[THƯ VIỆN GHI CHÚ]: Bước vào quán trọ Trúc Phúc với cái đầu hồi nhô ra ấy, khách bỗng thấy mình lạc vào một lối vào rộng, thấp và ngoằn ngoèo với những tấm ốp tường lỗi mốt, gợi liên tưởng đến mạn của một con tàu già cỗi mục nát nào đó. Một bên tường treo bức tranh sơn dầu rất lớn, đã bị khói ám đen sì và hư hỏng mọi bề, khiến cho trong thứ ánh sáng chéo vắt chập chờn khi ngắm nhìn, chỉ nhờ công phu nghiên cứu miệt mài, những chuyến viếng thăm có hệ thống và việc dò hỏi cẩn thận những người hàng xóm, bạn mới có thể phần nào hiểu được ý nghĩa của nó. Đó là những mảng màu tối và bóng râm khó tài nào hiểu nổi, thoạt nhìn khiến người ta ngỡ như một họa sĩ trẻ đầy tham vọng nào đó, vào thời của những mụ phù thủy New England, đang cố gắng phác họa khung cảnh hỗn mang bị quỷ ám. Thế nhưng, nhờ ngắm nhìn chăm chú và tha thiết, nhờ suy ngẫm hết lần này đến lần khác, và nhất là khi mở toang khung cửa sổ nhỏ nhìn ra phía sau lối vào, cuối cùng bạn cũng đi đến kết luận rằng ý tưởng ấy, dẫu có ngông cuồng đến đâu, thì chưa chắc đã hoàn toàn vô căn cứ.
Nhưng điều khiến bạn bối rối và hoang mang nhất lại là một khối đen dài, mềm oặt, đầy điềm gãy lơ lửng ở giữa bức tranh, ngay phía trên ba đường thẳng màu xanh, mờ ảo, đứng thẳng đang nổi bập bềnh trên một thứ bọt men không tên. Quả là một bức tranh lầy lội, sũng nước và nhớp nháp, đủ sức làm cho một kẻ thần kinh yếu phải phát điên. Vậy mà ẩn chứa trong đó lại là một thứ vẻ đẹp siêu việt mờ ảo, nửa vời, không tài nào tưởng tượng nổi, níu chặt lấy bạn khiến bạn bất giác thề độc phải tìm cho ra ý nghĩa của bức tranh kỳ diệu ấy. Hết lần này đến lần khác, một ý nghĩ sáng lóa nhưng ngặt thay lại đầy đánh lừa chợt lóe lên trong tâm trí bạn.—Đó là Biển Đen trong một trận cuồng phong giữa đêm đen.—Đos là cuộc giao chiến trái tự nhiên của bốn nguyên tố thuở khai thiên lập địa.—Đó là một vùng đất hoang bị nguyền rủa.—Đó là khung cảnh mùa đông phương Bắc cực điểm.—Đó là khoảnh khắc dòng sông Thời gian bị băng giá phá vỡ. Nhưng cuối cùng, mọi ảo ảnh ấy đều nhường chỗ cho cái khối điềm báo duy nhất ở giữa bức tranh. Một khi đã tìm ra điều đó, mọi thứ còn lại bỗng trở nên rõ mồn một. Nhưng khoan đã; chẳng phải nó mang một nét phảng phất giống một loài cá khổng lồ hay sao? Thậm chí chính là chúa tể đại dương leviathan vĩ đại?
Thực ra, ý đồ của người họa sĩ dường như là thế này: một giả thuyết cuối cùng của riêng tôi, phần lớn dựa trên tổng hợp ý kiến của nhiều cụ già mà tôi từng trò chuyện về chủ đề này. Bức tranh miêu tả một con tàu vòng qua Mũi Horn trong một trận đại cuồng phong; chiếc tàu suýt chìm đang tròng trành ở đó với ba chiếc cột buồm trơ trọi là những thứ duy nhất còn nhìn thấy được; và một con cá voi đang giận dữ, với ý định chồm hẳn qua con tàu, đang ở vào khoảnh khắc tột độ tự lao mình xuyên qua ba đỉnh cột buồm.
Bức tường đối diện của lối vào này được treo kín những thứ vũ khí kỳ quái của tộc người ngoại giáo như gậy gộc và giáo mác. Vài chiếc được cắm chi chít những chiếc răng lấp lánh trông giống như lưỡi cưa bằng ngà voi; những chiếc khác thì được tua rua bằng những nhúm tóc người; và có một chiếc hình lưỡi liềm, với cái cán to bản uốn cong vòng lại giống như vệt cỏ do một kẻ thợ gặt tay dài vừa vạt qua. Bạn rùng mình khi ngắm nhìn, và tự hỏi không biết tên ăn thịt người và dã nhân quái dị nào từng đi thu hoạch cái chết bằng một thứ dụng cụ chém giết và kinh hoàng đến thế. Lẫn lộn trong số đó là những ngọn giáo và lao săn cá voi cũ kỹ đã rỉ sét, tất cả đều gãy gẫy méo mó. Vài chiếc là những thứ vũ khí mang bề dày truyền thuyết. Bằng ngọn giáo từng dài này, nay đã cong queo như khuỷu tay, năm mươi năm trước Nathan Swain đã hạ sát mười lăm con cá voi chỉ trong khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Và cây lao đó—giờ trông giống hệt cái đồ khui nút chai—đã được phóng đi ở vùng biển Javan, bị một con cá voi mang đi mất tích, để rồi nhiều năm sau đó lại bị giết ở vùng ngoài khơi Cape de Blanco. Mũi sắt nguyên bản cắm gần phần đuôi, và tựa như một cây kim không yên vị lang thang trong cơ thể một con người, đã lướt đi trọn bốn mươi thước, cuối cùng nằm kẹt lại ở phần bướu.
