Khu tự trị Tây Tạng
Sau khi Kate băng bó xong cho David, cô bò sang phía bên kia khoang khinh khí cầu và ngồi gục xuống, dựa vào thành khoang. Suốt một quãng dài, họ cứ trôi như thế qua không trung, cảm nhận hơi gió thoảng trên mặt, ngắm nhìn những đỉnh núi phủ tuyết và những cao nguyên xanh tươi bên dưới. Không ai nói một lời. Cơ bắp Kate nóng rực vì phải cố sức kéo anh lên khoang.
Cuối cùng David cũng phá vỡ sự im lặng. “Kate.”
“Tôi muốn đọc cho xong quyển nhật ký.” Cô lấy quyển sổ nhỏ bọc da ra khỏi cái túi đựng các nhu yếu phẩm y tế. “Rồi sau đó chúng ta sẽ lên kế hoạch. Được chứ?”
David gật đầu và tựa đầu vào thành khoang lắng nghe trong lúc Kate đọc nốt mấy trang cuối.

Ngày 4 tháng 2, 1919
Một năm sau khi tôi tỉnh dậy trong cái ống...
Thế giới đang chết. Và chúng tôi đã giết nó.
Tôi ngồi ở bàn với Kane và Craig, lắng nghe các thông số như thể chúng là tỉ lệ cá cược trong một cuộc đua ngựa. Dịch cúm Tây Ban Nha (chúng tôi đã gọi tên nó như thế để đánh lừa thế giới) đã lan tới mọi quốc gia trên toàn thế giới. Chỉ có vài hòn đảo thoát được. Nó đã giết hàng triệu người. Khác hẳn những dịch cúm khác, nó giết những người khỏe chứ không giết người yếu.
Craig nói liên hồi, dù thông tin ấy cần phải được diễn tả bằng nhiều từ đến vậy. Tóm lại là chưa có ai phát hiện ra vắc xin, và tất nhiên hội Immari nghĩ rằng sẽ không ai tìm được cả. Nhưng họ nghĩ họ vẫn có thể thuyết phục thế giới tin rằng đó là dịch cúm. Đó là “tin tốt”, Craig tuyên bố.
Và còn nữa. Không khí trong phòng và những lời đánh giá trở nên lạc quan hơn: nhân loại sẽ sống sót, nhưng phải chịu thiệt hại vô cùng nặng nề. Sẽ có khoảng từ hai đến năm phần trăm dân số toàn cầu, tức là khoảng ba mươi sáu đến chín mươi triệu người, tử vong do bệnh dịch chúng tôi phát tán ra. Khoảng một tỉ người nữa sẽ nhiễm bệnh. Họ tính rằng tổng dân số thế giới hiện nay là khoảng một phẩy tám tỉ người, vì vậy đó sẽ là “một cú chấn động không đến nỗi tồi”, theo lời Craig. Các hòn đảo có thể bảo vệ được con người khỏi bệnh dịch, nhưng sự thật là ai ai cũng sợ hãi, và cả thế giới đều cố thủ, tránh xa những người có thể mang mầm bệnh. Dự kiến số thương vong trong chiến tranh là khoảng mười triệu người. Bệnh dịch này, hay đúng hơn là bệnh cúm Tây Ban Nha, sẽ có số người chết cao hơn gấp bốn đến mười lần. Tất nhiên, vấn đề chính là làm sao để che giấu được nó. Chiến tranh cộng với bệnh dịch khiến khoảng năm mươi đến một trăm triệu con người bị tuyệt diệt.
Nhưng tôi chỉ nghĩ về một người. Tôi tự hỏi tại sao nàng lại chết trong khi tôi còn sống. Tôi chỉ còn là một cái vỏ rỗng. Nhưng tôi vẫn bám víu lấy cuộc sống vì một lý do duy nhất.
Kane nhìn tôi bằng cặp mắt lạnh lùng, hiểm độc, và tôi nhìn thẳng lại. Ông ta yêu cầu tôi báo cáo, và tôi nói chậm rãi bằng giọng vô cảm, lơ đãng.
Tôi báo cáo rằng chúng tôi đã khai quật xong khu vực bao quanh cổ vật đó. “Vũ khí,” ông ta sửa lại. Tôi lờ đi. Tôi nêu ý kiến: một khi tháo rời được vật đó ra, chúng tôi sẽ có thể tiến vào trong công trình. Họ hỏi, và tôi trả lời một cách tự động, như người máy.
