Moby-dick; Hay, Con Cá Voi

Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 54
Câu Chuyện Về Tàu Town-ho

❊ ❊ ❊

Mũi Hảo Vọng và toàn bộ vùng biển xung quanh cũng giống như ngã tư nổi tiếng của một đại lộ lớn, nơi người ta gặp gỡ nhiều lữ khách hơn bất cứ chốn nào khác.

Chẳng bao lâu sau khi hội ngộ tàu Goney, chúng tôi lại chạm trán một con tàu săn cá voi khác đang trên đường hồi hương, chiếc Town-Ho. Thủy thủ đoàn của nó gần như toàn là người Polynesia. Trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi diễn ra sau đó, họ mang đến cho chúng tôi những tin tức sốt dẻo về Moby Dick. Đối với một số người, mối quan tâm chung dành cho Con Cá Voi Trắng giờ đây càng được đẩy lên cao độ bởi một tình tiết trong câu chuyện của tàu Town-Ho — một tình tiết dường như ngầm gắn kết con cá voi với một thứ hình phạt kỳ lạ, đảo ngược, tựa như những phán quyết của Thượng Đế thỉnh thoảng vẫn giáng xuống đầu một số kẻ phàm trần. Tình tiết sau này, cùng với những diễn biến đi kèm, tạo nên cái gọi là phần bí mật của thảm kịch sắp được kể lại, chưa bao giờ lọt đến tai Thuyền trưởng Ahab hay các sĩ quan của ông. Bởi vì phần câu chuyện bí mật ấy ngay cả thuyền trưởng của tàu Town-Ho cũng không hề hay biết. Nó là tài sản riêng của ba thủy thủ da trắng đồng lõa trên con tàu đó; một trong số họ, có vẻ như, đã kể lại chuyện này cho Tashtego kèm theo những lời dặn dò giữ kín đáo như tuân theo luật lệ nhà đạo, nhưng đêm hôm sau Tashtego lại mớ ngủ và lỡ lời hé lộ nhiều đến mức khi tỉnh giấc, anh ta đành phải kể nốt phần còn lại. Mặc dù vậy, sự việc này lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức những thủy thủ trên tàu Pequod được biết tường tận về nó, và họ bị chi phối bởi một sự tế nhị kỳ lạ nào đó — nếu có thể gọi là thế — đến nỗi họ đã giữ kín câu chuyện cho riêng mình, sao cho nó không bao giờ lọt ra khỏi phía sau cột buồm chính của tàu Pequod. Đan xen sợi chỉ u tối này vào đúng vị trí của nó trong câu chuyện đã được công khai kể lại trên tàu, tôi nay xin ghi chép lại toàn bộ câu chuyện kỳ lạ này thành một văn bản lưu danh muôn thuở.

Vì muốn chiều theo hứng khởi của mình, tôi sẽ giữ nguyên văn phong mà tôi từng dùng để kể câu chuyện này ở Lima, trước một nhóm bạn người Tây Ban Nha đang ngồi thư thả vào một đêm trước lễ thánh, vừa hút thuốc vừa ngắm nhìn khoảng hiên lát gạch dát vàng dày của quán Quán Trọ Vàng. Trong số những quý ông tao nhã đó, các chàng trai dòng dõi Don trẻ tuổi là Pedro và Sebastian là thân thiết với tôi hơn cả; và đó cũng là lý do vì sao họ thỉnh thoảng lại đưa ra những câu hỏi ngắt quãng, và đều được tôi giải đáp ngay lúc đó.

“Cách đây chừng hai năm trước khi tôi biết đến những sự kiện mà tôi sắp sửa thuật lại cho các ngài nghe, thưa các quý ông, tàu Town-Ho, một chiếc chuyên thuyền săn cá voi thuộc Nantucket, đang hành trình ở vùng Thái Bình Dương của các ngài đây, chỉ cách hiên của Quán Trọ Vàng tốt lành này chừng vài ngày buồm về phía đông. Nó đang ở đâu đó về phía bắc đường xích đạo. Một buổi sáng nọ, khi đang vận hành máy bơm nước theo thói quen hằng ngày, người ta nhận thấy hầm tàu đọng nhiều nước hơn bình thường. Họ đoán rằng một con cá kiếm đã đâm thủng mạn tàu, thưa các quý ông. Nhưng vì viên thuyền trưởng có một lý do đặc biệt để tin rằng vận may hiếm có đang chờ đón ông ở những vĩ độ đó, nên ông rất miễn cưỡng rời đi; hơn nữa, chỗ nước rò rỉ lúc bấy giờ chưa bị coi là nguy hiểm chút nào — dẫu thực tế là họ không thể tìm ra vết thủng dù đã lùng sục dưới hầm tàu sâu hết mức có thể trong điều kiện thời tiết khá động — nên con tàu vẫn tiếp tục hải trình, các thủy thủ luân phiên bơm nước cách quãng thưa thớt và thảnh thơi; thế nhưng chẳng có vận may nào đến cả; hết ngày này qua ngày khác trôi qua, chỗ nước rò chẳng những không tìm thấy mà còn tăng lên thấy rõ. Tới mức giờ đây, khi bắt đầu cảm thấy lo ngại, thuyền trưởng liền cho căng hết buồm, chuyển hướng về phía bến cảng gần nhất giữa các quần đảo để đưa thân tàu lên đà và sửa chữa.

“Dù chặng đường trước mắt không hề ngắn, nhưng nếu gặp chút ít may mắn thông thường, ông hoàn toàn không sợ con tàu sẽ bị chìm dọc đường, bởi vì máy bơm của họ là loại tốt nhất, và khi được luân phiên thay ca, ba mươi sáu con người ấy có thể dễ dàng giữ cho tàu khô ráo; chẳng hề gì nếu lượng nước rò rỉ có tăng gấp đôi đi nữa. Thật vậy, hầu như toàn bộ cuộc hành trình này đều gặp gió thuận lợi, và tàu Town-Ho suýt chút nữa đã cập cảng an toàn tuyệt đối mà không gặp phải bất kỳ tai họa nhỏ nào, nếu không có sự hống hách tàn nhẫn của Radney, viên thuyền phó người Vineyard, cùng với lòng căm thù bị kích động đến tột cùng của Steelkilt, một gã dân vùng Ngũ Đại Hồ kiêm kẻ liều lĩnh đến từ Buffalo.”

“‘Người vùng Ngũ Đại Hồ ư!—Buffalo! Xin lỗi, người vùng Ngũ Đại Hồ là gì, và Buffalo ở đâu vậy?’ Don Sebastian vừa nói vừa chồm dậy từ chiếc võng cỏ lúc lắc của mình.”

“‘Trên bờ phía đông của Hồ Erie nhà chúng tôi, thưa Don; nhưng — tôi xin phép được thưa trước — có lẽ các ngài sẽ sớm được nghe thêm về tất cả những điều đó. Thưa các quý ông, trên những chiếc thuyền buồm vuông và tàu ba cột buồm, lớn và vững chãi chẳng kém gì bất kỳ con tàu nào từng rời cảng Callao cổ kính của các ngài để đến Manila xa xôi; gã dân vùng Ngũ Đại Hồ này, dẫu lớn lên giữa lòng châu Mỹ không giáp biển của chúng tôi, vẫn được nuôi dưỡng bằng tất cả những tư tưởng cướp bóc phóng khoáng vốn thường gắn liền với đại dương bao la. Bởi vì khi hòa quyện vào nhau, những hồ nước ngọt vĩ đại của chúng tôi — Erie, Ontario, Huron, Superior và Michigan — mang một sự khoáng đạt tựa đại dương, với nhiều đặc tính cao quý nhất của biển cả; với vô số chủng tộc và khí hậu ven bờ đa dạng. Chúng chứa đựng những quần đảo hình tròn đầy thơ mộng, hệt như vùng nước Polynesia; phần lớn được bao bọc bởi hai quốc gia lớn với hai nền văn hóa đối lập, giống như Đại Tây Dương; chúng cung cấp những lối tiếp cận hàng hải dài dải cho các thuộc địa đông đúc của chúng tôi từ phía đông, nằm rải rác khắp các bờ hồ; đây đó là những pháo đài uy nghi, cùng những khẩu pháo chênh vênh tựa dê núi trên đỉnh Mackinaw cao ngất; chúng từng nghe tiếng sấm sét dồn dập của những chiến thắng hải quân; đôi khi, chúng nhường bãi biển cho những kẻ dã man hoang dã, với những gương mặt sơn đỏ lóe lên từ các lều da thú; suốt hàng dặm dài là những khu rừng nguyên sinh chưa từng có dấu chân người, nơi những thân thông gầy guộc đứng thẳng như hàng ngũ các vị vua trong phả hệ dòng dõi người Goth; chính những khu rừng ấy là nơi dung thân cho dã thú ăn thịt châu Phi và những sinh vật mượt mà mà cống phẩm lông thú của chúng dùng làm áo choàng cho các Hoàng đế Tartar; chúng soi bóng những đô thị lát đá Buffalo và Cleveland, cũng như các ngôi làng Winnebago; chúng dung dưỡng cả thương thuyền đầy đủ buồm trang bị, tàu chiến của nhà nước, tàu hơi nước lẫn thuyền độc mộc vỏ cây sồi; chúng bị quét qua bởi những cơn gió bão từ phương Bắc thổi gãy cột buồm, dữ dội chẳng kém gì bất kỳ cơn cuồng phong nào quật ngã ngọn sóng mặn; chúng biết thế giới đắm tàu là gì, bởi vì ngay cả khi khuất bóng đất liền, dù ở sâu trong nội địa biết bao, chúng cũng từng dìm xuống đáy nước vô số con tàu lúc nửa đêm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn đang gào thét kêu cứu. Thế nên, thưa các quý ông, dẫu là một kẻ sinh ra ở vùng nội địa, Steelkilt vẫn mang dòng máu và sự nuôi dưỡng của đại dương hoang dã; anh ta đích thực là một hải tảng gan dạ chẳng kém ai. Còn về phần Radney, dẫu thời thơ ấu hắn có thể từng ngả mình trên bãi biển hoang vắng Nantucket để bú mớm từ lòng mẹ đại dương; dẫu về sau hắn đã có quãng thời gian dài lênh đênh trên vùng Đại Tây Dương khắc khổ và Thái Bình Dương trầm mặc của các ngài; thế nhưng hắn lại vô cùng thù hằn và ưa gây gổ chẳng kém gì gã thủy thủ vùng rừng núi sâu thẳm mới bước ra từ những vùng đất chuộng dao găm cán sừng hươu. Tuy vậy, con người xứ Nantucket ấy vẫn có một số nét tính cách lương thiện; và gã dân vùng Ngũ Đại Hồ kia, một tên thủy thủ dẫu thực chất chẳng khác nào ác quỷ, nhưng nếu biết dùng sự kiên quyết không lay chuyển — chỉ được làm dịu đi đôi chút bởi sự tôn trọng nhân phẩm tối thiểu vốn là quyền của ngay cả kẻ nô lệ hèn m kém nhất — đối xử như vậy, người ta hoàn toàn có thể kìm hãm Steelkilt để hắn sống ôn hòa và dễ bảo. Ít ra thì cho đến lúc đó hắn vẫn tỏ ra như vậy; nhưng Radney đã bị định mệnh phán quyết và làm cho mụ mị, còn Steelkilt thì — thưa các quý ông, các ngài sẽ sớm được rõ.”