Bước qua lối vào mờ ảo này, tiến qua lối đi có vòm thấp đằng kia—được đục xuyên qua thứ mà ngày xưa hẳn là một cái ống khói trung tâm lớn với những lò sưởi vây quanh—bạn bước vào phòng chung. Đây là một nơi còn mờ tối hơn nữa, với những xà nhà thấp và nặng nề ở bên trên cùng những ván sàn cũ kỹ nhăn nheo ở bên dưới, đến mức bạn suýt tưởng mình đang đặt chân lên hầm tàu của một chiếc thuyền cũ, nhất là vào một đêm hú gió dữ dội như thế này, khi mà khối hòm tôn cổ kính được neo ở góc nhà ấy tròng trành một cách cuồng nộ. Một bên tường kê một chiếc bàn dài, thấp, giống như cái kệ, trên có bày những chiếc tủ kính nứt nẻ chứa đầy những món đồ quý hiếm bám đầy bụi bặm được thu lượm từ nhữngó xó xỉnh xa xôi nhất trên thế giới rộng lớn này. Nhô ra từ góc trong cùng của phòng là một góc khuất trông có vẻ tối tăm—quầy rượu—một nỗ lực thô sơ phỏng theo phần đầu của một con cá voi đầu bò. Dù thế nào đi nữa, ở đó vẫn sừng sững chiếc xương vòm hàm cá voi khổng lồ, rộng đến mức một cỗ xe ngựa suýt chút nữa có thể lái lọt qua bên dưới. Bên trong là những chiếc kệ xập xệ, bày san sát những bình đựng rượu cũ, chai lọ; và giữa cái hàm của sự hủy diệt chớp nhoáng ấy, tựa như một tên Giô-na bị nguyền rủa nào đó (thực ra họ vẫn gọi hắn bằng cái tên ấy), một lão già gầy guộc nhỏ thó đang thoăn thoắt bận rộn, sẵn sàng bán đắt cắt cổ đám thủy thủ để đổi lấy những cơn mê sảng và cái chết.
Những chiếc cốc uống nước lão dùng để rót thứ nước độc dược ấy thật đáng ghê tởm. Dẫu bề ngoài là hình trụ chính hiệu—nhưng bên trong, những chiếc thủy tinh lồi lõm xanh lè đầy gian xảo lại thuôn nhọn dần xuống dưới một cái đáy lừa lọc. Những đường kinh tuyến song song được khắc thô thiến lên mặt kính, bao quanh những chiếc cốc của đám cướp đường này. Rót đến vạch này, tiền cước của bạn chỉ có một xu; đến vạch này thêm một xu nữa; và cứ thế cho đến khi đầy cốc—đơn vị đo lường của mũi Horn, thứ mà bạn có thể nốc cạn với giá một shilling.
Khi bước vào nơi này, tôi thấy một số thủy thủ trẻ đang tụ tập quanh một chiếc bàn, dưới ánh sáng lờ mờ đang săm soi đủ thứ mẫu vật điêu khắc xương cá voi. Tôi tìm gặp chủ quán, bảo rằng mình muốn thuê một phòng trọ, liền nhận được câu trả lời rằng nhà trọ của hắn đã kín chỗ—không còn một chiếc giường nào trống. “Nhưng khoan đã,” hắn vừa nói vừa gõ tay lên trán, “anh chắc không phiền khi phải chia sẻ chung tấm chăn với một tay phóng lao chứ nhỉ? Tôi đoán anh sắp đi săn cá voi, thế nên tốt hơn là nên quen dần với kiểu đó đi.”
Tôi bảo hắn rằng tôi chưa bao giờ thích ngủ chung giường với ai cả; rằng nếu có lúc phải làm thế, thì điều đó còn tùy thuộc tay phóng lao ấy là ai, và nếu hắn (lão chủ quán) thực sự không còn chỗ nào khác cho tôi, và tay phóng lao kia không đến mức quá đáng ghét, thì thà tôi chịu đựng nửa tấm chăn của bất kỳ người đàn ông đàng hoàng nào còn hơn là phải lang thang thêm nữa giữa một thị trấn xa lạ trong một đêm rét căm căm thế này.
“Tôi nghĩ thế đấy. Được rồi; cứ ngồi xuống đi. Bữa tối chứ?—anh muốn ăn tối chứ? Bữa tối sẽ dọn ra ngay đây.”
Tôi ngồi xuống một chiếc băng ghế gỗ cũ kỹ, được chạm trổ khắp nơi trông giống như chiếc ghế dài ở công viên Battery. Ở một đầu ghế, một tên thủy thủ đang mải mê trầm ngâm vẫn tiếp tục trang trí thêm cho nó bằng con dao nhấp nhô của hắn, còng lưng cặm cụi làm việc ở khoảng trống giữa hai chân. Hắn đang thử tài trổ tài khắc hình một con tàu đang giăng buồm xuôi gió, nhưng theo tôi thấy thì chẳng tiến bộ được bao nhiêu.
Cuối cùng, khoảng bốn hoặc năm chúng tôi được gọi vào ăn bữa tối ở một căn phòng bên cạnh. Trời lạnh cóng như xứ Iceland—chẳng có lấy một đống lửa—lão chủ quán bảo hắn không kham nổi. Chẳng có gì ngoài hai cây nến mỡ cừu ảm đạm, mỗi cây cắm trong một chiếc khăn tang. Chúng tôi đành phải cài kín cúc áo khoác dày, và dùng những ngón tay gần như tê cóng để đưa những tách trà nóng bỏng lên môi. Nhưng thức ăn lại là loại thịnh soạn nhất—không chỉ có thịt và khoai tây, mà còn có cả bánh bao; trời đất ơi! bánh bao cho bữa tối trong quán trọ! Một chàng thanh niên mặc chiếc áo khoác dài màu xanh lá cây đã lao vào đĩa bánh bao này với một vẻ mặt vô cùng thảm hại.
“Này cậu thanh niên,” lão chủ quán nói, “cậu thể nào cũng bị ác mộng cho mà xem, chắc chắn chết đi được.”
“Này chủ quán,” tôi thì thầm, “đó không phải là tay phóng lao đấy chứ?”
“Ồ, không,” hắn đáp, với một vẻ mặt cười cợt trông có vẻ quỷ quái, “tay phóng lao là một tay da ngăm đen. Hắn không bao giờ ăn bánh bao đâu—hắn chẳng ăn gì ngoài bít-tết, và thích ăn tái cơ.”
“Quỷ tha ma bắt hắn đi,” tôi lẩm bẩm. “Tay phóng lao đó đâu rồi? Hắn có ở đây không?”
“Chẳng mấy chốc nữa hắn sẽ đến đây thôi,” câu trả lời là vậy.
Tôi không sao kìm lại được, bắt đầu cảm thấy hoài nghi về tay phóng lao “da ngăm đen” này. Dù sao đi nữa, tôi cũng tự nhủ rằng nếu rủi ro chúng tôi phải ngủ chung giường, hắn bắt buộc phải cởi đồ và lên giường trước tôi.
Bữa tối kết thúc, mọi người quay trở lại phòng uống rượu, lúc ấy chẳng biết làm gì với bản thân, tôi quyết định dành phần thời gian còn lại của buổi tối để làm một kẻ đứng xem.
