Mặc dù các cặp vợ chồng họ đang tìm kiếm đã chuyển nhà trong vài năm gần đây, song họ tìm ra không khó khăn gì: hai cặp vẫn ở nguyên làng đó, - một ở Lekaroz, một ở Arraioz - còn cặp thứ ba từ Elbete chuyển tới Pamplona. Gió thổi ở Elizondo liên hồi suốt đêm sẽ tránh cho thung lũng khỏi mưa hôm ấy, trong khi ở Pamplona trời mưa dữ dội, mặc dù công tác chuẩn bị đối phó với các trận mưa như trút của thành phố đã tốt hơn, song sáng hôm ấy nó không thể hút thêm giọt nào nữa. Những vũng nước lớn quanh các cống rãnh sâu bị tắc nghẽn vì mưa to, những giọt mưa to, nặng, bắn khỏi vũng trông như mưa ngược, nước vọt lên từ mặt đất, làm giày và ống quần khách qua đường ướt sũng. Montes và Zabalza lao vọt khỏi xe, cố nấp dưới tấm vải bạt hẹp che ngoài một hiệu cà phê. Họ cụp ô đã ướt đẫm, và Montes nguyền rủa trời đất lúc họ vào hiệu.
Anh đến quầy gọi hai cà phê, giả vờ đọc tờ báo thể thao trong lúc quan sát Zabalza ngồi phịch xuống ghế và nhìn chằm chặp vào màn hình tivi. Anh chàng này đang khó chịu, chắc là thỉnh thoảng thôi, nhưng Montes mải bận việc riêng nên không để ý, cho đến lúc này. Anh nhận ra những đặc điểm của chính mình: cáu kỉnh không ngừng với tất cả mọi người và mọi vật, cho rằng cuộc đời nợ mình, và khổ sở vì sự bất công không giành được thứ đó. Anh cảm thấy thương Zabalza, giống như đang băng qua một sa mạc, và tệ nhất là không có ai đến cứu, phải chết trong cảnh lẻ loi và điên loạn… Cứ cho là dũng khí còn nguyên vẹn đi. Với những người như Zabalza, trí tuệ và sức mạnh cơ bắp gần như đồng nghĩa, và trong những trường hợp như thế này, lòng can đảm cần phải tiến vượt bởi niềm tự hào giả dối, nó nhấn chìm ta bằng hỗn hợp căm thù và tự thương thân. Montes biết vì đã từng trải qua, đã từng bị nó hủy hoại và có lúc thà tự kết liễu đời mình còn hơn là thừa nhận sai lầm.
Anh đặt cốc cà phê trước mặt Zabalza, và khuấy đường trong cốc của mình.
– Này, uống cái này đi, nó có thể làm má anh trở lại hồng hào rồi kể cho tôi nghe anh đang nghĩ gì đi.
Zabalza rời mắt khỏi màn hình.
– Sao anh lại nghĩ tôi có gì phải kể?
– Khốn khổ chưa, Zabalza, tôi nghe thấy các bánh răng trong đầu anh quay tít suốt buổi sáng mà.
Zabalza nghẹo đầu sang một bên, cử chỉ của kẻ thất bại.
– Hôm qua, Marisa và tôi đã quyết định ngày cưới.
Mắt Montes mở to.
– Của khỉ! Anh sắp lấy vợ mà không cho tôi biết sao?
– Thì bây giờ tôi đang nói với anh mà? - Zabalza xác nhận.
Montes đứng lên bắt tay chúc mừng, rồi kéo Zabalza đứng lên theo và ôm anh ta thật chặt.
– Chúc mừng ông bạn, phải thế chứ!
Vài khách hàng quay lại nhìn họ chằm chằm. Montes ngồi xuống, tươi tắn.
– Té ra là thế đấy! Của nợ, tôi cứ ngỡ có chuyện gì nghiêm trọng…
– Ờ thì… tôi không biết…
Montes nhìn anh, vẫn cười.
– Tôi biết anh đang trải qua những gì, vì đúng như đã xảy ra với tôi: đó là cảm giác nhất định nó phải đến. Một khi đã định ngày là không có đường quay lại, biết mình sắp thành người có vợ, và với đàn ông thì những tuần, những tháng này giống như một cuộc đi tới giá treo cổ vậy. Từ kinh nghiệm của tôi thì biết cảm giác ngờ vực, băn khoăn là chuyện bình thường. Mọi lý do để tiếp nhận bước này phải tan biến ngay lập tức, và anh chỉ có thể nghĩ tại sao mình không nên, nhất là khi đang trải qua những đoạn đường gập ghềnh với bạn tình, - tiếng Montes dịu đi thành tiếng thì thầm, và Zabalza nhận thấy anh đang đăm đăm nhìn vào đáy cốc, - hoặc ngay trong phiên xử ly thân, vì lúc đó có một số vấn đề dường như không thể khắc phục nổi. Nhưng hãy tự nhủ rằng không có người nào hoàn hảo, càng không phải là mình, và ta phải cho mối quan hệ ấy một cơ hội.