“Chỉ chừng một hoặc hai ngày là cùng, kể từ khi con tàu quay mũi hướng về bến cảng hải đảo của mình, chỗ nước rò của tàu Town-Ho dường như lại tăng lên, nhưng chỉ đến mức phải mất hơn một giờ bơm nước mỗi ngày. Các ngài phải biết rằng, ở một vùng biển đã quen thuộc và văn minh như Đại Tây Dương của chúng tôi chẳng hạn, một số thuyền trưởng chẳng mấy bận tâm đến việc phải bơm nước suốt cả hải trình; dẫu rằng trong một đêm tĩnh lặng, ngái ngủ, nếu sĩ quan trực ca lơ đễnh quên đi nhiệm vụ đó, thì xác suất cao là anh ta và các bạn tàu sẽ chẳng bao giờ còn nhớ lại điều gì nữa, bởi tất cả mọi người sẽ chìm êm ái xuống đáy biển. Và ngay cả ở những vùng biển hoang vắng và man rợ nằm cách xa các ngài về phía tây, thưa các quý ông, việc các con tàu cứ lách cách khua cần bơm suốt cả một chuyến hải trình dài dằng dặc cũng không phải là chuyện gì quá hiếm hoi; nghĩa là, nếu hải trình ấy chạy dọc theo một bờ biển tương đối dễ tiếp cận, hoặc nếu họ còn có thể tìm được chốn dung thân hợp lý nào khác. Chỉ khi một con tàu bị rò rỉ rơi vào chốn khỉ ho cò gáy nào đó giữa những vùng nước ấy, một vĩ độ thực sự không bóng người, thì thuyền trưởng mới bắt đầu cảm thấy lo lắng đôi chút.

“Tàu Town-Ho cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự; thế nên khi thấy chỗ nước rò rỉ lại bắt đầu lớn lên, một vài người trên tàu thực sự đã tỏ ra lo lắng ít nhiều, đặc biệt là viên thuyền phó Radney. Hắn ra lệnh kéo căng các tầng buồm phía trên, buộc chặt lại và dang rộng hết cỡ đón gió. Giờ thì Radney này, tôi đoán vậy, vốn chẳng phải kẻ hèn nhát, và cũng chẳng mảy may có chút sợ sệt lo lắng nào về bản thân mình hơn bất kỳ sinh vật gan lì, vô tư lự nào trên cạn hay dưới biển mà các ngài có thể dễ dàng hình dung, thưa các quý ông. Thế nên, khi hắn bộc lộ sự lo lắng về sự an toàn của con tàu, một số thủy thủ đã quả quyết rằng đó chỉ vì hắn có hùn vốn sở hữu một phần con tàu. Do đó, vào buổi tối hôm đó khi họ đang làm việc bên cần bơm, không ít lời trêu chọc tinh quái đã ngấm ngầm chuyền tai nhau giữa đám thủy thủ, trong khi chân họ liên tục ngập trong dòng nước lăn tăn trong vắt; trong vắt như bất kỳ con suối nguồn sơn cước nào, thưa các quý ông — dòng nước sủi bọt phun ra từ máy bơm chảy tràn trên boong tàu, rồi tuôn xối xả qua những lỗ thoát nước ở mạn khuất gió.

“Giờ thì, như các ngài thừa biết, trong thế giới quy ước này của chúng ta — dù là trên mặt nước hay trên cạn — không hiếm khi xảy ra chuyện: khi một kẻ được đặt vào vị trí chỉ huy trên đầu đồng loại phát hiện ra một người trong số đó có lòng tự trọng và khí phách nam nhi vượt trội hơn hẳn mình, thì ngay lập tức, hắn sinh lòng căm ghét và cay độc không thể kìm ném đối với kẻ ấy; và nếu có cơ hội, hắn sẽ tìm cách xô ngã, nghiền nát tòa tháp của tên thuộc cấp đó, biến nó thành một nhúm bụi nhỏ. Dù quan niệm của tôi về chuyện này thế nào đi nữa, thưa các quý ông, thì tóm lại Steelkilt vẫn là một sinh vật cao lớn và đường bệ với vầng trán giống hệt người La Mã, cùng bộ râu vàng óng ả rủ xuống như những chiếc tua rua trên tấm thảm phủ lưng con chiến mã đang khè mũi của vị phó vương cuối cùng của các ngài; và bên trong con người anh ta là một bộ óc, một trái tim, một tâm hồn, thưa các quý ông, mà nếu được sinh ra làm con của thân phụ Charlemagne, thì Steelkilt hẳn đã trở thành một vị Charlemagne thứ hai. Nhưng Radney, viên thuyền phó, lại xấu xí như một con la; mà cũng dai dẳng, bướng bỉnh và hiểm độc chẳng kém. Hắn không ưa Steelkilt, và Steelkilt thừa biết điều đó.

“Thoáng thấy viên thuyền phó đang tiến lại gần khi mình đang cặm cụi bên cần bơm cùng những người khác, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ liền làm ngơ như không thấy, cứ thế tiếp tục những lời trêu chọc vui vẻ của mình mà không mảy may sợ hãi.

‘Này các cậu, đúng là một chỗ rò rỉ sống động làm sao; đứa nào cầm hộ cái ca ta nếm thử một ngắm xem nào. Chúa ơi, đáng đem ra đóng chai đấy chứ! Tôi nói cho các cậu nghe, vốn liếng của lão Rad già phen này tiêu tùng rồi! Tốt nhất là lão ấy tự chặt một mảng thân tàu rồi kéo về nhà. Sự thật là thế này, mấy chú ạ: con cá kiếm kia mới chỉ bắt đầu công việc thôi; nó đã quay lại cùng một lũ thợ mộc tàu, cá cưa, cá giũa gì đó, và toàn bộ bọn chúng đang cật lực cắt xẻ dưới đáy tàu đây này; chắc là để cải tạo lại ấy mà. Nếu lão Rad mà có ở đây lúc này, tôi thể nào cũng bảo lão nhảy xuống biển mà xua chúng đi. Bọn chúng đang phá nát sản nghiệp của lão rồi đấy, tôi nói cho mà biết. Nhưng lão ta là một gã khờ khạo đáng yêu — lão Rad ấy mà. Này các cậu, người ta bảo số tài sản còn lại của lão đều đầu tư vào gương soi cả đấy. Không biết lão có chịu nhượng lại cho một kẻ khốn khổ như tôi cái khuôn mũi của lão không nhỉ?’

‘Đồ khốn kiếp! Mày dừng cái máy bơm lại làm gì thế?’ Radney gầm lên, làm ra vẻ như không hề nghe thấy câu chuyện của đám thủy thủ. ‘Bơm mạnh tay vào!’

‘Dạ, dạ, thưa ngài,’ Steelkilt đáp, vui vẻ như dế. ‘Nào các chàng trai, nhanh tay lên nào!’ Và thế là chiếc máy bơm lại kêu lách cách inh ỏi như năm mươi chiếc máy chữa cháy; đám thủy thủ tung cả mũ lên, và chẳng mấy chốc, người ta đã nghe thấy tiếng thở dốc đặc trưng của lồng ngực khi phải gắng sức đến cực hạn của sự sống.