Họ nói về chuyện chiến tranh sắp kết thúc, rằng báo giới đang tập trung vào dịch bệnh, nhưng tất nhiên, đã có kế hoạch sẵn sàng cho những tình huống đó.
Có người nói các bác sĩ ở Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu virus cúm và lo rằng họ sẽ phát hiện ra đó là một thứ gì đó khác. Như mọi khi, Craig xoa dịu những mối lo đó ngay. Y đảm bảo với tất cả là tình hình đã được kiểm soát chặt chẽ. Y nói rằng virus đang lan chậm lại, như một vụ cháy rừng đang dần tự tắt. Sau khi dịch bệnh dừng lại, y tin rằng các mối quan tâm nghiên cứu cũng sẽ không còn.
Giả thuyết hiện tại là dịch bệnh tận thế này yếu dần đi với mỗi lần truyền bệnh. Những người trong đường hầm chết ngay lập tức. Những người tìm thấy họ thì bị ốm và nhanh chóng chết sau đó. Những người nhiễm bệnh hiện nay đã cách đợt ở Gibraltar đến năm hoặc sáu lần lây nhiễm; vì vậy số người sống sót đang tăng dần. Đã có hai đợt bùng phát mạnh. Chúng tôi tin rằng cả hai đều có nguồn gốc từ các thi thể bị nhiễm bệnh từ sớm ở Gibraltar hoặc Tây Ban Nha rồi sau đó được đưa đến những vùng đông dân cư.
Tôi lên tiếng nói rằng chúng tôi cần thông báo rộng rãi về việc này, lần theo bất kỳ người nào đã rời khỏi Gibraltar. Kane phản đối. “Ai cũng phải chết, Pierce ạ. Chắc hẳn tôi không phải nhắc anh nhớ chuyện đó nữa. Cái chết của họ đã có ích. Mỗi lần một đợt dịch mới bùng phát, chúng ta lại học thêm được nhiều điều.” Chúng tôi quát vào mặt nhau cho tới khi họng cả hai đều khản đặc. Tôi còn chẳng nhớ nổi mình đã nói gì nữa. Nhưng không quan trọng. Kane điều khiển cả hội này. Và tôi không thể làm ông ta nổi giận.

Kate gấp cuốn nhật ký lại và ngước lên. “Ở Trung Quốc, chúng đã chất các thi thể lên tàu.”
David nhìn ra ngoài khoang khinh khí cầu một lát. “Để thu thập hết thông tin cái đã. Còn mấy ngày nữa trong cuốn nhật ký?”
“Chỉ một thôi.”

Ngày 12 tháng 10, 1938
Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi viết nhật ký. Đó là một quãng thời gian dài, nhưng đừng nghĩ không có chuyện gì xảy ra. Hãy cố hiểu cho tôi.
Tôi bắt đầu cuốn nhật ký này để tìm chút an ủi trong thời kỳ tuyệt vọng đen tối khi bị thương ở một nơi xa lạ. Một cách để tự hiểu được nỗi tuyệt vọng của chính mình, một cách để suy ngẫm. Rồi nó trở thành chứng cứ về một âm mưu mà tôi tin là mình đã phát hiện ra. Nhưng khi ta phải nhìn người mình yêu thương nhất trên đời chết đi, trở thành nạn nhân của một thứ mà chính ta đã vô tình phát tán, kết quả của một giao kèo ta đã thực hiện để giành được nàng, cả cuộc đời ta chỉ còn gói gọn trong một viên than cháy đỏ trong lòng bàn tay... thì thật khó để cầm bút lên và viết về một cuộc đời chẳng còn gì quan trọng nữa.
Và những hành động đáng xấu hổ. Đó là những gì đã xảy ra sau cái ngày trong căn lều.
Nhưng mọi chuyện đi đủ xa rồi. Quá xa rồi là đằng khác. Đây là đoạn cuối con đường cho tôi. Tôi không thể đồng lõa với việc diệt chủng, nhưng tôi cũng không thể ngăn chặn nó. Tôi mong là bạn có thể.
