Vào lúc rạng đông, Amaia bắt đầu tìm kiếm ngôi nhà hắc ám đó. Bữa sáng chỉ là một tách cà phê, chị vừa đứng dựa vào bàn bếp mà uống, vừa chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ, bầu trời Baztán chưa có dấu hiệu gì của buổi bình minh.
Amaia lái xe theo đường trục từ Elizondo tới Oronoz-Mugaire, rẽ vào Orabidea. Đây là một trong những khu vực hẻo lánh nhất của thung lũng, nơi thời gian dường như đứng yên, những cánh đồng, các ngôi nhà nông trại được giữ gìn nguyên vẹn, vẻ quyến rũ và sức mạnh của nơi này vừa gay gắt vừa ấn tượng. Các ngôi nhà nông trại cách nhau vài cây số, một vài nhà vẫn chưa có điện. Mùa xuân năm ngoái, James đã thuyết phục chị đến thăm Infernuko Errota, hoặc Cối xay Địa ngục, một trong những địa điểm hấp dẫn nhất, độc nhất vô nhị ở Baztán. Đi theo chính con đường ấy thêm mười lăm cây số, một đường mòn từ Etxebertzeko Borda tới cái cối xay ẩn giữa đám cây. Chỉ có thể đi bộ hoặc cưỡi lừa tới đó, vì thế nhiều người phải khởi hành từ ban đêm. Cối xay Địa ngục được xây dựng trong thời Chiến tranh Carlist[1], là địa điểm sống còn cho binh lính bỏ trốn tới vùng đồi núi trong những cuộc xung đột. Nó là một công trình kiến trúc hiện đại đứng thẳng trên ngọn của ba thân cây bắc qua sông. Cư dân Baztán đến đó, các con la chở những bao ngũ cốc để họ xay trong bóng tối, cung cấp bột cho gia đình. Theo con đường mòn trơn trượt có vẻ đẹp quê mùa trong đêm Baztán mịt mùng, họ dắt la theo vệt đường mòn đầy nguy hiểm ven sông, chắc hẳn họ cảm thấy thực sự như đi xuống địa ngục. Vì thế mới có tên đó. Người dân Baztán luôn tìm ra cách làm việc họ cần làm.
Nơi khác duy nhất Amaia biết dọc con đường đó là khu vực săn bắn ở ngoại vi Bagordi. Chị tắt vệ tinh hoa tiêu, nên cứ vài giây lại phải tính vị trí vì mất tín hiệu. Chị lái xe lên đồi, thỉnh thoảng dừng lại xem bản đồ địa hình mở sẵn trên ghế bên cạnh. Những chỉ dẫn mơ hồ của Elena không xác định rõ ngôi nhà ở một khu vực hay trong một thung lũng, chỉ biết xung quanh là một đồng cỏ rộng mênh mông, trong vùng chỉ có một cánh đồng loại đó. Amaia quyết định kiểm tra tất cả các ngôi nhà nông trại, kể cả những nơi không khớp với miêu tả, bao gồm những túp lều nhỏ xíu của người chăn cừu, trong nhiều năm gần đầy đã biến thành nơi trú ngụ song vẫn không có trên bản đồ. Chị vẫy chào mấy nông dân đi ra gặp chị ở cuối những con đường không thể vượt qua, giả vờ đang bị lạc hoặc tình cờ đi khỏi đường trục, phớt lờ những nụ cười chế giễu của họ và bầy chó chăn cừu sủa dai dẳng, điên cuồng chạy theo xe chị.
Khoảng mười giờ sáng, Amaia đỗ lại co duỗi chân tay, xóa trên bản đồ những chỗ chị đã loại trừ. Chị mang theo ít cà phê trong cái phích cũ của bà Engrasi, chị nhớ nó đã có từ khi chị còn bé. Chị vặn nắp dùng làm cốc, uống những ngụm nhỏ lúc dựa vào cốp xe, thích thú ngắm cảnh. Chị rùng mình vì cà phê ngọt ngào, nóng ấm đưa chị trở lại hồi ức của giấc mơ. Những nỗi kinh hoàng ban đêm hay một lời cảnh báo rõ ràng mà chị đã liều bỏ qua? Đặc vụ Dupree gọi nó là gì nhỉ? Nó cho biết bộ não xử lý khác nhau, những điều đến với chị trong mơ hoặc chỉ vì chị gặp một cơn ác mộng, hồi nhớ lại nỗi sợ hiển nhiên chị đã trải qua trong thời thơ ấu? Theo bản năng, chị rút điện thoại mặc dù thừa biết chị và Dupree chỉ nói chuyện vào lúc đêm khuya. Liếc nhìn màn hình thấy không có tín hiệu, chị lại đút nó vào túi, ngẫm nghĩ suốt buổi sáng nay không nhận được cuộc điện thoại nào.