Chẳng mấy chốc, một tiếng ồn ào hỗn độn vang lên bên ngoài. Giật mình đứng phắt dậy, lão chủ quán kêu lên: “Đó là thủy thủ đoàn của tàu Grampus. Sáng nay tôi thấy người ta báo tin nó đang ở ngoài khơi; một chuyến hải trình ba năm trời, và một con tàu đầy ắp chiến lợi phẩm. Hoan hô, các chàng trai; giờ thì chúng ta sắp có những tin tức mới nhất từ quần đảo Fiji rồi.”
Tiếng bước chân đi ủng nặng nề vang lên ở lối vào; cánh cửa bật mở, và một đám thủy thủ hoang dã lục đục kéo vào. Bọc mình trong những chiếc áo khoác đi biển dày cộm, đầu quấn những chiếc khăn len quàng cổ đã rách rưới vá víu chằng chịt, râu dính đầy băng giá, họ trông chẳng khác nào một bầy gấu từ vùng Labrador tràn xuống. Họ vừa rời thuyền bước lên bờ, và đây là quán trọ đầu tiên họ đặt chân tới. Thảo nào mà họ lại lao thẳng một mạch tới cái miệng cá voi—chính là quầy rượu—nơi lão Giô-na già nhăn nheo đang phục vụ ở đó, chẳng mấy chốc đã rót cho mỗi người một ly đầy tràn. Một kẻ phàn nàn vì bị cảm lạnh nặng ở đầu, thế là lão Giô-na liền pha cho hắn một thứ thuốc độc dược sền sệt như nhựa đường làm từ rượu gin và rỉ đường, mà lão thề rằng đó là thứ thuốc tiên chữa bách bệnh cho mọi chứng cảm lạnh và viêm mũi bất kể đã kéo dài bao lâu, hay mắc phải ở ngoài khơi bờ biển Labrador, hoặc ở mạn đón gió của một hòn băng trôi.
Chất cồn nhanh chóng xộc lên đầu họ, như thường lệ vẫn thế ngay cả với những bợm nhậu sừng sỏ nhất vừa mới đặt chân lên bờ sau chuyến hải trình dài ngày, và họ bắt đầu nhảy nhót tưng bừng một cách cực kỳ ồn ào.
Tuy nhiên, tôi nhận thấy có một người đứng tách ra một chút, và mặc dù hắn có vẻ không muốn làm hỏng không khí vui vẻ của các bạn đồng hành bằng vẻ mặt nghiêm nghị của mình, nhưng nhìn chung hắn vẫn cố kìm chế không gây ồn ào như những kẻ khác. Người đàn ông này ngay lập tức thu hút sự chú ý của tôi; và vì các vị thần biển đã định đoạt rằng chẳng mấy chốc hắn sẽ trở thành bạn đồng hành trên biển của tôi (dù chỉ là một người bạn chung giường xét theo câu chuyện này), nên ở đây tôi mạn phép phác hoạ đôi nét về hắn. Hắn cao tới sáu thước, với đôi vai lực lưỡng và lồng ngực vững chãi như một chiếc đê chắn sóng. Hiếm khi tôi thấy ai có cơ bắp vạm vỡ đến thế. Gương mặt hắn sạm đen và cháy nắng, làm nổi bật hàm răng trắng lóa đến chói mắt bởi sự tương phản; trong khi ẩn sâu trong ánh mắt u buồn ấy là những ký ức dường như chẳng đem lại cho hắn niềm vui nào. Giọng nói của hắn ngay lập tức cho biết hắn là một người miền Nam, và qua tầm vóc tuyệt đẹp ấy, tôi nghĩ hắn chắc hẳn phải là một trong những kẻ cao kều đến từ dãy núi Allegheny ở Virginia. Khi sự cuồng hoan của đám bạn đồng hành lên đến đỉnh điểm, người đàn ông này lặng lẽ lẻn đi mà không ai chú ý, và tôi không còn gặp lại hắn cho đến khi hắn trở thành chiến hữu của tôi trên biển. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, các bạn tàu đã nhận ra sự vắng mặt của hắn, và có vẻ như vì một lý do nào đó hắn rất được mọi người yêu mến, họ liền hô vang: “Bulkington! Bulkington! Bulkington đâu rồi?” rồi lao vụt ra khỏi quán để truy tìm hắn.
Lúc đó đã khoảng chín giờ, và căn phòng trở nên tĩnh lặng một cách kỳ lạ sau những cuộc trác táng ấy, tôi bắt đầu tự chúc mừng bản thân về một kế hoạch nho nhỏ vừa chợt hiện lên trong đầu ngay trước khi đám thủy thủ bước vào.
Chẳng ai thích ngủ chung giường với người khác cả. Thực ra, thà bạn ngủ với chính anh em ruột thịt của mình còn hơn. Tôi chẳng hiểu thế nào nữa, nhưng con người ta ai cũng thích sự riêng tư khi ngủ. Và khi phải ngủ chung với một kẻ lạ mặt không quen biết, trong một quán trọ xa lạ, ở một thị trấn xa lạ, mà kẻ lạ mặt đó lại là một tay phóng lao, thì sự phản đối trong bạn lại càng nhân lên gấp bội. Cũng chẳng có lý do gì chính đáng để một thủy thủ như tôi lại phải ngủ chung giường hơn bất kỳ ai khác; bởi vì thủy thủ đi biển cũng chẳng bao giờ ngủ chung giường, giống như những vị vua độc thân trên bờ vậy. Đương nhiên là tất cả bọn họ đều ngủ chung trong một căn phòng, nhưng bạn có võng riêng của mình, đắp chiếc chăn của chính mình, và ngủ trong làn da của chính mình.
Càng ngẫm nghĩ về tay phóng lao đó, tôi lại càng ghê tởm ý nghĩ phải ngủ chung với hắn. Thật hợp lý khi đoán rằng, đã là một tay phóng lao, thì đồ lót hay đồ len của hắn, tùy từng trường hợp, chắc chắn chẳng thể nào ngăn nắp sạch sẽ cho cam, và tất nhiên cũng chẳng lấy gì làm tinh tế. Khắp người tôi bắt đầu ngứa ngáy khó chịu. Hơn nữa, trời đã khuya, và tay phóng lao đàng hoàng của tôi lẽ ra phải về nhà và lên giường đi ngủ rồi chứ. Giả sử bây giờ, hắn lảo đảo lao vào tôi vào lúc nửa đêm—làm sao tôi biết được hắn vừa chui ra từ cái xó xỉnh tồi tệ nào chứ?
“Này chủ quán! Tôi đổi ý về vụ tay phóng lao đó rồi.—Tôi sẽ không ngủ chung với hắn đâu. Tôi sẽ thử ngủ trên chiếc ghế dài này vậy.”
