viên nói với cô không ai biết đứa trẻ nào có những biểu hiện như vậy.

Thật vô lý. Lẽ ra phải có ít nhất hai, thậm chí là ba bệnh nhân tiềm năng ở mỗi làng, có khi là hơn nữa.

Đến làng tiếp theo, Kate nhận thấy một phiên dịch viên, một người đàn ông lớn tuổi hơn, đứng dựa vào xe trong lúc cả nhóm và các phiên dịch viên khác đi đến từng nhà.

“Sao ông không đi cùng họ?” Kate hỏi.

Ông ta nhún vai. “Vì cũng chẳng khác gì đâu.”

“Chẳng khác gì là thế nào. Ông hãy...”

Ông ta giơ tay lên. “Tôi không có ý xúc phạm, thưa cô. “Tôi chỉ muốn nói là cô đặt nhầm câu hỏi rồi. Và cô cũng hỏi nhầm người nữa.”

Kate săm soi ông ta. “Được rồi. Thế ông sẽ hỏi ai? Và ông sẽ hỏi gì họ?”

Người đàn ông đứng lên khỏi chiếc xe, vẫy Kate theo, và đi vào sâu hơn trong làng, qua những ngôi nhà khang trang hơn. Ra đến rìa làng, ông ta gõ lên cánh cửa đầu tiên, và khi một phụ nữ thấp bé ra mở cửa, ông ta liền nói rất nhanh, giọng gay gắt, thỉnh thoảng lại chỉ vào Kate. Cảnh tượng đó khiến cô co rúm người. Cô lúng túng kéo hai vạt áo blu trắng vào với nhau. Cô cũng đã băn khoăn rất nhiều về việc chọn quần áo, và cuối cùng quyết định sẽ tốt nhất nếu cô có một vẻ bề ngoài chuyên nghiệp đúng kiểu y bác sĩ. Cô chỉ có thể tưởng tượng mình trông như thế nào với những người dân làng, vốn chỉ có quần áo tự may lấy bằng những mảnh vải thừa lấy từ các xưởng may mặc hoặc những thứ đồ cũ rách nát.

Kate nhận ra người phụ nữ đã đi mất, và cô bước tới trước định tra hỏi người phiên dịch, nhưng ông ta giơ tay ngăn cô lại khi người phụ nữ trở ra, dẫn theo ba đứa trẻ, rồi chị ta đẩy chúng ra trước mặt họ. Chúng cắm mắt xuống đất và đứng im như tượng. Người phiên dịch đi từ đứa này sang đứa kia, nhìn chúng từ đầu đến chân. Kate đổi chân trụ, nghĩ xem nên làm gì. Ba đứa trẻ đều khỏe mạnh; không đứa nào có chút biểu hiện gì là tự kỷ cả. Đến đứa cuối cùng, người đàn ông cúi xuống và lại quát lên. Người mẹ vội nói gì đó, nhưng ông ta quát chị ta, khiến chị ta im bặt. Đứa bé lo sợ thốt ra ba từ. Người phiên dịch nói gì đó, và đứa trẻ nhắc lại ba từ ấy. Kate tự hỏi liệu đó có phải là những cái tên không. Hay là tên địa danh?

Tay phiên dịch đứng lên và lại chỉ trỏ, quát tháo người phụ nữ. Chị ta tức giận lắc đầu, liên tục nhắc đi nhắc lại một cụm từ. Sau khi bị người phiên dịch quát nạt một hồi, chị ta mới cúi đầu và hạ giọng xuống. Chị ta chỉ vào một căn nhà khác. Giọng người phiên dịch bây giờ mới trở nên nhẹ nhàng, và người phụ nữ có vẻ nhẹ nhõm hơn. Chị ta dẫn lũ trẻ vào nhà và đóng cửa vội vàng đến nỗi suýt kẹp đứt đứa sau cùng ra làm đôi.

Cảnh tượng ở ngôi nhà rách nát thứ hai diễn ra cũng giống như vậy: người phiên dịch quát tháo và chỉ trỏ, Kate lúng túng đứng trơ ra, và người mẹ lo lắng dẫn ra bốn đứa con, rồi chờ đợi với vẻ sợ sệt trong mắt. Lần này, khi người phiên dịch hỏi lũ trẻ, một đứa nói ra năm từ mà Kate nghĩ là những cái tên. Người mẹ lên tiếng phản đối, nhưng người phiên dịch không để ý đến chị ta mà tiếp tục gặng hỏi đứa bé. Khi đứa bé trả lời, người đàn ông to con đó liền đứng bật dậy, gạt lũ trẻ và mẹ chúng sang bên, rồi lao qua cửa. Kate bị bất ngờ, nhưng khi người mẹ và lũ trẻ theo ông ta vào nhà thì cô cũng chạy theo.