“Thiên nhiên là người che chở chúng ta”, chị lẩm bẩm và thán phục chiêm ngưỡng sự huy hoàng của những cái cây cao vút ở bên kia đường, tạo thành một hàng rào tự nhiên chắn ánh sáng. Bất chợt nhận ra sức mạnh tuyệt đối của rừng sâu, Amaia thấm thía khi xuyên qua cây cối, con đường giống như một cái mương, còn sinh lực của những quả đồi tràn đầy như một dòng sông vô hình.
Chị không cần hỏi Dupree để biết anh sẽ nói gì. Là một sĩ quan cảnh sát, một thám tử lành nghề, chị biết khi còi báo động đã tắt, ta không cần phải bịt tai nữa. Gần đây chị bắt đầu hiểu sự hợp lý và phi lý, những phương pháp kiểm soát hiện đại và truyền thống cổ xưa, phương pháp phân tích tỉ mỉ và trực giác đơn thuần là phần hợp thành trong cùng một thế giới, kết hợp hai cách tiếp cận thực tế là việc cần thiết cho người điều tra. Flora có thể thu xếp đủ thứ cho tang lễ như chị ấy muốn; Amaia biết, mặc dù không thể chứng minh rằng linh hồn mẹ mình vẫn sống trong thể xác của bà, và sự đe dọa lơ lửng trên đầu từ khi chị còn bé vẫn có thực như trước đây. Lời truyền đạt của Berasategui đã khẳng định điều đó. Chị cảm thấy nó trong lòng, trên da, trong tim và trong trí, nó vẫn tiếp tục truyền những lời nhắn kinh hoàng trong giấc ngủ của chị.
Amaia nhớ ấn tượng về giấc mơ đã lưu lại với chị vài phút ra sao. Chân tay chị đau nhức khi thức dậy là thật, cũng như nỗi lo nằm đó mà không sao nhúc nhích nổi, kể cả mùi của Rosario trên da chị, khiến chị phải chà xát bằng xà phòng và nước nóng. Amaia uống một ngụm cà phê nữa, chị nôn khan lúc vị đắng gợi đến mùi của mẹ chị. Chị hắt phần còn lại vào bụi cây, tự hỏi lúc nhớ lại lời giải thích của Sarasola về Inguma, liệu những cơn ác mộng có thể giết chết mình thực sự không. Liệu quỷ dữ trú ngụ trong lòng họ có đủ mạnh để đập tan rào chắn mỏng manh giữa hai cõi và lùng bắt con mồi của chúng không. Chuyện gì xảy ra nếu chị không tỉnh giấc? Cảm giác của chị trong những cơn ác mộng đó sinh động như thật vậy. Giống người H’mong, khi mẹ chị xuất hiện, chị biết mình đang ngủ và lúc mở mắt chị có thể trông thấy bà, ngửi thấy bà, thậm chí còn cảm thấy tóc bà quệt vào mặt mình. Chị có thể cảm nhận thêm bao nhiêu? Chị có cảm thấy sự đụng chạm của Rosario không? Đôi môi khô khốc của bà, cái lưỡi ướt át của bà liếm láp mặt chị, thèm khát máu chị? Chị có cảm thấy miệng mẹ ở sát môi mình, ăn cắp hơi thở của mình không? Liệu Rosario trong ác mộng của chị đã hút mất sự sống khỏi người chị giống như Inguma trong truyền thuyết?
Liếc nhìn, chị thoáng thấy một chuyển động bên trái, giữa những tầng cây thấp dày đặc. Ngước nhìn những ngọn cây đứng yên, chị biết không phải là gió song căng mắt hết cỡ, chị cũng không thấy gì dưới tán cây tối tăm. Lúc mở cốp xe để cất cái phích, chị thấy nó lần nữa. Dù là gì đi nữa, nó đủ cao để các cành ngang ngực sột soạt. Đóng cốp xe, Amaia tiến thẳng tới bìa rừng. Chị đứng lại, chết trân khi thoáng thấy một cái bóng kéo dài nấp sau một thân cây to. Có lẽ đây là thứ đã làm sột soạt các cành nhỏ tàn héo trong bóng cây cao chót vót.