“Tùy anh thôi; tôi tiếc là không thể xé cho anh một chiếc khăn trải bàn để làm đệm, và ở đây ván gỗ thì cứng khủng khiếp đấy”—vừa nói hắn vừa sờ soắn những mắt gỗ và vết khấc. “Nhưng đợi một lát đã, Skrimshander; tôi có cái bào thợ mộc ở trong quầy đây—đợi nhé, tôi nói là tôi sẽ làm cho anh nằm thoải mái ngay thôi.” Nói đoạn hắn đi lấy cái bào; và dùng chiếc khăn tay lụa cũ của mình phủi bụi chiếc ghế dài trước, rồi hăng hái cạo bào chiếc giường của tôi, miệng cười toe toét như một con khỉ. Mùn cưa bay tung tóe khắp nơi; cho đến cuối cùng lưỡi bào đập khựng vào một mắt gỗ cứng ngắc không sao bào nổi. Lão chủ quán suýt trẹo cổ tay, và tôi phải van xin hắn thôi ngay đi—chiếc giường đã đủ mềm mại với tôi rồi, và tôi không biết liệu tất cả đống bào trên đời này có thể biến một tấm ván thông thành lông vịt mềm mại được không. Thế nên, vừa gom đống mùn cưa lại với một ném cười toe toét khác, vừa ném chúng vào chiếc lò sưởi lớn ở giữa phòng, hắn quay lại công việc của mình và mặc kệ tôi chìm trong dòng suy nghĩ vẩn vơ.
Bây giờ tôi đo lại chiếc ghế dài, và nhận thấy nó ngắn hơn một thước; nhưng điều đó có thể khắc phục bằng một chiếc ghế tựa. Thế nhưng nó lại quá hẹp một thước, và chiếc ghế dài kia trong phòng lại cao hơn chiếc đã bào khoảng bốn phân—thế nên không thể ghép chúng lại với nhau được. Tôi bèn đặt chiếc ghế dài thứ nhất dọc theo khoảng trống duy nhất sát tường, để lại một khoảng hở nhỏ ở giữa cho phần lưng tôi lún xuống. Nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận thấy có một luồng gió lạnh buốt thổi thốc vào người từ phía dưới bệ cửa sổ, khiến kế hoạch này hoàn toàn phá sản, nhất là khi một luồng gió khác từ cánh cửa lỏng lẻo thổi tới hòa vào luồng gió từ cửa sổ, cả hai kết hợp lại tạo thành một chuỗi những cơn lốc xoáy nhỏ ngay sát khu vực mà tôi định dành để qua đêm.
Quỷ tha ma bắt tay phóng lao đó đi, tôi thầm nghĩ, nhưng khoan đã, chẳng lẽ tôi không thể ra tay trước hắn sao—chốt cửa phòng hắn lại từ bên trong, rồi nhảy lên giường hắn, để dù có tiếng gõ cửa dữ dội cách mấy cũng không thể đánh thức tôi dậy? Xem ra đây không phải là một ý nghĩ tồi; nhưng nghĩ lại thì tôi từ bỏ ngay. Bởi vì ai mà biết được, nhỡ đâu sáng hôm sau, ngay khi tôi vừa thò đầu ra khỏi phòng, tay phóng lao đó đã đứng sẵn ở hành lang, sẵn sàng đấm cho tôi một trận nhừ tử thì sao!
Dù vậy, khi nhìn quanh một lần nữa và chẳng thấy chút hy vọng nào có thể trải qua một đêm tạm ổn nếu không ngủ nhờ giường của người khác, tôi bắt đầu nghĩ rằng suy cho cùng có lẽ mình đang ôm ấp những thành kiến vô căn cứ đối với tay phóng lao xa lạ này. Tôi tự nhủ, mình sẽ đợi thêm một lúc nữa; thế nào hắn cũng sắp sửa lai vãng về đây thôi. Lúc đó tôi sẽ ngắm kỹ mặt hắn, và biết đâu chúng ta lại trở thành những người bạn cùng giường tuyệt vời thì sao—chẳng thể nói trước được điều gì.
Nhưng mặc dù những vị khách trọ khác cứ lục đục kéo vào từng người, từng cặp, từng nhóm ba người rồi đi ngủ, vẫn chẳng thấy bóng dáng tay phóng lao của tôi đâu cả.
“Này chủ quán!” tôi lên tiếng hỏi, “hắn là loại người gì thế—hắn lúc nào cũng về muộn thế này à?” Lúc đó đã điểm suýt soát mười hai giờ đêm.
Lão chủ quán lại khúc khích cười cái điệu cười gầy guộc của lão, có vẻ như vô cùng thích thú trước một chuyện gì đó vượt quá tầm hiểu biết của tôi. “Không,” hắn đáp, “thông thường hắn là một con chim sớm—ngủ sớm dậy sớm—vâng, hắn chính là con chim bắt được mồi mà.—Nhưng tối nay hắn đi bán hàng dạo, anh thấy đấy, và tôi chẳng hiểu tại sao quỷ sứ lại giữ hắn về muộn thế, có lẽ, ngốc nghếch ở chỗ là hắn không bán được cái đầu của mình chăng.”
“Không bán được cái đầu?—Anh đang bịa ra cái câu chuyện lừa bịp quái quỷ gì thế này?” tôi bắt đầu nổi giận đùng đùng. “Ý anh muốn nói là, chủ quán ạ, tay phóng lao này thực sự đang bận rộn trong cái đêm thứ Bảy hồng phúc này, hay đúng hơn là rạng sáng Chủ Nhật, để đi bán dạo cái đầu của hắn khắp thị trấn này chắc?”
“Chính xác là thế đấy,” lão chủ quán nói, “và tôi đã bảo hắn là không bán được ở đây đâu, thị trường bão hòa mất rồi.”
“Bão hòa với cái gì chứ?” tôi quát lên.
“Đương nhiên là đầu rồi; chẳng phải trên thế giới này có quá nhiều đầu sao?”
“Tôi nói cho anh biết nhé, chủ quán,” tôi nói với một vẻ hoàn toàn bình tĩnh, “tốt hơn hết là anh đừng có bịa chuyện gạt tôi nữa—tôi không phải là kẻ khờ đâu.”
“Có thể là thế,” vừa nói hắn vừa rút một mẩu gỗ ra gọt tăm, “nhưng tôi đoán chắc là anh sẽ bị lột sạch sành sanh nếu tay phóng lao kia nghe thấy anh dám bôi nhọ cái đầu của hắn đấy.”
“Tôi sẽ đập nát nó cho hắn xem,” tôi nói, lúc này lại nổi cơn thịnh nộ trước thứ ngôn từ lộn xộn khó hiểu của lão chủ quán.