Cuối cùng, khi rời khỏi máy bơm cùng những người khác trong nhóm, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ thở hồng hộc đi về phía mũi tàu, ngồi phịch xuống trục tời; mặt đỏ bừng như lửa, mắt vằn tia máu, tay lau mồ hôi đầm đìa trên trán. Giờ thì không hiểu con quỷ xúi giục nào, thưa các quý ông, đã xui khiến Radney đi gây sự với một con người đang ở trạng thái bức bối thể xác như thế; nhưng sự việc đã diễn ra đúng như vậy. Vừa sải những bước chân đầy thách thức dọc boong tàu, viên thuyền phó vừa ra lệnh cho anh ta lấy một cái chổi để quét dọn các tấm ván, lại còn đòi cả cái xẻng để dọn dẹp những thứ xú uế do thả rông lợn trên tàu gây ra.

Thưa các quý ông, việc quét dọn boong tàu trên biển là một công việc gia đình thường được thực hiện đều đặn vào mỗi buổi chiều ngoại trừ lúc bão táp cuồng phong; thậm chí người ta còn thấy nó được làm ngay cả trên những con tàu đang chìm lúc bấy giờ. Sức sống mãnh liệt của các quy lệ hàng hải và tình yêu sự ngăn nắp bẩm sinh của các thủy thủ là thế đấy; có những kẻ thà chết đuối chứ nhất quyết không chịu rửa mặt trước đã. Nhưng trên mọi con tàu, công việc quét dọn này vốn là phận sự kinh điển của đám thủy thủ tập sự, nếu trên tàu có các cậu ta. Hơn nữa, những người khỏe mạnh nhất trên tàu Town-Ho đã được chia thành các nhóm để luân phiên làm việc ở máy bơm; và là người có thể lực vạm vỡ nhất trong số đó, Steelkilt đã được phân công đàng hoàng làm đội trưởng của một nhóm; do đó, anh ta đáng lẽ phải được miễn mọi công việc vụn vặt không liên quan đến nhiệm vụ hàng hải thực thụ, giống như các bạn đồng hành của mình. Tôi kể lại tất cả các chi tiết này để các ngài hiểu rõ tình sự giữa hai con người ấy thực chất ra sao.

Nhưng còn hơn thế nữa: mệnh lệnh về chiếc xẻng rõ ràng chẳng khác nào một nhát châm chọc và lăng mạ nhắm thẳng vào Steelkilt, hệt như việc Radney nhổ nước bọt vào mặt anh ta vậy. Bất kỳ ai từng làm thủy thủ trên một con tàu săn cá voi đều hiểu điều này; và tất cả những điều đó, cùng với chắc chắn là nhiều hơn thế nữa, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ đã hiểu thấu đáo khi viên thuyền phó cất lời truyền lệnh. Nhưng khi anh ta vẫn ngồi yên lặng một lúc, khi anh ta kiên định nhìn thẳng vào ánh mắt đầy ác ý của viên thuyền phó và nhận ra những thùng thuốc súng đang chất đống ngút ngàn trong con người hắn cùng ngọn tim đèn đang âm thầm cháy lan đến đó; khi anh ta trực giác nhận ra tất cả những điều đó, thì một sự kìm chế kỳ lạ và một nỗi ngượng ngùng không muốn khơi dậy thêm niềm đam mê bùng nổ ở một kẻ vốn đã hừng hực cơn giận — một sự ghét bỏ mà những người dũng cảm thực sự thường cảm nhận sâu sắc nhất ngay cả khi bị oan ức — cái cảm giác vô hình kỳ lạ ấy, thưa các quý ông, đã len lỏi trùm lấy Steelkilt.

Thế nên, bằng giọng nói bình thường của mình, chỉ hơi đứt quãng đôi chút do cơn kiệt sức về thể xác mà anh ta đang tạm thời gánh chịu, anh ta đáp lại rằng việc quét dọn boong tàu không phải là phận sự của mình, và anh ta sẽ không làm. Rồi sau đó, chẳng thèm đả động gì đến chiếc xẻng, anh ta chỉ tay về phía ba cậu thiếu niên vốn là những người quét dọn thường trực; những kẻ không được phân công túc trực ở máy bơm nên suốt cả ngày chẳng phải làm gì hoặc hầu như chẳng làm gì cả. Đáp lại điều này, Radney văng tục một câu bằng thái độ hống hách và trịch choè tột cùng, vô điều kiện nhắc lại mệnh lệnh của mình; trong khi đó, hắn lao thẳng về phía gã dân vùng Ngũ Đại Hồ vẫn đang ngồi yên, tay lăm lăm chiếc búa rìu thợ thùng mà hắn vừa chộp lấy từ một cái thùng gần đó.

Dù đang nóng giận và bực bội vì công việc bơm nước quần quật đến phát cuồng, bất chấp cảm giác kìm chế vô danh ban đầu, Steelkilt đầm đìa mồ hôi vẫn khó lòng dung thứ thái độ này của viên thuyền phó; nhưng bằng cách nào đó vẫn đè nén ngọn lửa đang bùng cháy trong lòng, anh ta chẳng thèm nói năng gì, cứ cắm rễ một cách lì lợm trên chỗ ngồi của mình, cho đến tận khi gã Radney tức giận khua khoắng chiếc búa chỉ cách mặt anh ta có vài phân, hung hăng thét bảo anh ta phải tuân lệnh.

Steelkilt đứng dậy, chậm rãi lùi vòng qua trục tời, bám sát theo sau là viên thuyền phó với chiếc búa đe dọa trên tay, điềm tĩnh nhắc lại ý định không chịu tuân thủ của mình. Tuy nhiên, khi thấy sự nhẫn nhịn của mình chẳng mang lại chút tác dụng nào, bằng một cử hiệu uy nghiêm và không thể diễn tả bằng lời qua bàn tay quắp lại, anh ta ra hiệu cảnh cáo kẻ dại dột và mụ mị đó; nhưng mọi chuyện đều vô ích. Và cứ thế, cả hai lượn chậm rãi một vòng quanh trục tời; cho đến khi quyết định không lùi bước thêm nữa, nghĩ rằng bản thân đã nhẫn nhịn đủ mức mà tâm tính cho phép, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ dừng chân trên mấy tấm nắp hầm tàu và cất lời nói với viên sĩ quan:

‘Ông Radney, tôi sẽ không tuân lệnh ông đâu. Cất cái búa đó đi, bằng không thì tự lo thân lấy.’ Nhưng viên thuyền phó bị định mệnh sai khiến lại tiến sát hơn nữa đến chỗ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ đang đứng bất động, giờ đây khua chiếc búa nặng nề cách răng anh ta chỉ chừng một phân, miệng không ngớt thốt ra một tràng những lời nguyền rủa không thể chịu nổi. Không lùi lại dù chỉ một phần nghìn inch, đâm thẳng vào mắt đối phương bằng ánh nhìn sắc bén như dao găm không hề nao núng, Steelkilt siết chặt bàn tay phải sau lưng rồi từ từ lùi lại, cảnh báo kẻ bức hại mình rằng nếu chiếc búa ấy chỉ sượt qua má thôi thì chính hắn (Steelkilt) sẽ giết chết hắn. Nhưng, thưa các quý ông, kẻ ngốc đó đã bị các vị thần đóng dấu hiến tế mất rồi. Ngay lập tức chiếc búa chạm vào má; ngay khoảnh khắc tiếp theo, phần hàm dưới của viên thuyền phó bị đánh thụt vào trong đầu; hắn ngã quỵ xuống nắp hầm tàu, máu phun ra xối xả như cá voi.

Trước khi tiếng thét kịp vọng về phía sau tàu, Steelkilt đã bấu chặt vào một trong những dây chằng phía sau dẫn ngược lên tận đỉnh cột buồm nơi hai người bạn đồng hành của anh ta đang đứng trực. Cả hai đều là dân đào kênh.

‘Dân đào kênh ư!’ Don Pedro kêu lên. ‘Chúng tôi từng thấy rất nhiều tàu cá voi trong các cảng của mình, nhưng chưa bao giờ nghe nói đến dân đào kênh của các anh cả. Xin lỗi: họ là ai và làm nghề gì vậy?’

‘Dân đào kênh, thưa Don, là những người chèo thuyền thuộc Kênh đào Erie vĩ đại của chúng tôi. Chắc chắn các ngài phải nghe nói về nó chứ.’

‘Không, thưa ngài; ở cái vùng đất uể oải, ấm áp, lười biếng và mang nặng tính gia truyền này, chúng tôi biết rất ít về miền Bắc đầy sinh khí của các anh.’

‘Thế ư? Vậy thì, thưa Don, xin hãy rót đầy lại cốc cho tôi. Rượu chicha của các ngài ngon lắm; và trước khi nói tiếp, tôi sẽ kể cho các ngài nghe dân đào kênh của chúng tôi là những ai; bởi vì những thông tin đó có thể rọi thêm ánh sáng phụ cho câu chuyện của tôi.’