Chị vẫn đứng im, nhận biết cơn run từ chân đã lan khắp toàn thân. Theo bản năng, bàn tay chị với khẩu súng ở thắt lưng, song chị tự nhắc không được rút nó ra. Kẻ quan sát vẫn nấp sau thân cây. Mong nhử nó ra, chị lùi lại, cúi đầu và nhìn chăm chú xuống đất.
Hiệu quả ngay lập tức. Chị cảm thấy cái nhìn của kẻ theo dõi xoáy vào chị: một cái nhìn chòng chọc, tàn bạo, hung dữ, vô hồn xuyên qua chị như một phát đạn xuyên tim. Giật mình vì sự hiện diện thù địch, chị lùi lại và suýt ngã. Trấn tĩnh lại, chị nhìn khắp tầng cây thấp đúng lúc kẻ theo dõi thoát khỏi tầm nhìn. Chị thọc tay vào túi chiếc áo Puffa và lướt ngón tay lên khẩu Glock cho chắc, rồi ngay lập tức tự trách mình. Chị hít một hơi sâu, nhắc bản thân giữ bình tĩnh. Chị cần thấy nó lần nữa, nóng lòng mong nó có mặt đến mức tim đau nhói, cảm thấy sự gần gũi của nó song thất vọng sâu sắc vì thế vẫn là xa, vì chị không thể giãi bày nhu cầu của mình, thậm chí lấy lại cảm giác an toàn nó đem lại cho chị, thứ mà chị vô cùng khao khát. Chị bước vào khoảng cách có thể động chạm của các cây ven đường. Bỗng nhiên, chị nhận ra sự tĩnh lặng bao trùm cả cánh rừng. Tiếng chim líu lo, tiếng vỗ cánh, thậm chí tiếng xào xạc của cây cối cũng bặt hẳn, dường như bản thân Thiên nhiên đang hồi hộp đợi. Tiến thêm một bước, Amaia thấy cái bóng bắt đẩu từ tốn nhô ra từ nơi ẩn nấp. Chị cảm thấy nỗi kinh hoàng tăng không ngừng khi nghe thấy một tiếng huýt lảnh lót của vệ sĩ rừng xanh vang lên đằng sau, ở bên kia con đường: basajaun, người bảo vệ mà chị nóng lòng muốn có mặt đang cảnh báo chị gặp nguy hiểm. Lúc Amaia rút súng, cái bóng mà chị lầm tưởng là người che chở đã biến vào bóng tối.
Amaia chạy về xe và nổ máy, những hòn đá cuội ở lề đường bắn tung tóe lúc chị lái hết tốc lực. Ngay khi tới trang trại tiếp theo, chị đỗ lại. Bàn tay chị vẫn run. “Nó là con lợn lòi hoang. Phải, một con lợn lòi hoang, và tiếng huýt trong rừng chỉ là của người chăn cừu gọi chó”. Chị chỉnh lại gương chiếu hậu để soi; cái nhìn của người phụ nữ đang trừng trừng nhìn lại chị không hề bị những lời giải thích ấy thuyết phục chút nào.
Amaia dành hết buổi sáng kiểm tra các con đường, đường làng và đường mòn. Quá trưa một chút, khi lái qua một ngôi nhà chị đã loại trừ, chị nhìn thấy bãi cỏ. Một khoảng rộng mênh mông cỏ xanh tươi, kéo dài từ hai bên sườn và đằng sau một ngôi nhà không quá mười năm tuổi. Ngôi nhà một mái có đầu hồi màu đỏ, đằng trước có nhiều cửa sổ lớn, một cái bàn bằng gỗ phủ vật liệu không thấm nước rộng đủ mười người ngồi, và một lò nướng trông hiện đại. Nhìn thấy nó từ chỗ rẽ trên đường, chị nhận ra vì sao mình không chú ý đến nó cho đến lúc này. Mặc dù ngôi nhà ở giữa bãi cỏ, toàn bộ phần đằng trước ẩn sau một lối đi cày mọc um tùm. Amaia phát hiện ra hộp thư bằng kim loại màu xanh ẩn trong tán lá, giữa lối đi. Lái xe xuống đường chính, chị tạt vào lề đường và trông thấy lối đi và hàng rào đằng sau gắn liền với ngôi nhà. Chị bước theo lối đi đến hộp thư, và đọc cái tên: Martínez-Bayón. Chị đi tiếp rồi rẽ trái. Đến đó, chị khám phá ra một hàng rào phủ kín cây leo, đằng sau nó là một cổng vào hiện đại có mái, một hệ thống video-điện thoại nội bộ và tấm biển của công ty an ninh sáng bóng đến phi lý trên xà ngang, khắc tên Argi Beltz rất gọn. Chị thấy một ga ra cách vài mét về phía trước.