“Nó nát sẵn rồi,” hắn thản nhiên đáp.
“Nát,” tôi kêu lên—“nát là ý anh thế nào?”
“Chắc chắn rồi, và đó chính là lý do tại sao hắn không bán nổi nó, tôi đoán thế.”
“Này chủ quán,” tôi tiến lại gần hắn, điềm tĩnh như ngọn núi Hecla giữa cơn bão tuyết,—“này chủ quán, thôi đừng gọt củi nữa. Anh và tôi phải làm cho ra ngô ra khoai, và chuyện đó phải được giải quyết ngay lập tức. Tôi đến quán của anh và muốn thuê một chiếc giường; anh bảo với tôi rằng anh chỉ có thể cho tôi một nửa; rằng nửa còn lại thuộc về một tay phóng lao nào đó. Và về tay phóng lao này, kẻ mà tôi còn chưa từng giáp mặt, anh cứ khăng khăng kể cho tôi nghe những câu chuyện vô cùng huyễn hoặc và tức giận, có xu hướng gieo rắc vào lòng tôi cảm giác khó chịu đối với người mà anh định xếp cho ngủ chung giường với tôi—một mối quan hệ, hứa hẹn một sự thân mật và tin cậy ở mức độ cao nhất. Giờ tôi yêu cầu anh phải nói thẳng ra và cho tôi biết tay phóng lao này là ai, ra sao, và liệu tôi có hoàn toàn an toàn khi trải qua ban đêm với hắn hay không. Và trước hết, phiền anh rút lại câu chuyện về việc bán cái đầu của hắn đi, mà nếu đó là sự thật thì tôi coi là bằng chứng rõ ràng cho thấy tay phóng lao này hoàn toàn điên khùng, và tôi chẳng có ý định ngủ chung với một kẻ điên; còn anh, ý tôi là anh đấy, chủ quán ạ, anh, bằng cách cố tình xúi giục tôi làm điều đó, sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý trước một vụ án hình sự đấy.”
“Chà,” lão chủ quán hít một hơi thật dài, “đó là một bài giảng đạo khá dài cho một kẻ thỉnh thoảng lại nổi đóa lên đấy. Nhưng cứ bình tĩnh, bình tĩnh nào, tay phóng lao mà tôi vừa kể cho anh nghe vừa mới từ các vùng biển phía nam trở về, nơi hắn mua gom một lô đầu người New Zealand được ướp xác (toàn là đồ cổ quý hiếm, anh biết đấy), và hắn đã bán sạch tất cả trừ đúng một cái, và cái duy nhất đó hắn đang cố bán nốt vào tối nay, bởi vì ngày mai là Chủ Nhật, và người ta không thể đi bán dạo đầu người trên đường phố khi mọi người đang đi nhà thờ được. Tối Chủ Nhật tuần trước hắn cũng muốn làm thế, nhưng tôi đã kịp cản hắn lại ngay lúc hắn vừa bước ra khỏi cửa với bốn cái đầu xỏ chung vào một sợi dây, trông chẳng khác nào một chuỗi hành tây cả.”
Lời giải thích này đã làm sáng tỏ bí ẩn vốn dĩ không sao hiểu nổi, và cho thấy rằng suy cho cùng, lão chủ quán chẳng có ý định lừa phỉnh gì tôi cả—nhưng đồng thời, tôi phải nghĩ sao về một tay phóng lao dám lang thang bên ngoài suốt đêm thứ Bảy cho đến tận ngày Chủ Nhật linh thiêng, bận rộn với cái nghề ăn thịt người kinh tởm là đi bán đầu của những kẻ thờ tượng đã chết?
“Tin tôi đi, chủ quán, tay phóng lao đó là một kẻ nguy hiểm đấy.”
“Hắn trả tiền sòng phẳng,” câu trả lời ngắn gọn là thế. “Nhưng thôi nào, trời đã khuya lắm rồi, anh nên đi quẫy đuôi ngủ đi thôi—đó là một chiếc giường tuyệt đẹp đấy: Sal và tôi từng ngủ trên chiếc giường đó vào cái đêm chúng tôi kết tóc se tơ. Chiếc giường đó rộng thênh thang, tha hồ cho hai người lăn lộn thoải mái. Nó to khủng khiếp luôn ấy chứ. Ngày trước, trước khi nhường nó lại, Sal thường bắt thằng Sam và con bé Johnny nằm ở phía cuối giường cơ. Nhưng có một đêm tôi mơ màng khua khoắng chân tay thế nào, thằng Sam bị hất văng xuống sàn, suýt gãy cả tay. Sau vụ đó, Sal bảo không thể được. Đi theo tôi nào, tôi sẽ thắp đèn cho anh ngay đây;” nói đoạn hắn thắp một ngọn nến và chìa về phía tôi, ra hiệu dẫn đường. Nhưng tôi vẫn đứngần ngừ không quyết; khi nhìn lên chiếc đồng hồ treo ở góc phòng, hắn thốt lên: “Tôi thề là đã sang Chủ Nhật rồi đấy—tối nay anh sẽ chẳng gặp được tay phóng lao đó đâu; hắn thả neo đậu xó xỉnh nào mất tiêu rồi—thế nên đi thôi; đi mau lên nào; anh có chịu đi không?”
Tôi ngẫm nghĩ một thoáng, rồi chúng tôi bước lên lầu, và tôi được dẫn vào một căn phòng nhỏ, lạnh cóng như con sò, quả thực được bày trí một chiếc giường khổng lồ, to đến mức đủ chỗ cho bất kỳ bốn tay phóng lao nào nằm sóng soài.
“Đó,” lão chủ quán vừa nói vừa đặt ngọn nến lên một chiếc rương đựng đồ đi biển cũ kỹ ọp ẹp vừa làm bàn rửa mặt vừa làm bàn chính giữa phòng; “đó, giờ thì cứ tự nhiên thoải mái nhé, chúc anh ngủ ngon.” Tôi quay người lại từ chỗ đang ngắm nghía chiếc giường, nhưng hắn đã biến đi đằng nào mất.
Lật tấm khăn trải giường ra, tôi cúi người kiểm tra chiếc giường. Dù không hẳn là loại sang trọng gì cho cam, nhưng nó cũng vượt qua bài kiểm tra một cách tương đối ổn thỏa. Tôi liền đảo mắt nhìn quanh căn phòng; ngoài chiếc giường và chiếc bàn ở giữa, tôi chẳng thấy món đồ nội thất nào khác trong phòng ngoài một chiếc kệ thô sơ, bốn bức tường, và một tấm chắn lò sưởi dán giấy miêu tả hình ảnh một người đàn ông đang đâm cá voi. Về những thứ không thuộc về căn phòng, có một chiếc võng được cuộn tròn lại và ném lăn lóc ở một góc nhà; ngoài ra còn có một chiếc túi đựng đồ đi biển lớn, chắc là chứa quần áo của tay phóng lao thay cho va-li thông thường. Tương tự, trên chiếc kệ phía trên lò sưởi có một bọc lưỡi câu xương kỳ dị, và một ngọn lao dài đang dựng đứng ở đầu giường.