Từ sau lần viết nhật ký trước của tôi, những việc sau đây đã xảy ra:
Thiết bị:
Chúng tôi gọi nó là Quả Chuông, hay với Kane và đám đồng đảng người Đức thì là Die Glocke. Kane tin rằng nó là một thứ siêu vũ khí có thể hủy diệt cả nhân loại hoặc tạo ra một ngày tận thế, để lại những người có gen vượt trội và giết hết những kẻ có thể gây nguy hiểm cho chủng tộc được lựa chọn này. Ông ta đã bị ám ảnh bởi những giả thuyết về chủng tộc của mình, bởi việc tìm kiếm một chủng tộc siêu đẳng có thể sống sót qua ngày tận thế sắp tới, sống sót qua cỗ máy kia. Tất nhiên, ông ta tin rằng mình là một thành viên của chủng tộc tối cao này. Các nỗ lực nghiên cứu đều tập trung vào việc làm cách nào để tạo ra chủng tộc này một cách có hệ thống, trước khi người Atlantis tấn công. Từ khi họ đưa Quả Chuông ra, tôi đã bị đẩy sang bên rìa, nhưng tôi vẫn nghe được nhiều chuyện. Ông ta đã đưa Quả Chuông về Đức để làm thí nghiệm gần trại tập trung Dachau. Ở tổ quốc của ông ta, tình hình đang rất khó khăn, nạn đói hoành hành và tỉ lệ thất nghiệp cao đến đáng sợ. Chính phủ ở đó dễ bị thâu tóm. Ông ta đã lợi dụng hoàn toàn tình cảnh đó.
Hội Immaru:
Tôi đã tìm hiểu được thêm về lịch sử của hội Immari và nhóm huynh đệ của họ, hội Immaru. Trong thời cổ đại, đã có lúc Immari và Immaru là một, có lẽ vào khoảng thời đại của người Sumer, khi bộ sử viết tay đầu tiên ra đời. Theo thần thoại Sumer, Immaru có nghĩa là “ánh sáng”. Kane tin rằng hội Immaru đã biết về thiết bị kia và số phận nhân loại từ hàng ngàn năm nay, từ trước trận Đại Hồng Thủy. Giả thuyết của ông ta cho rằng hội Immari, những người đồng chí của ông ta, là một nhóm nổi dậy từ hội Immaru, những người tin rằng loài người có thể được cứu, nhưng họ không thể thuyết phục các thành viên khác tin vào một chủng tộc siêu phàm như vậy. Theo lịch sử của Kane, các tổ tiên Immari của ông ta đã từ bỏ sự an toàn của chính mình để tham gia vào cuộc hành trình từ quê hương của người Aryan [[1]] đến châu Âu, nơi họ tin có thể tìm thấy tàn tích của Atlantis mà Plato đã nhắc đến - và cùng với nó là chìa khóa để cứu rỗi nhân loại.
Khi ông ta tuyên bố câu chuyện lịch sử mới sửa đổi này tôi đã hỏi thẳng tại sao hội Immari không được biết điều này sớm hơn; dù sao thì đó cũng là những thông tin lịch sử hữu ích. Ông ta đã kẻ cả giảng cho tôi một bài, nào là “những cái đầu mang vương miện phải chịu sức nặng” và “chúng ta sẽ không thể chịu đựng được nếu biết mình là tường chắn duy nhất đứng giữa nhân loại và sự diệt vong. Tổ tiên của chúng ta rất khôn ngoan. Họ đã giúp chúng ta không phải đối mặt với hậu quả từ hành động của mình, để chúng ta có thể tập trung tìm kiếm sự thật và hành động để cứu thế giới.”
Khó mà cãi lại được một tên điên đang ngày một uy quyền hơn.
Các cuộc thám hiểm của Kane:
Kane đã cử người tới thám hiểm mọi vùng trên cao nguyên châu Á: Tây Tạng, Nepal và Bắc Ấn Độ. Ông ta tin rằng hội Immaru đang ẩn náu ở đó, giữ kín những bí mật có thể giúp chúng ta thoát khỏi ngày tận thế sắp tới.
Ông ta khăng khăng nói rằng hội Immaru phải sống ở khí hậu lạnh, trên vùng cao. Ông ta chỉ ra rằng người Bắc Âu đã làm chủ châu Âu từ lâu vì họ có họ hàng với huyết thống Immaru nguyên thủy, có thể phát triển trong môi trường lạnh, băng giá. Ông ta gạt đi khi tôi nhắc đến hai nền văn minh tiên tiến của La Mã và Hy Lạp cổ đại đều ở vùng Nam Âu dịu áp. “Đó chỉ là những món quà di truyền học do người Immari ban tặng khi họ đi lên phía Bắc, tìm kiếm Atlantis và môi trường sống quen thuộc của họ,” ông ta nói. Ông ta một mực cho rằng cái “Gen Atlantis” này đã ban cho loài người mọi lợi thế, nó cũng là một di sản về di truyền học tập trung nhiều nhất ở người Immari và chắc chắn phải có liên quan đến cái lạnh. Từ đó, ông ta suy ra rằng chủng tộc Atlantis phải ở đâu đó ngoài kia, trong cái lạnh, ngủ đông, chờ đợi đến lúc chiếm lại hành tinh.
