Trong cuốn tiểu sử nhà thơ Georges Perros[1], Jean-Marie Gibal thuật lại câu nói của một sinh viên ở Rennes nơi Perros từng giảng dạy:
“Ông ta (Perros) đến lớp lúc sáng thứ ba, tóc bù xù trong gió và lạnh, trên chiếc xe mô tô màu xanh da trời hoen gỉ. Gập người trong chiếc áo khoác lính thủy, tẩu trên môi hoặc trong tay. Ông đổ cả cái cặp ra bàn. Và đó là cuộc sống”.
Mười lăm năm sau, cô gái bị mê hoặc vẫn còn nhắc đi nhắc lại. Nụ cười ẩn giấu sau tách cà phê, cô suy nghĩ, chầm chậm nhớ lại những kỷ niệm, rồi:
- Ðúng thế, đó là cả cuộc sống: đến nửa tấn sách, tẩu thuốc, thuốc lá, một tờ France-Soir hoặc Equipe, chìa khóa, sổ sách, hóa đơn, chiếc bugi xe máy. Từ cái đống hổ lốn đó, ông lôi ra một cuốn sách, ông nhìn chúng tôi, nụ cười trên môi khiến chúng tôi thèm thuồng và ông đọc. Ông vừa bước chầm chậm vừa đọc, một tay trong túi, tay kia cầm sách, hơi hướng về phía chúng tôi, như thể, ông vừa đọc vừa tặng nó cho lũ học trò. Những cuốn sách của ông đều là những món quà. Và ông chẳng đòi đổi lấy cái gì. Khi một ai đó tâm hồn bay bổng, ông dừng đọc một giây, nhìn con người mơ mộng kia và huýt gió. Không khiển trách, chỉ để kêu gọi sự trở về của một ý thức. Ông nhìn thấy tất cả. Ngay cả khi đắm chìm trong tác phẩm ông vẫn nhìn thấy lũ học trò qua từng dòng chữ. Ông có giọng đọc rõ và đầy, với những âm nhẹ, vừa đủ lấp kín không gian một phòng học, cũng như một giảng đường, một nhà hát, quảng trường Mars mà không bao giờ để từ này che lấp từ kia. Ông hiểu rất rõ không gian cũng như khối óc lũ học trò. Ông là hiện thân của sách, sách làm nên con người. Nhờ vào giọng đọc của ông, chúng tôi bỗng khám phá ra những tác phẩm được viết cho chúng tôi. Một khám phá sau bao năm học đường mà mỗi giờ văn học lại khiến chúng tôi một xa những quyển sách đáng kính. Vậy ông đã làm gì hơn các giáo viên khác? Chẳng làm gì hơn. Thậm chí, ở một vài khía cạnh, ông còn làm ít hơn nhiều. Chỉ có điều, ông không mang đến cho chúng tôi văn học bằng những giọt nhỏ xíu của sự phân tích, ông phục vụ chúng tôi những cốc tràn đầy… Và chúng tôi hiểu hết những gì ông đọc. Chúng tôi nghe thấy hết. Chẳng có lời giải thích nào rõ ràng hơn giọng đọc của ông mỗi khi ông đi trước ý định của tác giả, mở ra cánh cửa cho những ẩn ý, cởi bỏ tấm màn che giấu những ám chỉ… với ông, không thể nào hiểu sai tác phẩm. Không thể nào tưởng tượng được, sau khi nghe ông đọc Hai lần không chung thủy, lại có thể tiếp tục giễu cợt “lời tình tứ kiểu cách” và khoác lên những nhân vật của vở kịch phẫu tích kia những trang phục màu hồng. Giọng đọc chuẩn xác của ông đưa chúng tôi vào một căn phòng thí nghiệm, sự sáng suốt trong mỗi câu chuyện ông kể mời chúng ta vào một cuộc giải phẫu. Nhưng cũng không vì thế mà ông thêm thắt hay biến Marivaux thành một kẻ chầu chực của Sade. Tóm lại, suốt thời gian ông đọc, chúng tôi có cảm giác nhìn thấy rõ hơn bao giờ trí óc Arlequin và Silvia, như thể bản thân chúng tôi là phụ tá trong những cuộc giải phẫu.