– Hay quá! - Zabalza nói. - Tôi không ngờ anh có thể nói chuyện loại này.
– Tại sao? Vì tôi đã ly hôn ư? Có lẽ anh tưởng rằng trải nghiệm đã biến tôi thành người chống lại hôn nhân. Tôi không phủ nhận là trong một thời gian đúng là như thế, nhưng nó cũng dạy tôi nhiều thực trạng ta đang trải qua, quan trọng nhất là quyền phạm sai lầm, thừa nhận nó, đánh giá nó, thay vì biến nó thành án chung thân.
– Quyền phạm sai lầm… - Zabalza lặp lại. - Nhưng nếu lỗi lầm của chúng ta làm tổn thương người khác?
– Đời là thế mà, ông bạn ơi. Anh có lựa chọn của riêng mình, có sai lầm của riêng mình và để mặc người khác có những cái riêng của họ.
Zabalza nhìn Montes vài giây, ngẫm nghĩ lời anh nói.
– Nghe có vẻ là một lời khuyên, - Zabalza nhận xét.
Montes gật đầu, đứng dậy và đến quầy trả tiền cà phê. Ngắm Zabalza, Montes nghĩ trông anh ta vẫn rầu rĩ như lúc trước, nếu không hơn thế.
Ngày bắt đầu dài hơn. Khi mặt trời lặn, ánh sáng màu vàng bí ẩn kéo dài các buổi chiều, khiến dòng sông lấp lánh và hắt ánh sáng màu bạc lên các chồi mới mà Amaia chỉ vừa nhận ra trên cái cây bên ngoài đồn. Chị quay mặt vào phòng, nơi toàn đội đã tập hợp để họp.
Thanh tra Iriarte lặng lẽ khác thường lúc đợi mọi người tới. Anh ngồi cứng nhắc trên ghế, đăm đăm nhìn biên bản khám nghiệm tử thi Elena Ochoa. Trong hơn một năm làm việc cùng nhau, Amaia ngày càng đánh giá cao Iriarte. Anh là một người tử tế, một thám tử xuất sắc, có trách nhiệm và chu đáo khác thường; một cảnh sát luôn làm theo sách luật, có lẽ hơi quá nhiều để trở thành một cảnh sát thực sự nổi bật, nhưng suốt thời gian biết anh, chưa bao giờ chị thấy Iriarte mất bình tĩnh.
Amaia chợt thấy trong một số mặt, Iriarte giống chồng mình. Giống như James, Iriarte hiểu và chấp nhận khía cạnh đen tối của loài người, một số người kéo dài cuộc sống dễ sợ, rất tồi tệ và cũng như James, anh chọn sống trong phạm vi mình có thể hiểu và kiểm soát. Khía cạnh nghệ sĩ của James cho phép anh tiếp nhận thuật bói toán của bà Engrasi, hoặc sức mạnh nhân từ của nữ thần Mari y như một đứa bé mừng rơn vì một buổi trình diễn ảo thuật, trong đó con người ở đẳng sau sự giả tạo. Có lẽ Iriarte đã nắm bắt được sự việc thêm một bước, và quyết định gia nhập lực lượng cảnh sát của anh nảy sinh từ sự hiểu biết quá ư đơn giản về thế giới, về các giá trị gia tộc, về thứ được coi là tinh túy và quyết tâm bảo vệ chúng bằng mọi giá. Thứ khiến anh bối rối không phải là biên bản khám nghiệm tử thi nằm trên bàn, trước mặt anh - San Marín đã xác nhận nguyên nhân tử vong của Elena Ochoa là tự tử bằng cách nuốt những vật sắc nhọn - mà là những thứ anh thấy trên tấm biển ở Viện Pháp y Navarre.