“Argi Beltz”, chị lẩm bẩm. Ánh sáng đen. Nó là một ngôi nhà đen, lời nói của Elena Ochoa vang lên trong đầu chị. Amaia bước tới lối vào, đứng trước camera và nhấn chuông. Chị đợi, nhấn lần nữa, rồi lần thứ ba; đúng lúc chị định bỏ đi thì nghe thấy tiếng lách tách trong điện thoại nội bộ, mặc dù đèn không sáng chứng tỏ người nhận đã nhấc máy. Amaia cảm thấy mình bị theo dõi, chị thấy tức giận hơn là bất an. Trở lại xe, chị lái lên đồi tới chỗ rẽ trên đường, từ đó có thể trông thấy toàn bộ cơ ngơi. Đầy phải là ngôi nhà ấy; theo Elena, nó là ngôi nhà duy nhất trong vùng có bãi cỏ lớn vây quanh, song ngôi nhà không giống với miêu tả. Ba mươi năm đã trôi qua từ khi Elena trông thấy nó lần cuối. Người chủ mới có thể xây dựng lại trên nền ngôi nhà cũ hoặc làm đến nơi đến chốn, san bằng nó đi nên đây không phải là ngôi nhà chị đang tìm. Amaia lái xe chầm chậm, ghi nhớ từng chi tiết cho đến nửa dặm sau, ngắm nghía kỹ càng phong cảnh và hình dáng không nhầm lẫn của hai đống cỏ khô gọn gàng, cho biết là ngôi nhà nông trại tiếp theo. Một tấm biển gỗ mang tên Lau Haizeta (Bốn ngọn gió). Amaia lái tới, đỗ lại ngắm cây thập giá đồ sộ bằng đá ở lối vào. Chị không lấy làm lạ: nhiều ngôi nhà và nông trại ở Baztán dựng thập giá bằng đá bên ngoài để bảo vệ, một số cái lớn hơn người. Ở Arizkun, hầu như mỗi ngôi nhà, chuồng ngựa, chuồng gà đều có một eguzkilore, hay là cây kế bạc cũng để bảo vệ các ngôi nhà nông trại. Thứ làm chị ngạc nhiên là đếm được sáu cây thập giá lúc lái tới cửa trước, và bốn con chó im lặng chạy cạnh xe. Ngay lập tức chị hiểu lý do. Chủ nhân ngôi nhà, một người phụ nữ nghiêm khắc đang đứng ở cửa tầng trệt. Bà ta đợi Amaia xuống xe rồi mới tới gần, có lẽ để nhìn chị rõ hơn.
– Xin chào, - bà ta nói tiếng Tây Ban Nha.
– Egun on, andrea, - Amaia chào bà bằng tiếng Basque, nhận thấy mặt người phụ nữ giãn hẳn ra khi nghe thấy giọng Baztán. - Tôi không biết bà có thể giúp tôi không?
– Tất nhiên rồi, cô cần chỉ đường à?
– Vâng, thực ra, tôi đang tìm một ngôi nhà. Tôi tưởng nó là ngôi nhà nông trại cạnh đây, song nó không khớp với người ta miêu tả. Ngôi nhà tôi tìm cũ rồi, còn ngôi nhà kia tương đối mới, vì thế chắc tôi nhầm.
Lúc lắng nghe, vẻ mặt người đàn bà rắn hẳn lại.
– Tôi không biết gì về bất cứ nhà nào, xin mời đi cho, - bà ta rít lên.
Amaia giật mình vì sự thay đổi đột ngột của bà ta; vừa mới đây bà ta sốt sắng muốn giúp, nhưng bây giờ, vừa nghe nhắc đến ngôi nhà đó, bà ta liền tống khứ chị. Chị thường cố tránh lộ danh tính là sĩ quan cảnh sát khi đang làm nhiệm vụ thu thập thông tin; một số người trở nên cảnh giác khi trông thấy phù hiệu mặc dù họ chẳng có gì phải giấu giếm. Lần này, chị không có lựa chọn. Dò dẫm trong túi áo Puffa, chị rút thẻ căn cước ra.