Ông có một giờ mỗi tuần ở lớp tôi. Và giờ học đó chẳng khác gì cái túi dết của ông: đủ thứ lỉnh kỉnh như một cuộc chuyển nhà. Khi ông rời chúng tôi vào cuối năm học, tôi nhẩm tính: Shakespeare, Proust, Kafka, Vialatte, Strindberg, Kierkegaard, Molière, Beckett, Marivaux, Valery, Huysmans, Rilke, Bataille, Gracq, Hardellet, Cervantès, Laclos, Cioran, Tchekhov, Henri Thomas, Butor… tôi kể ra như vậy và cũng quên nhiều như vậy. Trong mười năm qua, tôi chẳng được nghe một phần mười chỗ đó!
Ông kể và đọc cho chúng tôi mọi thứ, vì theo ông đầu óc của chúng tôi đâu phải là những thư viện. Hoàn toàn không xấu chơi. Ông coi chúng tôi như những đứa học trò ngu dốt và có quyền được hiểu biết. Chẳng bao giờ ông nói về di sản văn hóa, về những bí mật thiêng liêng trên trời; với ông, những tác phẩm chẳng từ trên trời rơi xuống, ông nhặt chúng từ mặt đất và tặng cho chúng tôi cùng đọc. Tất cả đều ở quanh chúng tôi, tràn đầy nhựa sống. Tôi còn nhớ lúc ông nói về những cây đại thụ, mà hầu hết các giáo viên văn đều đã nói đến, những tác giả chúng tôi không bao giờ dám nghĩ là biết rõ về họ: La Fontaine, Molière… Trong vòng một giờ, họ chẳng còn cái vẻ thiên tính mà trở nên thân thiết và bí ẩn nói cách khác là không thể thiếu được. Perros làm các tác giả sống lại. Hãy đứng lên và bước đi: từ Apollinaire đến Zola, từ Brecht đến Wilde, tất cả đều sống động trong lớp học của chúng tôi như thể họ tới từ quán cà phê của Michou phía bên kia đường. Cái quán mà thỉnh thoảng thầy đưa chúng tôi ra làm hiệp hai. Ông không đóng vai trò người thầy-người bạn, ông không như vậy. Ông chỉ tiếp tục cái “giờ học cho những kẻ ngu dốt”. Với ông, văn hóa không còn là một thứ tôn giáo Quốc gia và quán bar cũng trở thành một diễn đàn chẳng kém gì bục giảng. Bản thân chúng tôi khi nghe ông, chúng tôi không muốn là người theo giáo và mặc lên mình thứ trang phục của kiến thức. Chúng tôi chỉ muốn đọc, chỉ thế thôi… Khi ông vừa ngừng đọc chúng tôi vét sạch các hiệu sách ở Rennes và Quimper. Quả thật, càng đọc chúng tôi càng thấy dốt nát, cảm thấy cô độc trước cuộc bãi công của sự ngu dốt, và đối diện với biển. Chỉ có điều, với thầy, chúng tôi không còn sợ bị ướt. Chúng tôi chìm ngập trong sách, không mất thời gian làm quen. Tôi không biết bao nhiêu người trong lớp chúng tôi nay là giáo viên… chắc là không nhiều, và có thể thật đáng tiếc, vì trong không nhiều thời gian, thầy để lại cho chúng tôi ham muốn được truyền đạt những gì mình biết. Nhưng truyền đạt không điều kiện. Thầy không quá coi trọng giảng dạy, thầy mơ ước về một trường đại học lưu động:
- Nếu chúng ta có thể du lịch một chút… nếu chúng ta đi gặp Goethe ở Weimar, đọ Chúa trời với cha Kierkegaard, trải qua Những đêm trắng với Viễn cảnh Nevski…
❀ ❀ ❀
[1] Nhà xuất bản Plon.