Nhưng cái gì trên chiếc rương đây này? Tôi cầm nó lên, đưa sát lại ngọn nến, sờ mó, ngửi ngửi, và thử mọi cách có thể để đi đến một kết luận thỏa đáng về nó. Tôi chẳng thể so sánh nó với thứ gì khác ngoài một chiếc thảm chùi chân cỡ lớn, được viền xung quanh bằng những chiếc tua rua lấp lánh nhỏ trông giống như lông nhím nhuộm màu xung quanh chiếc giày moccasin của người da đỏ. Có một lỗ thủng hoặc đường xẻ ở chính giữa tấm thảm này, giống như bạn vẫn thấy ở những chiếc áo poncho Nam Mỹ vậy. Nhưng liệu có đời nào một tay phóng lao đứng đắn lại chui vào một tấm chấn cửa, rồi diễu hành trên đường phố của bất kỳ thị trấn theo đạo Thiên Chúa nào với thứ trang phục kiểu đó cơ chứ? Tôi mặc thử nó vào người, và nó đè nặng tôi xuống như một chiếc giỏ hàng, vì nó vô cùng rậm rạp và dày cộm, lại có cảm giác hơi ẩm ướt, tựa như tay phóng lao bí ẩn này đã mặc nó vào một ngày mưa gió vậy. Tôi mặc nó bước đến chỗ mảnh gương nhỏ dán trên tường, và chưa bao giờ trong đời tôi chứng kiến một cảnh tượng nào nực cười đến thế. Tôi hốt hoảng tự lột nó ra nhanh đến mức suýt làm trẹo cả cổ.
Tôi ngồi xuống mép giường, bắt đầu suy ngẫm về tay phóng lao chuyên đi bán đầu dạo này và chiếc thảm chùi chân của hắn. Ngồi thừ người ở mép giường một lúc, tôi đứng dậy cởi chiếc áo khoác dày ra, rồi đứng ngây người giữa phòng suy nghĩ tiếp. Sau đó tôi cởi tiếp áo khoác ngoài, và đứng trầm ngâm một lát nữa chỉ với chiếc áo sơ mi trên người. Nhưng lúc này bắt đầu cảm thấy rất lạnh, khi bộ dạng chỉ mới cởi đồ dở dang như vậy, và nhớ lại những gì lão chủ quán nói về việc tay phóng lao sẽ không về nhà tối nay nữa, vì trời đã quá muộn, tôi liền chẳng chần chừ gì thêm, cởi luôn quần dài và ủng ra, rồi thổi tắt ngọn nến, trèo lên giường và phó thác bản thân cho sự che chở của trời cao.
Không tài nào biết được chiếc đệm ấy được nhồi bằng cùi ngô hay những mảnh sành vỡ nữa, nhưng tôi trằn trọc lăn qua lộn lại mãi mà không sao ngủ được trong một thời gian dài. Cuối cùng, tôi chìm dần vào một giấc ngủ màng màng và suýt nữa thì đặt chân được đến vùng đất của những giấc mơ, thì nghe thấy một tiếng bước chân nặng nề vang lên ở hành lang, và thấy một tia sáng hắt vào phòng từ khe cửa phía dưới.
Chúa phù hộ con, tôi thầm nghĩ, chắc chắn đó là tay phóng lao rồi, cái tên bán đầu quỷ quái đó. Nhưng tôi nằm im bất động, và tự nhủ sẽ không hé răng một lời nào cho đến khi hắn lên tiếng trước. Tay cầm một ngọn nến, tay kia cầm chính cái đầu người New Zealand đó, kẻ lạ mặt bước vào phòng, và chẳng thèm liếc nhìn về phía chiếc giường, hắn đặt ngọn nến cách xa tôi một quãng ở góc phòng, rồi bắt đầu cặm cụi mở những nút thắt của chiếc túi lớn mà tôi đã nhắc đến trước đó trong phòng. Tôi vô cùng khao khát muốn được nhìn thấy mặt hắn, nhưng hắn cứ quay mặt đi một lúc trong khi mải miết thắt mở miệng túi. Tuy nhiên, khi việc đó đã xong, hắn quay người lại—và trời đất ơi! một cảnh tượng thật kinh hoàng! Quả là một gương mặt! Nó mang một màu tím sẫm ngả vàng, chỗ này chỗ kia chằng chịt những ô vuông lớn trông như màu đen. Phải, đúng như tôi nghĩ, hắn là một tên bạn cùng giường khủng khiếp; hắn vừa đánh nhau trận giáp lá cà, bị thương tích đầy mình, và giờ hắn vừa từ phòng khám bác sĩ về đây. Nhưng đúng lúc đó, tình cờ hắn quay mặt về phía ánh sáng, khiến tôi nhìn rõ mồn một rằng những ô vuông màu đen trên má hắn tuyệt đối không phải là miếng dán vết thương nào cả. Chúng là những vết mực xăm nào đó. Thoạt đầu tôi chẳng hiểu ra sao cả; nhưng chẳng mấy chốc ý nghĩa thực sự của sự việc lóe lên trong đầu tôi. Tôi nhớ lại câu chuyện về một người da trắng—cũng là một thợ săn cá voi—khi lọt vào giữa đám người ăn thịt người, đã bị họ xăm trổ đầy mình. Tôi kết luận rằng tay phóng lao này, trong những chuyến hải trình xa xôi của mình, chắc hẳn cũng đã gặp phải một cuộc phiêu lưu tương tự. Và rốt cuộc thì có sao đâu, tôi thầm nghĩ! Đó chỉ là lớp da bên ngoài của hắn; con người ta có thể là một kẻ lương thiện trong bất kỳ lớp da nào. Nhưng rồi, phải đối phó thế nào với làn da siêu thực của hắn đây, ý tôi là phần da xung quanh, hoàn toàn không dính dáng gì đến những ô vuông xăm trổ kia. Chắc chắn rồi, nó có thể chẳng là gì ngoài một lớp rám nắng đặc trưng của vùng nhiệt đới; nhưng tôi chưa từng nghe nói ánh nắng mặt trời gay gắt nào có thể làm cho làn da của một người da trắng ngả sang màu vàng tím cả. Tuy nhiên, tôi chưa từng đặt chân đến các vùng biển phía nam; và có lẽ ánh nắng ở đó đã tạo ra những tác dụng kỳ lạ như vậy trên da. Giờ đây, trong khi tất cả những ý nghĩ ấy lướt qua tâm trí tôi nhanh như chớp, tay phóng lao này hoàn toàn không hề mảy may chú ý gì đến tôi. Hắn chật vật mãi mới mở được chiếc túi của mình ra, rồi bắt đầu lục lọi bên trong, và chẳng mấy chốc lôi ra một chiếc rìu chiến loại nhỏ và một chiếc ví bằng da hải cẩu còn nguyên lông. Đặt những thứ này lên chiếc rương cũ ở giữa phòng, hắn liền cầm lấy cái đầu người New Zealand—một thứ vô cùng rợn tóc gáy—và nhồi tống nhồi tháo nó vào trong túi. Giờ đây hắn cởi chiếc mũ ra—một chiếc mũ hải ly còn mới tinh—khiến tôi suýt nữa thì hét lên vì ngạc nhiên lần nữa. Trên đầu hắn chẳng có cọng tóc nào—ít nhất là không có cái nào đáng kể—chẳng có gì ngoài một búi tóc nhỏ được búi tít lên trán. Cái đầu hói màu tím sẫm của hắn lúc bấy giờ trông chẳng khác nào một chiếc đầu lâu bị mốc meo. Giả sử kẻ lạ mặt không đứng chặn ngay giữa tôi và cánh cửa, tôi đã chuồn ra ngoài nhanh hơn cả lúc tôi tống một bữa tối vào bụng.