Hiệu quả ngay tức thì: người đàn bà thư thái hẳn, gật đầu chấp thuận và nói:
– Cô đang điều tra những người ấy à?
Amaia ngẫm nghĩ. Chị đang điều tra họ ư? Phải, đúng thế, khỉ thật. Nếu họ liên kết với mẹ chị ở bất cứ phương diện nào, chị sẽ điều tra họ đến nơi đến chốn.
– Phải, - chị đáp.
– Cô có muốn uống cà phê không? - Bà ta hỏi và dẫn chị vào bếp. - Nó là căn nhà mới, - bà ta nói thêm và vặn bình pha cà phê nhỏ của Ý.
Bà đặt khay bánh quy trước mặt Amaia, để chị một mình trong bếp trong lúc bà lên gác. Lát sau bà trở lại, mang theo cái hộp đựng ca cao cũ và để xuống bàn. Sau khi rót cà phê, bà mở hộp ca cao đựng nhiều tấm ảnh. Bà ta lục lọi đến khi thấy bức ảnh bà đang tìm.
– Ảnh này chụp năm mươi năm trước, khi cha mẹ tôi xây lại ống khói bị sét đánh. Chụp từ mái nhà. Cô có thể thấy ngôi nhà cô đang tìm ở đằng sau. Lẽ tất nhiên bây giờ trông nó khác hẳn, nhưng tôi cam đoan chính là ngôi nhà ấy.
Bà đưa cho Amaia bức ảnh đen-trắng. Cận cảnh là một người đàn ông mặc bộ quần áo lao động, đội mũ bê rê ngồi trên mái nhà, cạnh một ống khói khổng lồ. Đằng sau ông ta là một ngôi nhà nông trại cũ, tường màu nâu và mái đen ở giữa bãi cỏ đúng như Elena Ochoa tả.
– Tôi nghĩ có lẽ là nó.
– Tôi biết là nó, - người phụ nữ nói.
– Tại sao bà tin chắc vậy?
– Vì những người từng vào ngôi nhà ấy chẳng có gì tốt đẹp, toàn người xa lạ và xấu xa. Nhưng họ không làm tôi sợ. Đây là đất của tôi, ở đây tôi được bảo vệ. - Amaia nhớ tới những cây thập giá bằng đá to, giống như lính canh lối vào. - Hãy nhớ lời tôi nói, nhiều việc xấu xa đã diễn ra trong ngôi nhà đó. Tôi chưa bao giờ biết chủ nhân đầu tiên của nó. Khi tôi ra đời, nhà ấy đã để trống nhiều năm, nhưng amatxi của tôi kể rằng nó thuộc về hai anh trai và một em gái. Mẹ họ chết trẻ, cha họ đau khổ đến mất trí. Hồi đó có phong tục giam giữ người thân trên tầng áp mái. Hai người anh là những kẻ vũ phu tàn bạo, họ đối xử với em gái như nô lệ và không cho cô lấy chồng. Hình như cô ấy gặp một người đàn ông, một tay buôn ngựa và họ yêu nhau. Ngày người đó đến nhà để đón cô gái, một người anh ra đón. “Nó kia kìa”, - hắn cười nhăn nhở và chỉ vào một cái thùng. Khi người đàn ông mở nắp, anh ta thấy người mình yêu bị chặt ra thành nhiều mảnh. Hai người anh trai tấn công anh ta, nhưng người buôn ngựa biết cách tự vệ, anh ta đâm một người rồi bỏ chạy. Amatxi kể với tôi rằng khi Guardia Civil tới, một người anh chảy máu đến chết còn người kia treo cổ lên xà nhà. Cô hình dung cảnh tượng xem: em gái bị chặt thành nhiều mảnh, một người anh trong vũng máu còn người kia mặt tím bầm và sưng húp, đu đưa trên xà. Nhưng đó chưa phải là điều tệ nhất. Người ta tìm thấy xác ướp của người cha bị xích vào cái giường trên tầng áp mái. Nhà cầm quyền đóng cửa ngôi nhà ấy, và nó bị bỏ hoang suốt bảy chục năm. Dân chúng quanh đây thường nói hồn ma của những kẻ đó ám ảnh nó, - bà ta rùng mình, kể.
Amaia thầm ghi nhớ ngày tháng để sau này kiểm tra lại.