Ngôi nhà này là một nơi tồi tàn, chật hẹp, chỉ có ba gian. Cô suýt vấp ngã. Ở trong cùng, cô thấy người phiên dịch và người phụ nữ cãi cọ còn gay gắt hơn trước. Dưới chân họ, một đứa trẻ nhỏ, hốc hác bị trói vào cột nhà. Nó đã bị bịt miệng, nhưng cô có thể nghe thấy những tiếng ư ư nho nhỏ nhịp nhàng phát ra từ miệng nó trong lúc nó vừa đảo người tới lui vừa đập đầu vào cây cột gỗ.

Kate túm lấy tay phiên dịch. “Chuyện gì thế này? Cho tôi biết có chuyện gì.”

Người đàn ông nhìn từ Kate sang người mẹ, như bị kẹt giữa chủ của mình và một con thú bị nhốt trong lồng đang gào rú mỗi lúc một khủng khiếp. Kate nắm chặt tay ông ta rồi giật ông ta về phía mình, và ông ta liền giải thích. “Chị ta nói không phải lỗi của chị ta. Nó rất hư. Nó không chịu ăn. Nó không nghe lời. Nó không chơi với những đứa khác. Chị ta nói khi người khác gọi tên nó còn không thèm thưa.”

Tất cả đều là những biểu hiện điển hình của chứng tự kỷ; một ca nặng đây. Kate cúi xuống nhìn đứa trẻ.

Người đàn ông nói thêm, “Chị ta cứ khăng khăng nói không phải là lỗi của chị ta. Chị ta bảo chị ta đã nuôi nó lâu hơn những đứa khác, nhưng chị ta không thể...”

“Đứa khác nào?”

Người phiên dịch nói chuyện với người phụ nữ bằng giọng bình thường, rồi quay sang Kate. “Bên ngoài làng. Có một nơi người ta đem bỏ những đứa trẻ không chịu nghe lời bố mẹ, những đứa hư đốn, không chịu là một phần trong gia đình họ.”

“Đưa tôi đến đó.”

Người phiên dịch dỗ người phụ nữ cho biết thêm thông tin, rồi chỉ ra cửa ý nói họ phải đi. Người phụ nữ gọi với theo. Ông ta quay sang Kate. “Chị ta muốn biết chúng ta có đưa nó đi không.”

“Bảo chị ta là có, dặn chị ta cởi trói cho nó và chúng ta sẽ quay lại.”

Người phiên dịch dẫn Kate đến một khu rừng vắng hoe ở phía Nam ngôi làng. Sau khi tìm kiếm một giờ đồng hồ, họ không thấy gì, nhưng họ vẫn tiếp tục tìm. Thỉnh thoảng, Kate nghe thấy tiếng lá và cành cây lay động khi thú hoang chạy quanh. Mặt trời sắp lặn, và cô tự hỏi lúc đó khu rừng này sẽ như thế nào. Indonesia là một nước nhiệt đới; nhiệt độ ở đây hầu như không thay đổi giữa các ngày và các mùa. Các khu rừng rậm ở Java là những nơi nguy hiểm, hoang dã, đầy rắn, hổ báo và sâu bọ. Không phải chỗ cho trẻ con.

Ở đằng xa, cô bỗng nghe tiếng hét, và người phiên dịch gọi to, “Bác sĩ Warner, đến đây nhanh lên!”

Cô lao qua khu rừng rậm rịt, bị vấp ngã và phải vật lộn mới chui ra được đám cây bụi mọc dày. Cô thấy người phiên dịch đang bế một đứa bé còn gầy guộc hơn là thằng bé ở ngôi nhà kia. Mặc dù da nó nâu sẫm, cô vẫn thấy đất và ghét cáu bẩn trên mặt nó. Nó lồng lộn vùng vẫy giằng ra người phiên dịch như một con quỷ bị nhốt.