Vì thế, ông ta bị ám ảnh bởi Nam Cực. Ông ta cũng đã cử một đội thám hiểm đến đó, nhưng vẫn chưa có tin tức gì báo về. Ông ta định sẽ thân hành tới đó, trong một chiếc tàu ngầm siêu việt đang được đóng ở một sân đóng tàu tại miền Bắc nước Đức. Tôi đã cố hết sức để tìm ra vị trí của chiếc tàu ngầm, hy vọng có thể đặt bom ở đó. Nhưng tôi cũng nghe nói rằng nó sắp được đóng xong và ông ta sẽ tới miền Viễn Đông để xóa sổ hội Immaru mãi mãi, trước khi quay sang Nam Cực để tìm thủ phủ của người Atlantis. Đúng là một kế hoạch đầy tham vọng.
Tôi đã mong việc ông ta vắng mặt sẽ cho tôi cơ hội nắm quyền điều khiển hội Immari, nhưng ông ta cũng đã tính đến cả việc đó nữa. Nếu tôi đoán đúng thì tôi sẽ sớm rời cuộc chơi, có lẽ là vĩnh viễn. Vì vậy, tôi đã lên những kế hoạch khác.
Tôi đã thuyết phục một người lính trong đoàn thám hiểm đưa cuốn nhật ký này đến cho các bạn, đó là nếu Kane có tìm được hội Immaru, và người lính đó giữ lời. Nếu anh ta bị phát hiện với cuốn nhật ký thì đó sẽ là án tử cho anh ta (và tôi).
Căn phòng kỳ lạ:
Còn một điều cuối cùng nữa tôi muốn cho các bạn biết. Tôi đã tìm thấy một thứ. Một phòng chứa gì đó, nằm sâu trong tàn tích ở Gibraltar. Tôi tin rằng nó chứa đựng chìa khóa để hiểu được công trình đó và có lẽ là cả người Atlantis nữa. Công nghệ ở đó rất tiên tiến - và nguy hiểm nếu rơi vào tay kẻ xấu. Tôi đã rất khổ công để che giấu nó khỏi Kane. Tôi có gửi kèm theo đây một tấm bản đồ đến căn phòng mà tôi đã giấu đằng sau một bức tường giả. Hãy nhanh lên.

Kate giở tờ giấy mỏng manh đã ngả vàng với tấm bản đồ trên đó ra, nghiên cứu nó hồi lâu, rồi đưa cho David. “Thiết bị đó - Quả Chuông ấy - cũng được dùng ở Trung Quốc. Chúng đã dùng nó với tôi, với hàng trăm người khác. Đó chính là mục đích của chúng, để tìm ra một chìa khóa di truyền giúp miễn dịch được với thiết bị này. Tất cả mọi nghiên cứu của tôi, tất các nghiên cứu di truyền học của Immari đều là vì một mục đích này: tìm ra Gen Atlantis. Những lời nói dối của Martin, cả đời tôi... chúng đã lợi dụng tôi.”
David trả cô tấm bản đồ và nhìn ra ngoài khoang, ngắm rừng núi lướt qua bên dưới. “Tôi lấy đó làm mừng đấy.”
Kate chú mục nhìn anh.
David nhìn thẳng vào mắt cô. “Chúng có thể đã lợi dụng một người khác. Một người không mạnh mẽ bằng. Hoặc thông minh bằng. Cô có thể giải mã được chuyện này, và cô vẫn có thể chặn đứng chúng.”
“Tôi không hiểu...”