– Rồi đến những năm 1970, dân hippy dọn đến. Họ không hẳn là hippy, nhưng tất cả sống cùng nhau, trai gái lẫn lộn khoảng hai chục người, không kể khách khứa đến rồi đi, một số người già hơn nhiều. Họ tổ chức những cuộc họp văn hóa, những buổi gọi hồn, đại loại thế. Thỉnh thoảng, tôi gặp họ trên đường và họ mời tôi tham dự. Tôi luôn từ chối. Hồi ấy tôi là một người mẹ trẻ có bốn đứa con. Tôi không có thời gian cho những chuyện vô bổ ấy. Hiện giờ ngôi nhà trông chẳng giống xưa tí nào, - bà ta nói và chỉ vào tấm ảnh. - Mặc dù nó xây cuối cùng, nhưng bỏ trống từng ấy năm nên bị thiệt hại nhiều. Ngôi nhà dột nát, xiêu vẹo. Họ có một mảnh vườn trồng rau, nuôi ít gà, cừu và lợn, chúng tự do lang thang, lăn lộn trong đống bẩn tưởi.
Chắc là trong khoảng thời gian ấy, có một cặp mới tới sống ở đó. Tôi không gọi họ là vợ chồng vì tôi không nghĩ là họ đã kết hôn. Họ không phải tín đồ Công giáo, và chưa bao giờ đi lễ mi xa. Họ có một đứa con gái nhỏ, tôi chưa bao giờ biết tên cô bé. Bé bị chết vì xuất huyết não khi chưa đầy một tuổi. Tôi còn nhớ hồi ấy tôi đã hỏi linh mục bao giờ tổ chức tang lễ, và cha bảo cô bé chưa được rửa tội. Tôi hiểu ai cũng có thể bị xuất huyết não, bệnh ấy có thể xảy ra với bất cứ người nào, nhưng tôi phải nói với cô rằng đứa trẻ bị bỏ mặc. Một hôm, vừa lẫm chẫm biết đi, bé đã xuất hiện ở đây. Bé lê từng bước, một mình băng qua cánh đồng, chắc là bị những giọng nói của các con tôi thu hút lúc chơi đùa bên ngoài. Con gái lớn nhất của tôi trông thấy bé, bèn bế nó lên và rửa mặt, rửa tay lấm bùn cho nó. Tã lót của bé vấy bẩn, quần áo thì dơ dáy. Tôi đã làm bánh nướng cho các con uống trà, và con gái tôi quyết định cho bé gái một cái. Tôi đang nuôi bốn đứa con, thanh tra ạ, và bé gái ấy không chỉ đói mà là đói rã ruột. Nó vồ lấy bánh và ăn ngấu nghiến, đến mức tôi sợ bé bị nghẹn, và chúng tôi ngâm bánh trong sữa cho mềm. Con gái tôi thử bón cho bé, nhưng con bé thọc cả bàn tay vào bát, nhét từng miếng vào miệng. Tôi chưa bao giờ thấy một đứa trẻ ăn uống như thế, thật kinh ngạc.
Tôi đi xuống đường báo với bố mẹ bé là bé đang an toàn ở nhà tôi, vì thấy họ cuống cuồng đi tìm con. Một phản ứng hoàn toàn thông thường với bất kỳ bố mẹ nào, ngoài việc sự quan tâm của họ thật kỳ quặc vì rõ ràng họ đã bỏ mặc con bé. Hồi đó chưa có những thứ như dịch vụ xã hội, dân chúng phải tự xoay xở lấy, nhưng thỉnh thoảng tôi muốn làm thêm gì đó cho bé gái ấy. Từ ban công tầng trên, tôi có thể thấy một bên sườn ngôi nhà đó và cánh đồng thông thoáng. Tôi thường quan sát bé ở bên ngoài, chơi một mình trong đống rác rưởi, ăn mặc tả tơi. Tôi thu nhặt quần áo không dùng đến nữa của các con, dẹp sự ghê tởm của mình sang bên và mang chúng đi. Người bố ra mở cửa. Trong nhà có nhiều người đang cử hành một nghi lễ gì đó. Anh ta không mời tôi vào, và tôi cũng không muốn vào. Anh ta nói với tôi là bé gái đã chết. - Mắt người đàn bà đầy lệ. - Tôi về nhà và khóc suốt ba ngày. Tôi còn chưa biết tên cô bé, nhưng nghĩ đến bé là lòng tôi quặn đau. Một sinh linh khốn khổ, bị bỏ mặc, bị coi thường và đối xử tồi tệ từ khi chào đời. Thậm chí họ không tổ chức đám tang cho bé.