“Còn đứa nào khác không?” Kate hỏi. Cô thấy một cái lán nhỏ, rách rưới, được xây tạm bợ để làm chỗ trú cách đó chừng năm mươi thước. Có phải có một đứa bé đang nằm đó không? Cô tiến về phía đó.

“Đừng đến đấy, bác sĩ Warner.” Ông ta ôm đứa bé chặt hơn. “Không còn đứa nào khác... để đưa về nữa đâu. Giúp tôi đi.”

Cô túm lấy tay kia của thằng bé, và họ dẫn nó về xe tải. Họ tập trung nhóm nghiên cứu lại, đón thằng bé bị trói vào cột nhà mà họ được biết có tên là Adi. Thằng bé ở trong rừng không có tên, và họ biết họ sẽ không bao giờ tìm được bố mẹ nó hay bất kỳ ai thừa nhận cách nó đã bị đối xử. Kate đặt tên cho nó là Surya.

Khi nhóm nghiên cứu tập trung lại quanh xe tải, Kate đối mặt với phiên dịch viên. “Tôi muốn ông cho tôi biết ông đã làm gì - chính xác là ông đã nói gì với họ.”

“Tôi nghĩ có lẽ cô không biết thì hơn, bác sĩ ạ.”

“Tôi nghĩ là chắc chắn tôi muốn biết đấy. Nói đi.”

Người đàn ông thở dài. “Tôi bảo họ các cô là một tổ chức nhân đạo bảo trợ trẻ em...”

“Cái gì?”

Ông ta đứng thẳng lên. “Họ đã nghĩ như thế rồi, nên tôi có nói thế cũng chẳng sao. Họ chẳng biết thử nghiệm lâm sàng là cái gì đâu. Họ chưa bao giờ nghe nói đến chuyện đó. Cô nhìn quanh mình đi; những người này vẫn ăn hang ở hốc như hàng nghìn năm trước. Tôi bảo họ cô cần gặp con của họ và cô sẽ giúp đứa nào cần được giúp đỡ. Nhưng họ vẫn không tin chúng ta. Một số nghĩ họ sẽ gặp rắc rối, nhưng chủ yếu họ sợ là tin đồn sẽ lan ra. Ở đây, có một đứa con có vấn đề là rất nguy hiểm; người ta thường giấu kín chúng. Nếu dân làng biết được, những đứa khác sẽ khó lấy vợ lấy chồng - người ta nói, 'lỡ mày có con mà nó cũng dở người như chú nó thì sao.' Người ta sẽ nói, 'nhà ấy có máu điên.' Nhưng lũ trẻ đã nói thật khi tôi hỏi tên các anh chị em chúng. Bọn trẻ con chưa biết nói dối về những chuyện như thế.”

Kate ngẫm nghĩ về điều ông ta vừa nói. Quả là cách đó có tác dụng. Cô quay lại với cả nhóm, “Được rồi. Từ giờ chúng ta sẽ làm như thế.”

Bác sĩ Helms bước về phía Kate và người phiên dịch. “Tôi không chấp nhận. Nói dối cha mẹ để đưa một đứa trẻ vào thử nghiệm lâm sàng là vi phạm các quy định y tế cơ bản, và còn sai trái về mặt đạo đức nữa.” ông ta ngừng lại cho thêm phần kịch tính. “Bất kể tình cảnh gia đình họ hoặc quan niệm xã hội của cộng đồng.” Ông ta nhìn thẳng vào Kate rồi nhìn các nhân viên khác.

Kate cắt ngang dòng thuyết giáo của ông ta. “Tùy ông thôi. Ông có thể đợi trong xe, và bất kỳ ai khác muốn bỏ mặc những đứa trẻ này chết ruỗng ở đây cũng có thể làm vậy.”

Ông bác sĩ quay sang cô định tuôn ra một tràng nữa, nhưng Ben ngắt lời ông ta. “Tôi thì đồng ý. Tôi ghét phải đợi trong xe. Và ghét cả việc giết trẻ con nữa.” Cậu ta quay đi và bắt đầu xếp lại đồ đạc, chỉ dừng tay để nhờ mấy người kia giúp.

Ba trợ lý còn lại cũng miễn cưỡng giúp một tay, và đến lúc này Kate mới nhận ra trước đó họ đã lưỡng lự tới mức nào. Cô tự nhắc mình phải nhớ cảm ơn Ben, nhưng rồi ngày hôm đó trở nên bận rộn hơn, và cô quên khuấy đi mất.