Suốt ba trăm sáu mươi dặm, thưa các quý ông, băng qua toàn bộ bề rộng của tiểu bang New York; qua vô số thành phố đông đúc và những ngôi làng thịnh vượng nhất; qua những đầm lầy hoang vu, u ám và những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ không gì sánh bằng; ngang qua những phòng bida và quán rượu; xuyên qua cả chốn thâm nghiêm của những khu rừng lớn; trên những vòm cầu kiểu La Mã bắc qua các dòng sông của người da đỏ; dưới nắng và bóng râm; qua những trái tim hạnh phúc hay tan vỡ; qua mọi phong cảnh tương phản rộng lớn của những quận hạt Mohawk cao quý ấy; và đặc biệt là qua những dãy nhà nguyện trắng muốt có ngọn tháp sừng sững tựa những cột mốc dặm đường, là một dòng chảy không dứt của cuộc sống mang hơi hướng phong cách Venice đầy đồi trụy và thường xuyên vô pháp luật. Đó mới chính là xứ Ashantee thực thụ của các ngài, thưa các quý ông; đó là nơi những kẻ ngoại giáo cất tiếng hú; nơi các ngài luôn tìm thấy chúng, ngay sát vách nhà các ngài; dưới bóng râm trải dài và sự che chở ấm áp của các nhà thờ. Bởi vì do một sự tình cờ kỳ lạ nào đó, hệt như người ta thường nhận thấy ở những tên cướp bóc đô thị của các ngài rằng chúng luôn cắm trại quanh các tòa án, thì những kẻ tội lỗi, thưa các quý ông, lại tập trung đông nhất ở những vùng đất linh thiêng nhất.

‘Có phải một tu sĩ đang đi ngang qua kia không?’ Don Pedro vừa nói vừa nhìn xuống quảng trường đông đúc với vẻ lo lắng đầy hài hước.

‘Thật may cho người bạn phương bắc của chúng ta là Tòa án Dị giáo của Nữ hoàng Isabella đang suy tàn tại Lima,’ Don Sebastian bật cười. ‘Xin mời tiếp tục, thưa ngài.’

‘Khoan đã! Xin thứ lỗi!’ một người khác trong nhóm kêu lên. ‘Nhân danh tất cả chúng tôi những người dân Lima, tôi chỉ muốn bày tỏ với ngài — thưa ngài thủy thủ — rằng chúng tôi hoàn toàn không bỏ qua sự tế nhị của ngài khi không dùng Lima hiện tại để thay thế cho Venice xa xôi trong phép so sánh đầy đồi trụy đó. Ồ! Đừng cúi đầu làm bộ ngạc nhiên; ngài thừa biết câu tục ngữ dọc suốt bờ biển này rồi — “Đồi trụy như Lima.” Nó càng chứng thực cho lời nói của ngài thôi; nhà thờ nhiều hơn cả bàn bida và mở cửa suốt ngày đêm — và “Đồi trụy như Lima.” Tương tự như vậy, cả Venice nữa; tôi từng đến đó rồi; thành phố thánh thiêng của vị thánh truyền giáo diễm phúc St. Mark! — Xin St. Dominic tẩy uế cho nó! Cốc của ngài đây! Cảm ơn: tôi xin rót đầy lại; giờ thì ngài hãy rót tiếp đi.’

Được khắc họa chân thực qua chính nghề nghiệp của mình, thưa các quý ông, gã dân đào kênh thừa sức trở thành một anh hùng kịch nghệ xuất sắc, bởi sự đồi trụy của hắn vừa dồi dào lại vừa mang đậm tính hội họa. Giống như Mark Antony, suốt ngày này qua ngày khác dọc theo dòng sông Nile ngập tràn cỏ xanh và hoa lá, hắn thững thờ thả trôi trên dòng nước, nghênh ngang đùa giỡn với nàng Cleopatra má đỏ hây hây, phơi đôi đùi rám nắng dưới cái nắng trên boong tàu. Nhưng khi lên bờ, toàn bộ vẻ yểu điệu đó liền tan biến. Lốt vỏ kẻ cướp mà gã dân đào kênh tự hào khoác lên người; chiếc mũ sụp xuống gắn ruy băng sặc sỡ chính là biểu hiện cho những nét tính cách vĩ đại của hắn. Là nỗi kinh hoàng cho sự ngây thơ tươi cười của những ngôi làng mà hắn trôi qua; vẻ mặt sạm đen cùng dáng điệu nghênh ngang táo tợn của hắn cũng chẳng phải không bị dè chừng ở các thành phố. Từng là một kẻ lang thang trên chính con kênh của mình, tôi đã từng nhận được sự giúp đỡ từ một trong những gã dân đào kênh ấy; tôi vô cùng cảm kích hắn; rất muốn không tỏ ra vô ơn; nhưng một trong những phẩm chất cứu rỗi hàng đầu của những kẻ bạo lực thường là đôi khi chúng có cánh tay vững chắc để hậu thuẫn một người xa lạ khốn cùng trong cơn hoạn nạn, cũng mạnh mẽ hệt như khi chúng cướp bóc một kẻ giàu có. Tóm lại, thưa các quý ông, sự hoang dã của lối sống kênh đào này được minh chứng rõ rệt qua một điều: rằng ngành đánh cá voi hoang dã của chúng tôi lại dung chứa rất nhiều những sản phẩm ưu tú nhất của nó, và hầu như không có chủng tộc nào trên đời, ngoại trừ đám người Sydney, lại bị các thuyền trưởng săn cá voi của chúng tôi dè chừng đến thế. Và sự kỳ lạ của vấn đề này cũng chẳng hề thuyên giảm khi mà đối với hàng ngàn cậu thiếu niên nông thôn và thanh niên sinh ra dọc theo tuyến kênh đó, cuộc sống tập sự tại Kênh đào Lớn lại chính là bước đệm duy nhất chuyển tiếp từ việc lặng lẽ gặt hái trên những cánh đồng ngô mang tinh thần Cơ Đốc giáo sang việc liều lĩnh cày xới vùng nước của những vùng biển dã man nhất.”

‘Tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi!’ Don Pedro bốc đồng kêu lên, làm tràn cả rượu chicha lên chiếc cổ áo tua rua bằng bạc của mình. ‘Chẳng cần phải đi du lịch đâu! Cả thế giới này chính là một Lima rồi. Hồi nãy tôi cứ tưởng ở miền Bắc ôn hòa của các anh thì các thế hệ phải lạnh lùng và thanh tao như những ngọn đồi chứ. — Nhưng hãy kể tiếp câu chuyện đi.’

“Tôi dừng lại ở đoạn gã dân vùng Ngũ Đại Hồ lay mạnh sợi dây chằng, thưa các quý ông. Vừa mới làm xong điều đó, anh ta đã bị ba viên phó thủ và bốn tay phóng lao vây kín, tất cả cùng xông vào ép anh ta ngã xuống boong tàu. Nhưng trượt dọc theo các sợi dây thừng xuống như những ngôi sao chổi mang tai họa, hai gã dân đào kênh lao thẳng vào đám hỗn chiến, tìm cách lôi người của mình về phía khoang mũi. Những thủy thủ khác cũng hùa theo họ trong nỗ lực này, và một cuộc chiến xoắn xuýt hỗn loạn liền bùng nổ; trong khi đứng ngoài vùng nguy hiểm, vị thuyền trưởng dũng cảm nhảy cẫng lên xuống với một chiếc giáo săn cá voi, lớn tiếng ra lệnh cho các sĩ quan của mình tóm cổ tên khốn nạn tàn bạo đó và áp giải hắn về phía đài chỉ huy phía sau. Thỉnh thoảng, ông ta chạy sát đến rìa của vòng xoáy hỗn loạn, dùng ngọn giáo chọc dò vào tận trung tâm để tìm cách đâm trúng mục tiêu đang khiến mình căm phẫn. Nhưng Steelkilt và đám tay chân liều lĩnh của hắn quá mạnh so với tất cả bọn họ; chúng đã thành công trong việc chiếm được boong khoang mũi, nơi mà sau khi vội vã lật ngang ba hoặc bốn chiếc thùng lớn xếp thành hàng ngay ngắn dọc theo trục tời, những tên “Parisian biển cả” này đã tự dựng lên một chiến lũy để thủ thế.”

‘Biết điều thì cút ra khỏi đó, hỡi lũ cướp biển!’ vị thuyền trưởng gầm lên, tay giơ cao dọa chúng bằng hai khẩu súng lục vừa được người quản gia mang tới. ‘Cút ra khỏi đó ngay, hỡi lũ cắt cổ!’

Steelkilt nhảy lên chiến lũy, sải bước qua lại trên đó và thách thức mọi thủ đoạn tồi tệ nhất mà súng lục có thể gây ra; đồng thời tuyên bố rõ cho thuyền trưởng hiểu rằng cái chết của anh ta (Steelkilt) sẽ là hiệu lệnh cho một cuộc nổi loạn đẫm máu từ phía toàn thể thủy thủ đoàn. Trong thâm tâm lo sợ điều này có lẽ là sự thật phũ phàng, vị thuyền trưởng hơi chùn bước, nhưng vẫn ra lệnh cho đám nổi loạn lập tức quay lại làm nhiệm vụ.

‘Các người có hứa không đụng đến chúng tôi nếu chúng tôi quay lại không?’ kẻ cầm đầu bọn chúng đòi hỏi.

‘Làm việc đi! Làm việc đi! — Ta không hứa hẹn gì sất; — quay về vị trí đi! Các định đánh chìm tàu bằng cách đình công vào cái thời điểm thế này à? Làm việc mau!’ và ông ta lại giơ súng lên một lần nữa.

‘Đánh chìm tàu ư?’ Steelkilt thét lên. ‘Được, cứ để nó chìm đi. Đứa nào trong chúng tôi cũng sẽ không nhấc lấy một ngón tay, trừ phi ông thề là không giơ dù chỉ một sợi dây thừng để chống lại chúng tôi. Các anh nghĩ sao hả anh em?’ quay sang đồng đội của mình. Một tiếng hò reo dữ dội là câu trả lời của họ.