– Cặp ấy còn sống ở đó không?
– Còn. Không lâu sau đó, nhóm ấy giải tán, nhưng họ thì ở lại. Tôi hình dung chắc họ đã mua ngôi nhà. Họ có vẻ biết lo liệu cho mình đâu ra đấy; ngôi nhà được tân trang hoàn toàn, họ làm một khu vườn ở đằng trước và xây tường bao quanh cơ ngơi. Tôi không biết họ làm gì để sống, nhưng họ có cả một bộ sưu tập ô tô xa xỉ - BMW, Mercedes… Họ có nhiều khách khứa, ai cũng lái ô tô sang trọng, tôi đã thấy những xe ấy đỗ ngoài đường. Tôi không biết họ là ai, nhưng chắc chắn phải là người có tiền, thật không thể tin nổi khi tới đây lần đầu, họ là những kẻ lang thang không một xu dính túi.
– Những người đến thăm họ có ở quanh đây không? Họ có hòa đồng với dân địa phương không?
– Khách khứa của họ không ở gần đây, còn họ không giao thiệp với dân địa phương.
– Bà có biết lúc này họ có nhà không? Tôi đã gọi cửa nhưng không có ai trả lời.
– Tôi không biết, nhưng tìm ra cũng dễ thôi. Khi họ ở trong nhà, các cánh chớp thường đóng chặt, khi họ ra ngoài, cửa chớp mở toang.
Amaia nhếch lông mày, bối rối.
– Đúng thế thanh tra ạ, trái ngược với mọi người khác. Tôi đã nói với cô họ là những người lạ lùng. Đi với tôi, - bà ta nói, đứng dậy và dẫn Amaia tới cầu thang. Họ xuyên qua một phòng ngủ và ra ngoài một ban công rộng rãi, chạy suốt chiều dài ngôi nhà.
– Tôi ngu thật! - Bà ta nói và chỉ vào các cánh chớp ở tầng trệt đang mở toang, còn ở tầng thượng khép chặt. - Trước đây tôi chưa bao giờ thấy như thế.
Tường của ngôi nhà quét vôi trắng, các cửa sổ vốn rộng rãi, những bình phong bé xíu đã thay bởi cánh chớp bằng gỗ cứng. Từ ban công, Amaia nhìn rõ toàn bộ cơ ngơi, vườn bao quanh, chẳng hề giống trong tấm ảnh cũ.
Lúc Amaia cảm ơn bà và chuẩn bị rời đi, chị chỉ hai cái ảnh trên điện thoại của mình: một cái của bác sĩ Berasategui, cái kia của Rosario, mẹ chị.
– Tôi đã trông thấy chiếc ô tô đó đỗ ở ngoài đường vài lần. Tôi nhớ nó vì thẻ của bác sĩ gài ở kính chắn gió. Tôi không nhận ra người đàn bà.
Amaia vừa đỗ cạnh bức tường ngôi nhà lần nữa thì một chiếc BMW vượt qua, rẽ ngoặt vào đường dành cho xe được che giấu đằng sau hàng rào. Lao vọt khỏi xe, Amaia chạy theo chiếc ô tô, bắt kịp nó ở bên ngoài cổng tự động đang mở ra từ từ. Chị rút phù hiệu, giơ nó lên để người đàn ông và người đàn bà trong xe thấy, theo bản năng bàn tay rảnh của chị đưa lên khẩu Glock ở thắt lưng. Người lái xe hạ cửa, hốt hoảng:
– Có chuyện gì vậy, thưa cảnh sát?
– Không có gì. Xin mời tắt máy và ra khỏi xe. Tôi muốn hỏi ông vài câu.
Người đàn ông làm theo, còn người phụ nữ đi vòng quanh xe cho đến khi cả hai đứng trước mặt chị. Chắc họ trạc sáu mươi, nhưng phong thái trẻ trung. Người phụ nữ ăn vận thanh lịch, và trông như đi thẳng từ hiệu uốn tóc ra; người đàn ông mặc chiếc quần đúng mốt, sơ mi mở phanh cổ. Ông ta đeo đồng hồ Rolex, và Amaia không có lý gì ngờ là đồ giả.
– Chúng tôi có thể giúp gì không? - Người phụ nữ hỏi, vẻ thân thiện.
– Ông bà sở hữu ngôi nhà này?
– Phải.