Ngay cả như vậy, tôi cũng đã nghĩ đến việc trốn ra bằng cửa sổ, nhưng đây lại là tầng hai nhìn ra phía sau nhà. Tôi không phải là kẻ hèn nhát, nhưng phải đối phó thế nào với cái tên khốn da tím chuyên buôn đầu người này hoàn toàn vượt quá tầm hiểu biết của tôi. Sự vô minh là cội nguồn của nỗi sợ hãi, và hoàn toàn bối rối, ngỡ ngàng trước kẻ lạ mặt, tôi thú nhận rằng lúc đó tôi sợ hắn chẳng khác nào sợ chính quỷ sứ vừa đột nhập vào phòng tôi giữa đêm khuya thanh vắng. Thực ra, tôi sợ hắn đến mức lúc đó chẳng đủ gan dạ để cất lời bắt chuyện, đòi hắn đưa ra câu trả lời thỏa đáng về những điều có vẻ khó lý giải ở con người hắn.
Trong khi đó, hắn vẫn tiếp tục công việc cởi đồ, và cuối cùng để lộ phần ngực và cánh tay. Thật đáng đời tôi, những phần cơ thể được che đậy này cũng chằng chịt những ô vuông giống hệt như trên mặt; tấm lưng của hắn cũng phủ kín những ô vuông tối màu ấy; hắn trông như vừa trải qua một cuộc Chiến tranh Ba mươi năm và vừa trốn thoát khỏi đó với chiếc áo sơ mi toàn miếng dán vết thương. Hơn thế nữa, ngay cả đôi chân của hắn cũng vằn vện, cứ như thể một bầy ếch màu xanh đậm đang bò ngược lên thân những cây cọ non. Đến lúc này thì hoàn toàn rõ ràng rằng hắn chắc chắn phải là một tên dã nhân gớm ghiếc nào đó được thuê lên một con tàu săn cá voi ở vùng biển phía nam, rồi cứ thế trôi dạt đến đất nước theo đạo Thiên Chúa này. Tôi run lẩy bẩy khi nghĩ đến điều đó. Lại còn là một kẻ chuyên buôn đầu người nữa chứ—biết đâu lại là đầu của chính anh em ruột thịt hắn thì sao. Hắn mà nổi hứng lên chắc sẽ thích cái đầu của tôi mất—trời đất ơi! hãy nhìn chiếc rìu chiến kia kìa!
Nhưng chẳng còn thời gian đâu mà rùng mình nữa, bởi vì lúc này tên dã nhân lại bắt đầu làm một việc thu hút hoàn toàn sự chú ý của tôi, và thuyết phục tôi rằng hắn quả thực là một kẻ ngoại đạo. Đi đến chỗ chiếc áo khoác dày cộp hay áo choàng đi biển mà hắn vừa treo lên ghế trước đó, hắn lục lọi trong túi, và cuối cùng lôi ra một bức tượng nhỏ kỳ dị bị biến dạng có một cái bướu ở sau lưng, mang đúng màu da của một đứa trẻ Congo mới sinh ba ngày. Nhớ lại cái đầu được ướp xác lúc nãy, thoạt đầu tôi cứ tưởng bức tượng đen sì này là một đứa trẻ thực sự được bảo quản theo một cách tương tự nào đó. Nhưng nhìn thấy nó hoàn toàn cứng đơ không hề mềm mại, lại bóng loáng giống như gỗ mun được đánh bóng, tôi kết luận rằng nó chẳng qua chỉ là một bức tượng thần bằng gỗ, và quả thực đúng là như vậy. Bởi vì lúc này tên dã nhân tiến đến chỗ chiếc lò sưởi trống không, nhấc tấm chắn lò dán giấy ra, và dựng bức tượng nhỏ gù lưng này lên, trông giống như một con ki-ốt chơi bowling, nằm giữa hai thanh củi chắn lò. Các bức tường ống khói và toàn bộ gạch bên trong đều bám đầy muội than, khiến tôi nghĩ rằng chiếc lò sưởi này tạo thành một đền thờ hoặc nhà nguyện nhỏ vô cùng thích hợp cho bức tượng thần Congo của hắn.
Lúc này tôi trợn tròn mắt nhìn chằm chằm về phía bức tượng bị che khuất một nửa, trong lòng cảm thấy vô cùng bất an—để xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Đầu tiên hắn lấy ra khoảng hai nắm mùn cưa từ trong túi áo khoác dày, đặt chúng một cách cẩn thận trước bức tượng thần; sau đó đặt một mẩu bánh quy tàu lên trên cùng và châm ngọn lửa từ ngọn đèn, biến đống mùn cưa thành một ngọn lửa hiến tế. Ngay lập tức, sau nhiều lần với tay chộp nhanh vào đống lửa và những lần rút tay về còn nhanh hơn (nhờ đó mà có vẻ như ngón tay hắn đã bị cháy xém tơi bời), cuối cùng hắn cũng thành công trong việc kéo chiếc bánh quy ra; rồi thổi bay hơi nóng cùng tàn tro một chút, hắn lịch sự dâng nó cho vị thần đen nhỏ bé. Nhưng con quỷ nhỏ có vẻ chẳng mảy may thích thú gì với thứ thức ăn khô khốc ấy; nó chẳng hề cử động đôi môi. Tất cả những hành động kỳ quái này đi kèm với những âm thanh khò khè trong cổ họng thậm chí còn kỳ quái hơn từ phía kẻ sùng bái, kẻ có vẻ như đang cầu nguyện theo điệu ngâm nga hoặc hát một bài thánh ca ngoại đạo nào đó, trong lúc đó gương mặt hắn giật giật theo một cách vô cùng bất tự nhiên. Cuối cùng, dập tắt ngọn lửa, hắn nhấc bức tượng thần lên một cách chẳng có chút tôn trọng nào và nhét lại vào túi áo khoác dày cẩu thả như một tay thợ săn nhét con gà gỗ chết vào túi.