“Hãy xét lại những gì chúng ta đã biết xem sao. Hãy bày tất cả những miếng xếp hình ra đây để xem chúng khớp với nhau như thế nào. Được chứ?” Khi Kate gật đầu, David nói tiếp. “Khi ở tu viện, tôi đã nói tôi biết Quả Chuông là gì. Đó là một truyền thuyết cũ từ thời Thế chiến thứ hai. Những người theo thuyết âm mưu vẫn nhắc đến nó - Die Glocke hay Quả Chuông. Họ nói nó là một dự án vũ khí tối tân của Đức Quốc xã, hoặc một nguồn năng lượng đột phá nào đó. Sau đó thì các giả thuyết ngày một điên rồ hơn. Tất cả mọi thứ, từ thiết bị chống trọng lực cho đến du hành thời gian. Nhưng nếu nó đã gây ra dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918, và các thi thể ở Trung Quốc đã bị chuyển đi...”
“Sẽ có một dịch bệnh nữa, tồi tệ hơn dịch cúm Tây Ban Nha nhiều.”
“Ý tôi là, điều đó có thể không?” David hỏi. “Các số liệu của Immari có chính xác không? Làm sao chúng ta lại không có vắc xin cho một thứ đã giết hai đến năm phần trăm dân số thế giới?”
“Ở trường y, chúng tôi đã được học về bệnh cúm Tây Ban Nha, hay là dịch cúm năm 1918, như tên gọi của nó hiện nay. Số liệu đó đúng hoặc cũng gần đúng. Chúng tôi nghĩ cúm Tây Ban Nha đã khiến khoảng năm mươi đến một trăm triệu người tử vong - tức là khoảng bốn phần trăm dân số toàn thế giới...”
“Tức là ngày nay sẽ có khoảng... hai trăm tám mươi triệu người chết - bằng dân số toàn Hoa Kỳ. Chắc chắn họ phải có vắc xin chứ. Và làm sao hội Immari lại có thể che giấu việc này - hoặc thuyết phục mọi người rằng đó là bệnh cúm?”
“Mới đầu, các bác sĩ đã không nghĩ đó là bệnh cúm. Nó được chẩn đoán nhầm là sốt xuất huyết, tả, hoặc thương hàn - chủ yếu là vì các triệu chứng... không giống triệu chứng cúm chút nào. Bệnh nhân đều bị xuất huyết từ các màng nhầy, nhất là từ mũi, dạ dày và ruột, thậm chí xuất huyết cả trên da và trong tai.” Kate nhớ lại căn buồng tối với Quả Chuông treo trên đám đông đang co rúm người và những thi thể đẫm máu. Cô phải tập trung. “Trong số tất cả các chủng cúm trên thế giới, người ta biết về nó ít nhất - và nó cũng nguy hiểm nhất. Không có loại vắc xin nào cả. về cơ bản, bệnh cúm Tây Ban Nha khiến cơ thể tự tàn phá mình; nó gây chết người nhờ một cơn bão cytokine [[2]] - đó là thứ giúp hệ miễn dịch của cơ thể đánh bại bệnh cúm. Phần lớn các chủng cúm đều nguy hiểm với những người có hệ miễn dịch yếu - ví dụ như trẻ con hay người già. Vì thế chúng ta mới dùng vắc xin: để giúp hệ miễn dịch mạnh lên. Nhưng cúm Tây Ban Nha lại khác hẳn. Nó giết những người có hệ miễn dịch khỏe. Hệ miễn dịch càng khỏe thì cơn bão cytokine lại càng mạnh. Những người tuổi từ hai mươi lăm đến ba mươi tư là dễ bị nguy hiểm nhất.”
“Như thể nó giết tất cả những người có thể là mối nguy vậy. Thảo nào hội Immari nghĩ nó là vũ khí,” David nói “Nhưng tại sao lại dùng nó vào thời điểm này? Thế giới sẽ không thể chống chọi được. Vào năm 1918, cuối Thế chiến thứ nhất, các biên giới đều bị đóng cửa, cả thế giới đã ngừng hoạt động. Thử nghĩ xem ngày nay chúng ta kết nối với nhau thế nào; một dịch bệnh như vậy sẽ xóa sổ chúng ta chỉ trong vòng vài ngày. Nếu điều cô nói là đúng thì mầm bệnh đã rời Trung Quốc và đang càn quét qua thế giới ngay lúc này đây. Tại sao chúng lại làm thế?”
“Có lẽ chúng không có lựa chọn nào khác.”
“Luôn có lựa ch...”