Gã dân vùng Ngũ Đại Hồ lúc này đi lại tuần tra dọc chiến lũy, mắt không rời vị Thuyền trưởng, miệng thốt ra những câu nói cụt ngủn kiểu như: — ‘Đó không phải lỗi của chúng tôi; chúng tôi đâu có muốn thế; tôi đã bảo lão cất cái búa đi rồi; đó là việc của trẻ con; lão có lẽ phải biết rõ tôi từ trước chứ; tôi đã bảo đừng có chọc tức con bò mộng vùng Buffalo rồi mà; tôi tin là mình vừa gãy ngón tay vào cái hàm chết tiệt của lão đây này; chẳng phải ở dưới khoang mũi kia có những con dao băm thịt đấy ư hỡi anh em? chú ý đến mấy cái đòn bẩy ấy nhé mấy bồ tèo. Thưa Thuyền trưởng, có Chúa mới biết được, tự lo thân lấy đi; nói một tiếng đi; đừng có dại dột thế; quên hết đi; chúng tôi sẵn sàng quay lại làm việc; đối xử với chúng tôi cho ra hồn thì chúng tôi là người của các ông; nhưng chúng tôi không chịu để bị quất roi đâu.’

‘Làm việc mau! Ta chẳng hứa hẹn gì hết, quay lại làm việc ngay, tao bảo thế!’

‘Nhìn đây này,’ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ vừa nói vừa vung tay về phía ông ta, ‘ở đây có một số người chúng tôi (và tôi là một trong số đó) đã ký hợp đồng đi chuyến hải trình này, các ông thấy đấy; giờ thì như các ông thừa biết, thưa ngài, chúng tôi hoàn toàn có quyền đòi thanh lý hợp đồng ngay khi mỏ neo được thả xuống; thế nên chúng tôi chẳng muốn gây gổ làm gì; điều đó chẳng có lợi cho chúng tôi; chúng tôi muốn sống hòa bình; chúng tôi sẵn sàng làm việc, nhưng chúng tôi không chịu để bị đánh roi đâu.’

‘Làm việc mau!’ Vị Thuyền trưởng gầm lên.

Steelkilt đảo mắt nhìn quanh một thoáng rồi cất lời: — ‘Tôi nói cho ngài hay nhé Thuyền trưởng, thà giết quách ngài đi rồi chịu treo cổ vì một tên tiểu nhân hèn hạ như thế, chứ chúng tôi nhất quyết không nhấc tay chống lại ngài trừ khi ngài tấn công chúng tôi; nhưng cho đến khi ngài cất lời hứa không quất roi chúng tôi, thì chúng tôi đến một ngón tay cũng chẳng thèm động đậy.’

‘Vậy thì cút xuống khoang mũi đi, cút xuống dưới đó hết cho tao, tao sẽ nhốt tụi mày ở dưới cho đến khi ngảy nào chán ngấy thì thôi. Cút xuống mau.’

‘Có nên xuống không hả anh em?’ kẻ cầm đầu quay sang hỏi đám thuộc hạ. Hầu hết bọn chúng đều phản đối; nhưng cuối cùng, tuân lệnh Steelkilt, chúng vẫn lủi thủi đi trước anh ta xuống cái hang tối tăm của mình, lầm bầm càu nhàu biến khuất dần như những con gấu chui vào hang.

Ngay khi đỉnh đầu trần của gã dân vùng Ngũ Đại Hồ vừa ngang bằng với các tấm ván sàn, vị Thuyền trưởng và đám tay chân liền nhảy qua chiến lũy, nhanh chóng kéo tấm nắp hầm trượt lại, áp sát cả nhóm tay chân lên trên đó, rồi lớn tiếng gọi người quản gia mang chiếc ổ khóa bằng đồng nặng trắc của lối ra vào buồng lái tới. Sau đó, hé mở tấm nắp đôi chút, vị Thuyền trưởng thì thầm gì đó xuống khe hở, sập nắp lại và xoay chìa khóa nhốt chặt bọn chúng — mười tên tổng cộng — để lại trên boong chừng hai mươi người hoặc hơn thế từ nãy đến giờ vẫn giữ thái độ trung lập.

Suốt cả đêm hôm đó, một phiên trực tỉnh táo đã được duy trì bởi tất cả các sĩ quan, từ trước ra sau tàu, đặc biệt là quanh nắp khoang mũi và hầm hàng phía trước; nơi mà người ta lo sợ đám nổi loạn có thể chui lên sau khi đập phá vách ngăn ở dưới. Nhưng những giờ phút u tối đã trôi qua trong yên bình; những thủy thủ vẫn trung thành với nhiệm vụ tiếp tục cật lực làm việc bên những chiếc máy bơm, tiếng khua lách cách của chúng thỉnh thoảng vang lên đầy thê lương khắp con tàu trong suốt đêm dài lạnh lẽo.

Khi mặt trời mọc, vị Thuyền trưởng đi lên phía trước, gõ mạnh xuống boong tàu gọi đám tù nhân ra làm việc; nhưng họ đã gào thét từ chối. Nước sau đó được thả xuống cho họ, kèm theo một vài nắm bánh quy ném theo; rồi một lần nữa khóa chặt cửa và đút túi chìa khóa, vị Thuyền trưởng quay trở lại đài chỉ huy. Cứ thế lặp đi lặp lại một ngày hai lần suốt ba ngày; nhưng đến sáng ngày thứ tư, người ta nghe thấy tiếng cãi cọ hỗn loạn rồi tiếng xô xát khi lời gọi quen thuộc được truyền đi; và bất thình lình bốn kẻ từ khoang mũi xông vọt lên, nói rằng họ đã sẵn sàng quay lại làm việc. Không khí ngột ngạt hôi hám cùng chế độ ăn uống chết đói, có lẽ kết hợp thêm với một số nỗi sợ hãi về sự trừng phạt cuối cùng, đã buộc họ phải đầu hàng vô điều kiện. Được đà lấn tới, vị Thuyền trưởng lặp lại yêu cầu với những kẻ còn lại, nhưng Steelkilt từ dưới vọng lên một lời cảnh cáo rợn tóc gáy bắt ông ta ngậm miệng lại và cút về chỗ của mình. Đến sáng ngày thứ năm, thêm ba tên nổi loạn nữa lao vút lên không trung từ cái ôm chật chội tuyệt vọng của những kẻ ở dưới cố níu kéo chúng lại. Chỉ còn sót lại ba tên.

‘Giờ thì chịu quay lại làm việc chưa?’ vị Thuyền trưởng nhạo báng tàn nhẫn.

‘Lại nhốt tụi tao xuống nữa đi chứ hả!’ Steelkilt thét lên.

‘Ồ! Chắc chắn rồi,’ vị Thuyền trưởng nói, và tiếng chìa khóa kêu lách cách.

Chính tại thời điểm này, thưa các quý ông, khi bị kích nộ bởi sự phản bội của bảy kẻ từng là đồng minh cũ, bị châm chọc bởi câu nói mỉa mai vừa vang lên gọi hắn, và phát điên vì quãng thời gian dài bị chôn vùi trong một nơi tối tăm như đáy lòng của sự tuyệt vọng; chính lúc đó Steelkilt đã đề xuất với hai tên dân đào kênh — những kẻ cho đến lúc đó vẫn tỏ ra cùng một guộc với hắn — rằng hãy phá tung cửa hầm ra ngay lần điểm danh tiếp theo của lính canh; và với những con dao băm thịt sắc bén trên tay (những dụng cụ hình lưỡi liềm nặng trắc có cán ở cả hai đầu), chúng sẽ càn quét một trận từ mũi cho đến đuôi tàu; và nếu có thể làm được điều điên rồ tột độ nào đó, chúng sẽ cướp lấy con tàu. Về phần mình, hắn nói, hắn sẽ làm điều đó dù hai kẻ kia có tham gia hay không. Đó sẽ là đêm cuối cùng hắn chịu đựng cái hang ổ đó. Nhưng kế hoạch chẳng gặp phải sự phản đối nào từ phía hai kẻ kia; chúng thề là đã sẵn sàng cho việc đó, hoặc cho bất kỳ hành động điên rồ nào khác, tóm lại là làm bất cứ điều gì miễn không phải đầu hàng. Hơn thế nữa, mỗi tên đều khăng khăng đòi phải là kẻ đầu tiên ngoi lên boong khi thời điểm xông lên đến. Nhưng yêu cầu đó đã vấp phải sự phản đối gay gắt từ người thủ lĩnh, kẻ muốn giành đặc quyền tiên phong đó cho chính mình; nhất là khi hai người đồng đội của hắn chẳng ai chịu nhường ai trong chuyện này; mà cả hai thì không thể cùng lúc làm người đứng đầu, bởi vì chiếc thang chỉ đủ chỗ cho từng người một chui qua. Và chính tại đây, thưa các quý ông, bộ mặt bẩn thỉu của những kẻ đê tiện này mới lộ nguyên hình.