Đến làng tiếp theo, cả nhóm vứt hết các sách giới thiệu đi, nhưng khi dân làng nhặt lại chúng thì cả nhóm lại chuyển sang phân phát cho họ - để làm vật liệu cách nhiệt trong nhà. Hành động đầy thiện chí này giúp dân làng tin họ là tổ chức từ thiện thật, và Kate cũng mừng khi thấy những tập sách cô đã mất bao công sức chuẩn bị cuối cùng đã được dùng vào việc có ích.

Bác sĩ Helms vẫn tiếp tục phản đối, nhưng những nhân viên còn lại lờ ông ta đi. Khi các xe bắt đầu đầy trẻ con thì tiếng phản đối của ông ta yếu ớt dần, và đến cuối ngày thì ai cũng thấy rõ là ông ta hối hận vì hành động của mình.

Khi quay về Jakarta, ông ta đến gặp Kate ở văn phòng của cô sau khi các nhân viên khác đã ra về. “Nghe này, Kate, tôi đã định nói chuyện với cô. Sau, ờ, sau khi cân nhắc... và thú thực là sau khi thấy hiệu quả của công việc chúng ta làm với, ờ, với lũ trẻ... tôi xin nói là tôi đã quyết định rằng chúng ta vẫn đang theo đúng quy tắc y tế và tôi hoàn toàn tán thành cách làm việc này, và vì vậy, tôi, ờ, tôi rất vui lòng dẫn dắt thử nghiệm này.” Ông ta toan ngồi xuống.

Kate không ngẩng lên khỏi tờ tài liệu cô đang đọc. “Đừng ngồi vội, John. Có điều này tôi cũng đã định nói với ông. Khi ở ngoài hiện trường, ông đã coi trọng an toàn của mình - coi trọng danh tiếng của riêng mình - hơn là tính mạng của những đứa trẻ đó. Điều đó không thể chấp nhận được. Chúng ta đều biết tôi không thể sa thải ông. Nhưng tôi không thể làm việc với ông trong một thử nghiệm có tầm quan trọng sống còn với những đứa trẻ. Nếu có chuyện gì xảy ra với một đứa, nếu ông khiến chúng gặp nguy hiểm, thì tôi sẽ không thể chịu đựng được. Tôi đã báo với nhà tài trợ, Trung tâm Nghiên cứu Immari, rằng tôi sẽ bỏ việc, và một điều hết sức kỳ lạ đã xảy ra.” Cô ngước nhìn lên. “Họ nói họ sẽ không cấp kinh phí cho thử nghiệm này nếu không có tôi. Vì thế ông có thể từ chức hoặc tôi sẽ ra đi, mà trong trường hợp đó thì ông sẽ mất kinh phí, còn tôi chỉ việc bắt đầu lại thử nghiệm dưới một cái tên khác. À mà nhân tiện, những người bốc vác sẽ đến dọn văn phòng của ông vào ngày mai - nên cho dù ông quyết định thế nào đi chăng nữa thì ông cũng phải thuê địa điểm mới đi.”

Cô ra khỏi văn phòng và về nhà. Sáng hôm sau, Helms rời Jakarta vĩnh viễn, và Kate trở thành điều tra viên duy nhất của dự án. Kate nhờ Martin gọi mấy cuộc điện thoại, trao đổi vài ân huệ, và dự án trở thành tổ chức bảo trợ hợp pháp của tất cả lũ trẻ thuộc nghiên cứu.

Sau khi Kate kể xong, viên sĩ quan đứng lên và nói, “Cô nghĩ tôi sẽ tin ư? Chúng tôi không phải dân mọi rợ, cô Warner ạ. Chúc cô may mắn khi thuyết phục bồi thẩm đoàn ở Jakarta bằng câu chuyện đó.” Y ra khỏi căn buồng nhỏ xíu trước khi Kate kịp trả lời.

Bên ngoài phòng thẩm vấn, người đàn ông nhỏ con bước đến chỗ viên cảnh sát trưởng mập ú, ông ta vòng cánh tay mướt mồ hôi vỗ vai y và hỏi, “Thế nào, Paku?”

“Tôi nghĩ cô ta đã sẵn sàng rồi, sếp ạ.”

Dịch giả Lê Minh Đức
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.