– Tôi e rằng tôi mang đến tin xấu. Bạn của ông bà, bác sĩ Berasategui đã chết. - Chị xét nét bộ mặt họ; rõ ràng họ không ngạc nhiên; họ trao đổi một cái nhìn thật nhanh, dường như không biết có nên thừa nhận là quen biết anh ta không. Người đàn ông nói trước, giơ tay lên ra hiệu cho người phụ nữ im lặng. Ông ta nhìn thẳng vào Amaia, phán đoán nên nhấn mạnh phản ứng của mình đến đầu, lúc quyết định không phủ nhận.
– Kinh khủng quá! Chuyện xảy ra như thế nào ? Anh ta bị tai nạn sao, thưa cảnh sát?
– Thanh tra. Thanh tra Salazar, đội điều tra án mạng. Nguyên nhân tử vong chưa xác định, - chị nói dối. - Cuộc điều tra đang tiến hành. Ông bà có quan hệ như thế nào với người đã chết?
Sự kiềm chế ban đầu của người đàn ông biến mất. Ông ta bước tới và nói:
– Thứ lỗi cho tôi, thanh tra, cô vừa báo cho chúng tôi về cái chết của một người bạn. Chúng tôi vô cùng bối rối và cần có thời gian để thấm thía tin đó, - ông ta nói thêm, cười gượng cho thấy đúng là bối rối thật. - Quan hệ của chúng tôi với bác sĩ Berasategui là bí mật nghề nghiệp. Tôi đề nghị cô liên hệ với luật sư của tôi nếu cô cần hỏi thêm. - Ông ta đưa cho chị tấm danh thiếp mà người đàn bà vừa rút trong ví ra.
– Tôi hiểu. Xin chân thành chia buồn với ông bà, - Amaia đáp lại và cầm tấm thiếp. - Dù sao, tôi không tới đây để hỏi về bác sĩ Berasategui, đúng hơn là hỏi về người đàn bà này, - chị nói và giơ điện thoại ngang tầm mắt ông ta. - Bà ta có đi với bác sĩ không?
Người đàn ông liếc nhìn màn hình trong lúc người phụ nữ vừa nghiêng người vừa đeo kính.
– Không, - họ đồng thanh đáp lại.
– Trước kia chúng tôi chưa bao giờ trông thấy bà ta, - người đàn ông nói.
– Cảm ơn, ông bà đã giúp rất nhiều, - Amaia nói. Chị hạ điện thoại xuống, có vẻ muốn quay đi, nhưng lại tiến đến gần hơn ô tô của họ, nơi nhìn rõ ngôi nhà. - Tôi không biết ông bà có nhận thấy trong những năm gần đây, ở vùng này có nhiều vụ trẻ em đột tử. Chúng tôi đang xem xét mọi vụ đó trong thung lũng. Tôi biết chuyện này xảy ra từ trước đây lâu rồi, nhưng tôi hiểu con gái nhỏ của ông bà đã qua đời rất sớm. Tôi không tin nguyên nhân tử vong của cháu bé là hội chứng đột tử của trẻ em, dù là tình cờ?
Người đàn bà giật mình, hét lên lúc siết chặt cánh tay bạn tình. Cuối cùng lúc cất tiếng nói, mặt người đàn ông xám như tro.
– Con gái của chúng tôi chết vì xuất huyết não lúc mười bốn tháng tuổi, - ông ta nói sẵng.
-Tên cô bé là gì?
– Tên nó là Ainara.
– Bé chôn ở đâu?
– Con gái tôi chết trong một chuyến đi tới Anh, thưa thanh tra. Hồi ấy chúng tôi không có nhiều tiền và không thể trang trải bảo hiểm di chuyển. Chúng tôi chôn nó ở bên ấy. Đây là một việc quá đau đớn với vợ tôi, vì thế xin cô đừng hỏi gặng.
– Rất tốt, - Amaia nói. - Còn một việc nữa: trước khi ông bà về, tôi đã bấm chuông. Không có ai trả lời, nhưng tôi có cảm tưởng có người trong nhà.
– Không có ai trong nhà hết! - Người đàn bà quát to.
– Bà chắc chứ?
– Vào xe! - Người đàn ông ra lệnh cho người phụ nữ đang run rẩy. - Còn cô, hãy để chúng tôi được yên. Tôi nói với cô rồi, nếu cô cần hỏi gì thêm, hãy nói với luật sư của chúng tôi.
❀ ❀ ❀
[1] Carlist: Người ủng hộ Carlo cũng như con cháu ông ta vào thế kỷ XIX ở Tây Ban Nha.