“Trong suy nghĩ của chúng thì không,” Kate nói. “Dựa vào những suy luận trong cuốn nhật ký, tôi có vài giả thuyết như thế này. Tôi nghĩ chúng đã tìm kiếm Gen Atlantis để có thể chống chọi được với thiết bị đó. Vì thế chúng mới quan tâm tới nghiên cứu của tôi, vì thế chúng mới bắt cóc hai đứa trẻ. Chắc hẳn chúng sắp hết thời gian.”
“Bức ảnh vệ tinh - với các mật mã viết đằng sau. Bức ảnh chụp một tàu ngầm.”
“Tàu ngầm của Kane,” Kate nói.
“Tôi dám cá là nó. Và bên dưới nó có một công trình gì đó. Chúng ta biết chúng đã tìm chiếc tàu ngầm từ năm 1947 - bản cáo phó trên tờ Thời báo New York được giải mã thành ‘Nam Cực, không thấy tàu ngầm, tư vấn nếu cho phép tiếp tục tìm kiếm.’ Vậy là cuối cùng chúng cũng đã tìm thấy tàu ngầm, và bên dưới đó là một Atlantis nữa - một mối đe dọa.” David lắc đầu. “Nhưng về mặt khoa học, tôi vẫn không hiểu - tại sao lại gây ra một dịch bệnh nữa?”
“Tôi nghĩ các thi thể từ Quả Chuông chính là Giao thức Toba. Hình như việc phơi nhiễm trực tiếp với Quả Chuông là nguy hiểm nhất, nhưng chỉ có một Quả Chuông thôi, hay đã từng chỉ có một cái. Có lẽ chúng sẽ phân tán các thi thể ra khắp thế giới. Khi dịch bệnh bùng phát, dân số thế giới sẽ bị giảm đáng kể, chỉ còn lại những người sống sót được với Quả Chuông, những người có Gen Atlantis.”
“Ừ, nhưng tại sao - không còn cách nào khác tốt hơn ư? Tôi không biết nữa, sao chúng không giải mã hệ gen hay ăn cắp dữ liệu và tìm những người này?”
“Không, hoặc cũng có thể. Ta có thể xác định được người nào có Gen Atlantis, nhưng vẫn còn thiếu một yếu tố: ngoại di truyền và hoạt hóa gen.”
“Ngoại di...”
“Nó hơi phức tạp, nhưng tóm lại, vấn đề ở chỗ không chỉ những gen ta có là quan trọng, mà còn là gen nào được hoạt hóa, và những gen này tương tác với nhau ra sao. Dịch bệnh có thể tạo ra một Bước Đại Nhảy Vọt thứ hai bằng cách hoạt hóa Gen Atlantis ở những người đã có sẵn nó. Hoặc có thể là hoàn toàn ngược lại, có thể dịch bệnh sẽ giảm dân số và bắt buộc chúng ta phải đột biến hay tiến hóa, cũng như thảm họa Toba...” Kate day thái dương. Còn một điều gì đó nữa, một mảnh ghép khác, nằm ngay ngoài tầm với của cô. Cuộc trò chuyện với Qian chợt thoáng qua trong tâm trí cô: tấm thảm, trận lụt lửa, những con người đang chết dần rúm ró dưới màn tro bụi... đấng cứu thế... chìa ra một chiếc cốc đựng đầy máu của chính mình, và những con thú hoang biến thành con người hiện đại. “Tôi nghĩ chúng ta đã bỏ sót điều gì đó.”
“Cô nghĩ...”
“Giả sử Bước Đại Nhảy Vọt đầu tiên không phải là một sự kiện tự nhiên thì sao? Giả sử nó không phải là do tiến hóa thì sao? Giả sử loài người đang ở bên bờ vực tuyệt chủng và người Atlantis đã đến cứu chúng ta? Giả sử người Atlantis đã cho những con người sắp tuyệt chủng đó một thứ có thể giúp họ sống sót qua thảm họa Toba? Một gen, một lợi thế về di truyền học giúp họ đủ thông minh để sống sót. Một thay đổi trong hoạt động não. Giả sử chính họ đã cho chúng ta Gen Atlantis thì sao?”
[1] Đức Quốc xã cho rằng chủng tộc Aryan là “chủng tộc thượng đẳng” có khả năng thống trị thế giới và người Đức đại diện cho một nhánh của chủng người này.
[2] Các protein quan trọng trong quá trình truyền tín hiệu tế bào, giúp điều hòa đáp ứng miễn dịch, ngoài ra còn là một phần tử gây viêm có thể khiến cơ thể bị nhiễm trùng máu nếu nồng độ quá cao.