Tất cả những hành động kỳ quặc này càng làm tăng thêm sự khó chịu trong tôi, và thấy hắn lúc này đang biểu lộ những dấu hiệu rõ ràng sắp kết thúc các hoạt động kinh doanh của mình để nhảy lên giường ngủ cùng tôi, tôi nghĩ đã đến lúc muộn còn hơn không, ngay trước khi ngọn đèn bị tắt, phải phá vỡ bùa nguyền đã trói buộc tôi bấy lâu nay.
Nhưng khoảng thời gian tôi dành để đắn đo xem nên nói gì lại là một khoảng thời gian chết người. Cầm chiếc rìu chiến trên bàn lên, hắn săm soi phần đầu rìu trong chốc lát, rồi đưa nó lên ngọn đèn, ngậm phần cán vào miệng, hắn thổi ra từng đám khói thuốc lá dày đặc. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, ngọn đèn bị dập tắt, và tên dã nhân hoang dã này, ngậm chặt chiếc rìu chiến trong kẽ răng, lao thẳng lên giường ngủ với tôi. Tôi thét lên, tôi không sao kìm lại được nữa; và phát ra một tiếng gầm gừ ngạc nhiên đột ngột, hắn bắt đầu sờ soạng khắp người tôi.
Lắp bắp thốt lên vài câu, tôi chẳng biết mình đang nói gì nữa, lăn phắt ra xa hắn sát vào bức tường, rồi van xin hắn, bất kể hắn là ai hay là gì đi nữa, hãy giữ im lặng và để cho tôi đứng dậy thắp lại ngọn đèn. Nhưng những âm thanh khò khè phát ra từ cổ họng hắn lập tức làm tôi hiểu rằng hắn chẳng tài nào hiểu nổi ý nghĩa lời tôi nói.
“Mày là thằng quỷ nào?”—cuối cùng hắn lên tiếng—“mày không nói hả, tao thề là tao giết đấy.” Nói đoạn, chiếc rìu chiến đang bén lửa bắt đầu khua khoắng múa may xung quanh tôi trong bóng tối.
“Chúa ơi, chủ quán, Peter Coffin ơi!” tôi hét lên. “Chủ quán! Lính canh! Coffin! Các thiên thần! Cứu tôi với!”
“Nói mau! Khai ra mày là thằng nào, không thì tao giết!” tên ăn thịt người lại gầm lên, trong khi những động tác múa may gớm ghiếc bằng chiếc rìu chiến của hắn văng tung tóe tàn thuốc lá nóng bỏng quanh người tôi khiến tôi cứ nghĩ tấm vải lót áo của mình sắp bốc cháy đến nơi. Nhưng ơn Chúa, đúng lúc đó lão chủ quán bước vào phòng trên tay cầm ngọn đèn, và nhảy phắt khỏi giường tôi lao ngay đến chỗ hắn.
“Đừng sợ nữa,” hắn lại cười toe toét nói. “Queequeg đây sẽ không làm tổn thương dù chỉ một sợi tóc trên đầu anh đâu.”
“Thôi ngay cái điệu cười toe toét đó lại đi,” tôi quát lên, “và tại sao anh lại không nói cho tôi biết rằng cái tên phóng lao quỷ quái đó là một kẻ ăn thịt người cơ chứ?”
“Tôi tưởng anh biết rồi chứ;—chẳng phải tôi đã nói với anh là hắn đang đi bán dạo đầu người khắp thị trấn đó sao?—thế nhưng hãy quẫy đuôi ngủ tiếp đi nào. Queequeg, nhìn đây này—mày sabbee tao, tao sabbee mày—thằng này ngủ mày—mày sabbee chứ?”—
“Tao sabbee nhiều lắm”—Queequeg lầm bầm, nhả khói tẩu phì phèo và ngồimổm trên giường.
“Mày vào đi,” hắn nói thêm, ra hiệu cho tôi bằng chiếc rìu chiến và gạt chăn sang một bên. Hắn thực sự làm điều này không chỉ một cách lịch sự mà còn bằng một thái độ thực sự tử tế và rộng lượng. Tôi đứng ngẩn ra nhìn hắn một thoáng. Bất chấp những hình xăm trổ chi chít, nhìn chung hắn là một kẻ ăn thịt người sạch sẽ và có diện mạo ưa nhìn. Tất cả những điều ầm ĩ mà nãy giờ mình làm là vì cái gì cơ chứ, tôi tự nhủ—gã này cũng là một con người bằng xương bằng thịt giống như tôi: hắn có lý do để sợ tôi cũng nhiều như tôi có lý do để sợ hắn vậy. Thà ngủ với một tên ăn thịt người tỉnh táo còn hơn là ngủ với một tên theo đạo Thiên Chúa say xỉn.
“Này chủ quán,” tôi nói, “bảo hắn cất cái rìu chiến đó đi, hoặc cái tẩu, hay bất cứ thứ gì anh gọi nó đi; tóm lại là bảo hắn ngừng hút thuốc đi, rồi tôi sẽ leo lên giường ngủ chung với hắn. Nhưng tôi không thích có một kẻ đang phì phèo hút thuốc trên giường với mình đâu. Nguy hiểm lắm. Hơn nữa, tôi lại chưa mua bảo hiểm.”
Khi được truyền đạt lại điều này, Queequeg liền lập tức làm theo, và một lần nữa lịch sự ra hiệu cho tôi trèo lên giường—lăn sang một bên ngầm ra hiệu như muốn nói—tao không thèm đụng đến một cái chân của tụi bay đâu.
“Chúc ngủ ngon, chủ quán,” tôi nói, “anh có thể lui ra được rồi.”
Tôi leo lên giường, và chưa bao giờ trong đời tôi có một giấc ngủ ngon đến thế.