Khi nghe kế hoạch điên cuồng của người thủ lĩnh, trong thâm tâm của mỗi kẻ dường như chợt lóe lên cùng một ý đồ phản bội hèn hạ, đó là: phải tranh giành chui lên đầu tiên để trở thành kẻ đầu tiên trong ba tên, dẫu là kẻ cuối cùng trong số mười tên, chịu đầu hàng; qua đó vớt vát chút cơ hội khoan hồng ít ỏi mà hành động ấy có thể mang lại. Nhưng khi Steelkilt bày tỏ quyết tâm vẫn sẽ dẫn dắt chúng cho đến phút chót, bằng cách nào đó, qua thứ hóa học tinh vi của sự đểu cáng, chúng đã âm thầm hòa quyện những mưu phản vốn được giữ kín của mình lại với nhau; và khi người thủ lĩnh chợp mắt chợp mắt, chúng đã thì thầm trao đổi với nhau bằng ba câu ngắn ngủi; rồi dùng dây thừng trói siết kẻ đang ngủ lại, nhét giẻ vào miệng hắn; và cất tiếng gào thét gọi Thuyền trưởng vào lúc nửa đêm.

Đinh ninh rằng án mạng đang kề cận, và dò dẫm trong bóng tối tìm mùi máu, hắn cùng toàn bộ các sĩ quan và tay phóng lao vũ trang ào ạt lao về phía khoang mũi. Chỉ vài phút sau, nắp hầm được mở ra, và trong tình trạng bị trói giật cả tay lẫn chân, kẻ cầm đầu vẫn đang vùng vẫy dữ dội đã bị đẩy ngược lên không trung bởi những đồng minh phản bội của hắn, những kẻ ngay lập tức đòi công lao bắt giữ một tên ác ôn đã chín muồi cho tội mưu sát. Nhưng tất cả bọn chúng đều bị tóm cổ áo, lôi xềnh xệch dọc boong tàu như những con gia súc đã chết; và bị treo ngược sóng đôi lên giàn xà ngang mễn tàu giống như ba khúc thịt xẻ, cứ thế lủng lẳng cho đến tận sáng hôm sau. ‘Đồ khốn nạn,’ vị Thuyền trưởng vừa bước qua bước lại trước mặt chúng vừa gầm lên, ‘đến kên kên cũng chẳng thèm rỉa tụi mày nữa là, lũ khốn kiếp!’

Khi mặt trời mọc, ông ta triệu tập toàn bộ thủy thủ đoàn; và tách những kẻ nổi loạn ra khỏi những người không tham gia vào cuộc bạo động, ông ta bảo nhóm thứ nhất rằng mình rất muốn quất roi phạt tất cả bọn chúng — nghĩ đi nghĩ lại thì ông ta sẽ làm thế — ông ta phải làm vậy — công lý đòi hỏi điều đó; nhưng tạm thời, xét thấy thái độ đầu hàng đúng lúc của chúng, ông ta sẽ tha cho chúng bằng một lời khiển trách, và ông ta đã thực hiện điều đó bằng thứ ngôn ngữ bình dân.

‘Còn tụi mày, lũ thối tha cặn bã này,’ vừa nói ông ta vừa quay sang ba tên đang treo lủng lẳng trên giàn xà — ‘đối với tụi mày, tao định băm vằm ra để nấu mỡ đấy;’ rồi chộp lấy một đoạn dây thừng, ông ta quất hết sức lực vào lưng của hai kẻ phản bội, cho đến khi chúng không còn kêu la nổi nữa, chỉ biết thõng thỏng buông thõng đầu sang một bên như hai tên trộm bị đóng đinh trên thập giá.

‘Cổ tay tao muốn bong gân vì tụi mày rồi đấy!’ cuối cùng ông ta thét lên; ‘nhưng vẫn còn thừa dây thừng cho mày đấy, con gà chọi cứng đầu không chịu khuất phục kia. Lấy cái giẻ nhét trong miệng nó ra xem nó còn nói được gì để tự biện hộ không nào.’

Trong chốc lát, tên tội phạm kiệt sức cử động hàm cứng đờ một cách run rẩy, rồi đau đớn ngoảnh đầu lại và rít lên một câu: ‘Những gì tao nói là thế này — và hãy nhớ cho kỹ — nếu mày quất roi tao, tao sẽ giết mày!’

‘Mày nói thế ư? Vậy để tao cho mày thấy mày làm tao sợ thế nào nhé’ — và vị Thuyền trưởng lùi lại lấy đà vung roi quất xuống.

‘Tốt hơn là đừng,’ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ rít lên.

‘Nhưng tao buộc phải làm thế thôi’ — và sợi dây thừng lại một lần nữa được kéo ngược ra sau lấy thế đánh.

Đến lúc này Steelkilt thốt ra một câu gì đó thì thào, chỉ có mình Thuyền trưởng nghe thấy; khiến cho sự kinh ngạc của tất cả mọi người có mặt, ông ta giật mình lùi lại, đi đi lại lại thật nhanh hai ba bước trên boong, rồi bất ngờ quăng phắt sợi dây thừng xuống và nói, ‘Tao không làm thế nữa — thả nó xuống — cắt dây thả nó ra: tụi mày nghe rõ chưa?’

Nhưng khi các viên phó thủ đang vội vã chạy đi thi hành mệnh lệnh, một kẻ tái mét với cái đầu băng bó đã chặn đứng họ lại — đó là Radney, viên thuyền phó trưởng. Kể từ sau nhát đánh đó, hắn vẫn nằm liệt giường; nhưng sáng hôm nay, nghe tiếng náo động trên boong, hắn đã lê bước bò ra và theo dõi toàn bộ sự việc từ nãy đến giờ. Tình trạng của vòm miệng khiến hắn hầu như chẳng thể cất nên lời; nhưng lẩm bẩm vài câu rằng bản thân sẵn sàng và đủ sức làm những gì thuyền trưởng không dám bén mảng tới, hắn giật lấy đoạn dây thừng và tiến về phía kẻ thù đang bị trói quặt tay.

‘Mày là đồ hèn nhát!’ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ rít lên.

‘Đúng thế đấy, nhưng nhận lấy cái này đi.’ Viên thuyền phó vừa vung tay định đánh thì một tiếng rít khác lại chặn đứng cánh tay đang giơ cao của hắn. Hắn khựng lại: rồi không chần chừ thêm nữa, hắn giáng thẳng nhát roi bất chấp lời đe dọa của Steelkilt, dù lời đe dọa đó có là gì đi nữa. Ba kẻ kia sau đó được cắt dây thả xuống, toàn bộ thủy thủ đoàn quay lại làm việc, và trong sự cáu bẳn của đám thủy thủ bất mãn, những chiếc máy bơm bằng sắt lại lách cách kêu lên như trước.

Vừa sập tối ngày hôm đó, khi một ca trực đã lui xuống khoang dưới, một tiếng lầm rầm cãi vã vang lên ở khoang mũi; và hai kẻ phản bội run lẩy bẩy chạy vụt lên, bao vây lấy cửa cabin, khóc lóc nói rằng chúng không dám sống chung với đám thủy thủ nữa. Mọi lời nài nỉ, đấm đá lẫn quất phạt đều không thể đuổi chúng quay lại, thế là theo yêu cầu của chính chúng, chúng được đưa xuống hầm chứa của tàu để bảo toàn tính mạng. Mặc dù vậy, không có dấu hiệu nổi loạn nào tái xuất hiện ở những người còn lại. Ngược lại, có vẻ như chủ yếu theo sự xúi giục của Steelkilt, họ đã quyết định duy trì thái độ ôn hòa tuyệt đối, tuân thủ mọi mệnh lệnh cho đến cùng, và khi tàu cập cảng, họ sẽ đồng loạt đào tẩu. Nhưng để đảm bảo cho chuyến hải trình kết thúc nhanh chóng nhất, tất cả bọn họ đã cùng đồng ý thêm một điều nữa — đó là sẽ không cất tiếng hô báo hiệu khi phát hiện ra cá voi. Bởi vì, dẫu cho tàu rò rỉ, dẫu cho muôn vàn hiểm nguy khác rình rập, tàu Town-Ho vẫn duy trì các vị trí trên đỉnh cột buồm, và viên thuyền trưởng của nó vẫn sẵn sàng hạ xuồng săn cá ngay lúc đó, hệt như ngày con tàu lần đầu tiên đặt chân đến ngư trường; và Radney viên thuyền phó cũng hăng hái chẳng kém trong việc đổi chỗ ngồi trên tàu sang xuồng chèo, mang theo cái miệng băng bó tìm cách bóp nghẹt sự sống trong hàm của con cá voi.

Nhưng dẫu gã dân vùng Ngũ Đại Hồ đã thuyết phục được các thủy thủ áp dụng lối cư xử nhẫn nhịn kiểu này, hắn vẫn giữ kín mưu tính của riêng mình (ít ra là cho đến khi mọi chuyện kết thúc) liên quan đến mối thù cá nhân và riêng tư đối với kẻ từng đâm thấu tâm can hắn. Hắn nằm trong ca trực của viên thuyền phó trưởng Radney; và như thể gã người mê muội đó đang cố tình chạy quá nửa quãng đường để lao vào cái chết, bất chấp lời khuyên can rõ ràng của thuyền trưởng, hắn vẫn khăng khăng đòi tiếp nhận lại ca trực đêm của mình. Dựa vào điều này cùng một vài chi tiết khác, Steelkilt đã vạch ra bài bản kế hoạch trả thù của hắn.

Trong đêm, Radney có một thói quen trái phép là ngồi lên lan can của đài chỉ huy phía sau, gác khuỷu tay lên mạn chiếc xuồng cứu sinh được treo lơ lửng ở đó, nhô cao hơn mạn tàu một chút. Ở tư thế này, ai cũng biết là thỉnh thoảng hắn lại gà gật ngủ gù. Giữa chiếc xuồng và thân tàu có một khoảng trống khá lớn, và phía dưới khe hở ấy chính là biển cả. Steelkilt tính toán thời gian, và nhận ra phiên cầm lái tiếp theo của hắn sẽ rơi vào lúc hai giờ sáng của ngày thứ ba tính từ ngày hắn bị phản bội. Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, trong những giờ trực nghỉ ngơi bên dưới, hắn tỉ mẩn tết một thứ gì đó vô cùng cẩn thận.

‘Mày đang làm cái quái gì thế?’ một bạn tàu lên tiếng hỏi.

‘Đố mày biết đấy; nhìn nó giống cái gì nào?’

‘Trông như một sợi dây đeo túi của mày ấy; nhưng tao thấy nó kỳ cục thế nào ấy nhỉ.’

‘Ừ, hơi dị thật,’ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ vừa nói vừa dang tay đưa sợi dây ra xa ngắm nghía; ‘nhưng tao nghĩ nó sẽ dùng được việc. Này bạn hiền, tao không đủ dây thừng rồi — mày còn chút nào không?’

Nhưng ở khoang mũi chẳng còn lấy một sợi nào.

‘Vậy thì tao phải đi xin lão Rad già thôi;’ rồi hắn đứng dậy đi về phía sau tàu.

‘Mày tính đi xin xỏ hắn thật đấy à!’ một thủy thủ kêu lên.

‘Sao lại không? Mày nghĩ hắn sẽ không giúp tao một tay sao, khi mà việc đó rốt cuộc cũng giúp ích cho chính hắn hả bạn hiền?’ và đi đến chỗ viên thuyền phó, hắn điềm tĩnh nhìn thẳng vào mặt hắn, xin một ít dây thừng để vá lại chiếc võng của mình. Nó đã được đưa cho hắn — và từ đó chẳng còn ai nhìn thấy sợi dây thừng hay đoạn dây đeo ấy nữa; nhưng vào đêm hôm sau, một quả cầu sắt được bện lưới kín mít đã vô tình lăn ra từ túi chiếc áo khoác ngắn của gã dân vùng Ngũ Đại Hồ, khi hắn đang nhét chiếc áo vào võng để làm gối. Hai mươi bốn giờ sau, phiên trực bên tay lái tĩnh lặng của hắn — sát ngay bên cạnh gã đàn ông hay gà gật ngay trên cái huyệt đã được đào sẵn chờ sẵn cho người thủy thủ — giờ phút định mệnh ấy cuối cùng cũng đến; và trong tâm hồn đã được định sẵn từ trước của Steelkilt, viên thuyền phó đã lạnh ngắt và duỗi thẳng như một cái thây ma, với vầng trán bị nghiền nát.

Nhưng, thưa các quý ông, một kẻ ngốc đã cứu kẻ mưu sát hụt khỏi hành động đẫm máu mà hắn đã lên kế hoạch. Thế nhưng hắn vẫn trả thù được trọn vẹn, mà lại không phải nhúng tay làm kẻ báo thù. Bởi vì do một định mệnh huyền bí, chính Thiên Đàng dường như đã nhúng tay vào để giật lấy khỏi tay hắn thứ tội ác mà hắn định thực hiện.

Đó là khoảng thời gian ngay giữa lúc rạng sáng và mặt trời mọc của ngày thứ hai, khi họ đang cọ rửa boong tàu, thì một gã người Teneriffe ngốc nghếch đang múc nước ở mạn chính bỗng chốc gào lên: ‘Kìa nó đang cuộn mình kìa! Kìa nó đang cuộn mình kìa!’ Chúa ơi, một con cá voi bự làm sao! Đó chính là Moby Dick.

‘Moby Dick ư!’ Don Sebastian kêu lên; ‘St. Dominic! Thưa ngài thủy thủ, cá voi mà cũng có lễ rửa tội hay sao? Ai là kẻ mà các ngài gọi là Moby Dick vậy?’

‘Một con quái vật vô cùng trắng trẻo, nổi tiếng và chết chóc nhất, thưa Don; — nhưng kể ra thì câu chuyện đó quá dài.’

‘Sao cơ? Thế nào thế nào?’ tất cả các chàng trai người Tây Ban Nha nhao lên xúm lại.

‘Không, các Don, các Don — thôi nào! Bây giờ tôi không thể kể lại chuyện đó đâu. Hãy để tôi hít thở không khí thoáng đãng hơn chút đã, các ngài.’

‘Rượu chicha! Mang chicha ra đây!’ Don Pedro kêu lên; ‘người bạn đầy sinh khí của chúng ta trông có vẻ lả đi rồi đấy; — hãy rót đầy lại cái cốc rỗng của anh ta đi!’

Chẳng cần đâu, thưa các quý ông; xin chờ một lát, tôi xin phép được kể tiếp. — Giờ thì thưa các quý ông, khi bất thình lình nhìn thấy con cá voi trắng muốt chỉ cách tàu chừng năm mươi thước — quên bẵng đi thỏa thuận giữa các thủy thủ đoàn — trong cơn phấn khích của thời khắc đó, gã người Teneriffe đã theo bản năng và vô tình cất tiếng hô to tên con quái vật, dẫu cho từ một lúc trước đó nó đã được nhìn thấy rõ mồn một từ ba vị trí trên đỉnh cột buồm ảm đạm. Mọi thứ lúc bấy giờ chìm trong cuồng nộ. ‘Cá Voi Trắng — Cá Voi Trắng!’ là tiếng thét cất lên từ vị thuyền trưởng, các phó thủ và đám phóng lao thủ, những kẻ chẳng mẩy mây sợ hãi trước những lời đồn đại rợn người, tất cả đều sốt sắng muốn bắt cho bằng được một con cá vừa nổi danh vừa quý giá đến thế; trong khi đám thủy thủ lì lợm liếc xéo bằng ánh mắt đầy căm phẫn vẻ đẹp kinh hoàng của khối sữa trắng khổng lồ ấy, dưới ánh nắng ngang phản chiếu lấp lánh, đang chuyển động và lấp lánh hệt như một viên ngọc opan sống động giữa vùng biển xanh buổi sáng. Thưa các quý ông, một định mệnh kỳ lạ bao trùm toàn bộ tiến trình của những sự kiện này, tựa hồ như mọi thứ đã được vạch sẵn từ trước khi bản đồ thế giới được vẽ nên. Tên phản loạn chính là tay chèo mũi của viên thuyền phó, và khi đâm trúng cá, nhiệm vụ của hắn là ngồi ngay cạnh hắn, trong khi Radney đứng thẳng người cầm giáo ở mũi tàu, thu dây lại hoặc nới lỏng ra theo khẩu lệnh. Hơn nữa, khi bốn chiếc xuồng được hạ xuống, xuồng của viên thuyền phó đã xuất phát trước; và chẳng có ai hú hét vì phấn khích dữ dội hơn Steelkilt, khi anh ta gân cổ rướn người trên mái chèo. Sau một hồi chèo cật lực, tay phóng lao của họ đã đâm trúng cá, và tay cầm giáo, Radney lao vọt lên mũi thuyền. Hắn vốn luôn là một kẻ hung hãn, có vẻ là thế, mỗi khi ở trên xuồng. Và lúc này khẩu hiệu rách rưới của hắn là lao thẳng lên lưng cao nhất của con cá voi. Chẳng chút chần chừ, tay chèo mũi kéo hắn xồng xộc tiến lên, xuyên qua màn bọt nước lóa mắt hòa quyện hai sắc trắng làm một; cho đến khi bất thình lình chiếc xuồng va đập như thể đâm vào một dải đá ngầm, rồi lật nghiêng, hất văng viên thuyền phó đang đứng trên đó ra ngoài. Ngay khoảnh khắc hắn rơi xuống tấm lưng trơn trượt của con cá voi, chiếc xuồng lật ngửa lại rồi bị hất văng sang một bên bởi con sóng lớn, trong khi Radney bị hất tung xuống biển ở mạn bên kia của con cá voi. Hắn vùng vẫy bơi qua làn bọt nước, và trong một thoáng, người ta chỉ nhìn thấy hắn mờ ảo qua tấm màn che đó, đang hoảng loạn tìm cách né tránh ánh mắt của Moby Dick. Nhưng con cá voi quay ngoắt lại trong một dòng nước xoáy bất thình lổng; ngoạm lấy kẻ đang bơi giữa đôi hàm của nó; rồi vươn cao người mang theo hắn, cắm đầu lao xuống vực sâu và biến mất.

Trong khi đó, ngay tại thời điểm tiếng va đập đầu tiên ở đáy xuồng vang lên, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ đã nới lỏng dây thừng để thả trôi lùi lại phía sau tránh xa vùng nước xoáy; điềm tĩnh đứng nhìn và suy ngẫm những điều của riêng mình. Nhưng một lực giật mạnh mẽ và bất thình lình kéo thốc xuống của chiếc xuồng đã nhanh chóng đưa con dao của hắn cắt đứt sợi dây. Hắn cắt phăng nó đi; và con cá voi đã được tự do. Tuy nhiên, ở một khoảng cách xa hơn, Moby Dick lại ngoi lên lần nữa, trên bộ hàm vừa tiêu diệt nạn nhân vẫn còn dính vài mảnh vụn từ chiếc áo sơ mi dạ đỏ của Radney. Cả bốn chiếc xuồng lại tiếp tục truy đuổi; nhưng con cá voi đã lẩn tránh được chúng, và cuối cùng hoàn toàn biến mất.

Đúng thời hạn, tàu Town-Ho đã cập bến cảng của mình — một nơi hoang vắng, biệt lập — không một bóng người văn minh nào sinh sống. Tại đó, dưới sự dẫn đầu của gã dân vùng Ngũ Đại Hồ, trừ năm hoặc sáu người ra, toàn bộ số thủy thủ khoang mũi đã có sự tính toán kỹ lưỡng mà đào tẩu vào rừng cọ; kết quả sau đó hóa ra là họ đã cướp lấy một chiếc xuồng chiến đôi lớn của thổ dân rồi căng buồm tìm đường đến một bến cảng khác.

Thủy thủ đoàn của con tàu bị giảm sút chỉ còn lại một nhúm người, buộc vị thuyền trưởng phải cầu viện sự giúp đỡ của thổ dân đảo trong công việc nặng nhọc là lật nghiêng con tàu lên để bịt lỗ rò. Nhưng sự cảnh giác không ngừng nghỉ đối với những đồng minh nguy hiểm đó là điều mà nhóm thủy thủ da trắng ít ỏi này bắt buộc phải duy trì, cả ngày lẫn đêm, và công việc cực nhọc mà họ phải trải qua quá đỗi khắc nghiệt, đến mức khi con tàu sẵn sàng ra khơi trở lại, họ đã ở trong tình trạng suy kiệt đến nỗi vị thuyền trưởng không dám nhổ neo khởi hành cùng họ trên một con tàu nặng nề nhường ấy. Sau khi bàn bạc với các sĩ quan, ông ta cho neo tàu ra xa bờ hết mức có thể; nạp đạn và đẩy hai khẩu đại bác ra khỏi mũi tàu; xếp chồng súng hỏa mai lên boong sau; và cảnh báo thổ dân tuyệt đối không được bén mảng đến gần tàu nếu không muốn mất mạng, rồi mang theo một người, căng buồm chiếc xuồng săn cá voi tốt nhất của mình, xuôi theo chiều gió thẳng tiến đến Tahiti, cách đó năm trăm dặm, để chiêu mộ thêm thủy thủ đoàn.

Vào ngày thứ tư của hải trình, một chiếc xuồng lớn đã bị phát hiện, có vẻ như nó vừa ghé qua một hòn đảo san hô thấp. Ông ta liền đổi hướng tránh xa nó; nhưng chiếc thuyền của thổ dân đã lao thẳng về phía ông ta; và chẳng mấy chốc giọng nói của Steelkilt đã gọi lớn yêu cầu ông ta dừng thuyền lại, nếu không muốn bị đâm chìm nghỉm xuống nước. Vị thuyền trưởng giơ súng lục lên. Đặt một chân lên mỗi mạn của hai chiếc xuồng chiến nối liền, gã dân vùng Ngũ Đại Hồ cười lớn khinh bỉ; bảo đảm rằng nếu khẩu súng lục chỉ cần khẽ kêu lên một tiếng lách cách ở cò súng, hắn sẽ vùi thây ông ta giữa bọt nước và bong bóng xà phòng.

‘Mày muốn gì ở tao?’ vị thuyền trưởng thét lên.

‘Mày đang đi đâu? và đi làm gì?’ Steelkilt chất vấn; ‘không được nói dối.’

‘Ta đang đến Tahiti để tuyển thêm người.’

‘Rất tốt. Cho tao lên tàu một lát — tao đến trong hòa bình.’ Nói đoạn hắn nhảy khỏi chiếc xuồng, bơi về phía xuồng chèo; rồi bám vào mạn thuyền, đứng đối mặt trực diện với vị thuyền trưởng.

‘Khoanh tay lại, thưa ông; ngả đầu ra sau. Giờ thì lặp lại theo tôi. Ngay khi Steelkilt rời khỏi tôi, tôi thề sẽ cho chiếc xuồng này ủi thẳng vào hòn đảo kia và ở lại đó sáu ngày. Nếu tôi không làm thế, nguyện xin sét đánh chết tôi!’

‘Một học trò ngoan đấy,’ gã dân vùng Ngũ Đại Hồ bật cười. ‘Adios, Senor!’ và nhảy ùm xuống biển, hắn bơi ngược trở lại với đồng bọn của mình.

Quan sát chiếc xuồng cho đến khi nó thực sự chạm bờ và được kéo lên tận gốc những rặng dừa, Steelkilt mới căng buồm trở lại, và đúng hạn đã đến được Tahiti, điểm đến của chính hắn. Ở đó, vận may đã mỉm cười với anh ta; có hai con tàu đang chuẩn bị khởi hành đi Pháp, và thật tình cờ là chúng đang rất cần đúng số lượng người mà gã thủy thủ đang dẫn đầu. Họ lên tàu; và nhờ thế đã vĩnh viễn bỏ xa vị thuyền trưởng cũ của mình, dẫu cho lão ta có bất kỳ ý định nào muốn quay lại đòi lại công lý hợp pháp từ họ.

Chừng mười ngày sau khi những con tàu Pháp khởi hành, chiếc xuồng săn cá voi mới tới nơi, và vị thuyền trưởng buộc phải tuyển dụng một số người Tahiti văn minh hơn, những kẻ đã quen thuộc phần nào với công việc biển cả. Thuê một chiếc thuyền buồm nhỏ bản địa, ông ta cùng họ quay trở lại con tàu của mình; và khi thấy mọi thứ đều ổn thỏa, ông ta lại tiếp tục nối lại các chuyến hải trình săn bắt.

Giờ đây Steelkilt đang ở đâu, thưa các quý ông, chẳng ai hay biết; nhưng trên hòn đảo Nantucket, người góa phụ của Radney vẫn hướng mắt ra đại dương — nơi nhất quyết không chịu trả lại những kẻ đã khuất; vẫn nhìn thấy trong những giấc mơ hình ảnh con cá voi trắng khủng khiếp đã tước đoạt mạng sống của hắn. * * * *

‘Ngài kể xong rồi chứ?’ Don Sebastian điềm tĩnh lên tiếng.

‘Xong rồi, thưa Don.’

‘Vậy thì tôi khẩn khoản cầu xin ngài hãy nói cho tôi biết, theo tận đáy lòng xác tín của chính ngài, thì câu chuyện này về bản chất thực sự là sự thật chứ? Nó quá đỗi kỳ diệu! Ngài lấy nó từ một nguồn tin không thể chối cãi được chứ? Xin hãy thứ lỗi nếu tôi tỏ ra ép uổng.’

‘Xin cũng hãy bao dung cho tất cả chúng tôi nữa, thưa ngài thủy thủ; bởi vì tất cả chúng tôi đều đồng lòng với thỉnh cầu của Don Sebastian,’ nhóm người vang lên hưởng ứng với vẻ vô cùng hứng khởi.

‘Ở Quán Trọ Vàng này có cuốn Phúc Âm Thánh nào không các ngài?’

‘Không,’ Don Sebastian nói; ‘nhưng tôi biết có một vị linh mục đáng kính ở gần đây, ngọc ngài ấy sẽ mau chóng mang đến một cuốn. Tôi sẽ đi lấy nó; nhưng ngài đã suy nghĩ kỹ chưa? chuyện này có vẻ sắp trở nên quá ư nghiêm trọng đấy.’

‘Ngài có phiền mời luôn vị linh mục đó đến đây cùng không, thưa Don?’

‘Dù ở Lima giờ đây chẳng còn những phiên tòa thiêu sinh Auto-da-Fé nào nữa,’ một người trong nhóm nói nhỏ với người kia: ‘tôi e rằng người bạn thủy thủ của chúng ta đang tự chuốc lấy rủi ro với tòa tổng giám mục rồi đây. Chúng ta hãy lui vào khuất ánh trăng hơn chút nữa đi. Tôi thấy chẳng cần thiết phải làm thế này.’

‘Xin lỗi vì đã phải chạy theo ngài, Don Sebastian; nhưng tôi cũng xin khẩn nài ngài hãy lưu ý chọn cuốn Phúc Âm loại to nhất có thể nhé.’

‘Đây là vị linh mục, ngài ấy mang Phúc Âm đến cho ngài đây,’ Don Sebastian nghiêm nghị nói khi quay trở lại cùng một nhân vật cao gầy và trang nghiêm.

‘Cho phép tôi được bỏ mũ ra. Giờ thì, thưa vị linh mục đáng kính, xin hãy bước ra nơi có nhiều ánh sáng hơn, và giơ Thánh Kinh trước mặt tôi để tôi có thể chạm tay vào nó.’

‘Nguyện xin Thiên Đàng chứng giám, và trên danh dự của tôi, câu chuyện mà tôi vừa kể cho các ngài nghe, thưa các quý ông, về bản chất và các tình tiết lớn của nó đều là sự thật. Tôi biết chắc chắn đó là sự thật; nó đã xảy ra trên quả địa cầu này; tôi từng bước chân lên con tàu đó; tôi từng quen biết thủy thủ đoàn; tôi đã tận mắt nhìn thấy và trò chuyện với Steelkilt kể từ sau cái chết của Radney.’

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.