Trong lúc họ vào chỗ, Montes mở đầu bằng giọng vui vẻ:
– Sếp, chúng tôi có chút ít làm sếp ngạc nhiên đây. Sáng nay chúng tôi đã đến thăm hai cặp vợ chồng được nhắc đến trong báo cáo của Jonan, và một cặp do nhà bệnh lý học bổ sung. Cả ba cặp đều đã chuyển nhà, song hai cặp vẫn ở tại làng đó. Chúng tôi bắt đầu với cặp ở Lekaroz, họ bóng gió rằng các nhà bệnh lý dính líu đến nhiều vụ buôn bán nội tạng. Tôi không biết hồi đó họ sống ở đâu, nhưng hiện giờ họ sở hữu một biệt thự lớn. Chúng tôi nói với họ là đang bận ngập đầu vì điều tra những vụ ăn trộm trong vùng và họ mời chúng tôi vào. Họ còn cho chúng tôi xem khắp ga ra. Tôi sẽ vui lòng nghỉ hưu nếu có đủ tiền mua chỉ một trong những chiếc xe hơi của họ. Hình như họ kinh doanh dược phẩm. Cặp ở Arraioz cũng có vẻ rất dư dả về tài chính. Người trông nhà kể họ thường đi vắng trong các ngày nghỉ, nhưng chúng tôi có thể thấy ngôi nhà từ bên ngoài và những chuồng ngựa mới xây. Hình như họ sở hữu một công ty khí đốt nhiều triển vọng ở Nam Mỹ, nên chẳng có gì lạ khi họ quyết định thôi nhận tiền trợ cấp. Cặp thứ ba cũng tiền nong rủng rỉnh, và cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi họ đã trở thành các luật sư. Đây là vụ mà người mẹ bị ung thư và cô con gái chết từ lúc còn bé. Họ thường sống ở Elbete, nhưng đã chuyển tới Pamplona. Chúng tôi không nhìn thấy ngôi nhà, nhưng các phòng ngủ của họ rất nguy nga: hai trăm mét vuông ở khu vực sang trọng của thành phố. Ngạc nhiên nhất là người vợ ốm nặng vào năm 1987, song không những vẫn sống mà còn tươi như hoa.
– Anh có chắc là đúng người phụ nữ ấy không? Có khi người chồng tái hôn.
– Chắc chắn là bà ta. Tên bà ta đề trên tấm biển: Lejarreta & Andía. Vả lại, chúng tôi nói chuyện với chính bà ta. Bà ta còn sống và khỏe mạnh, vẫn còn rất quyến rũ, - anh nói thêm và huých Zabalza, anh ta nhìn xuống, lúng túng.
– Lejarreta & Andía. Chưa bao giờ nghe đến họ, - Iriarte nói.
– Chắc vì họ là luật sư về thương mại chứ không phải về tội phạm, đại loại là xuất - nhập khẩu gì đó.
– Cái tên nghe quen quen, - Amaia nói, chị đứng dậy rút tấm danh thiếp tao nhã mà Martínez-Bayón đưa cho chị ở bên ngoài nhà ông ta: Lejarreta & Andía. Luật sư.
Chị đặt tấm danh thiếp lên bàn cho mọi người xem và dừng vài giây để suy nghĩ.
– Tôi nghĩ mọi người đều biết Elena Ochoa, người đàn bà chết hôm qua là một người bạn của gia đình, nói chính xác là bạn của mẹ tôi. Các bạn cũng biết rằng kể từ đêm chúng ta bắt giữ Berasategui và Rosario biến mất, tôi luôn nghi ngờ hành động của họ sau khi rời khỏi bệnh viện và trước khi tới nhà cô tôi. Tôi luôn nghĩ chắc họ phải đến nơi nào đó, một ngôi nhà an toàn, để Rosario thay quần áo. Chúng ta đã biết họ không đến nhà bố hắn, và điều đó đưa chúng ta trở lại với Elena Ochoa. Bà ta kể với tôi rằng vào cuối những năm 70, đầu những năm 80, bà đã tham gia một giáo phái - một loại cộng đồng hippy sinh sống trong ngôi nhà nông trại ở Orabidea. Hồi đầu, họ tổ chức những cuộc gặp mặt văn hóa và gọi hồn, nhưng ngay sau đó bắt đầu học đòi những chuyện huyền bí. Họ hiến tế các gia súc nhỏ và nói đến việc thực hiện một lễ hiến tế người, đó là khi Elena quyết định rời bỏ nhóm. Hình như giáo phái đó còn hoạt động thêm vài năm nữa. Hồi đó, các nhóm như thế xuất hiện khắp nơi, chắc chắn chịu ảnh hưởng của các nhóm thờ cúng Xa tăng, giả như Gia tộc Manson, đầy tai tiếng sau cuộc ăn chơi lu bù, vung tay quá trán đáng hổ thẹn của họ. Nhiều thanh niên thất vọng vì đạo Thiên Chúa và những tiêu chuẩn bảo thủ hồi đó, đã lao vào thử nghiệm tự do yêu đương, hút hít ma túy và nghiên cứu những điều huyền bí - một buổi tiệc cocktail say sưa, đề cao sự hấp dẫn giới tính của các lãnh tụ giáo phái. Phần lớn các giáo phái giải thể khi LSD[1] cạn kiệt.
Theo chỉ dẫn của Elena Ochoa, sáng nay tôi đã tìm ra ngôi nhà nông trại đó. Thực ra, nó đã hoàn toàn hiện đại hóa và hiện nay nó được bảo vệ bằng tường cao và các camera CCTV. Chủ nhân là một cặp vợ chồng sang trọng, giàu có, trạc sáu mươi tuổi, là những người thành lập giáo phái. Một người hàng xóm đã xác nhận chắc chắn chiếc ô tô của Berasategui và khi tôi hỏi cặp đó, họ thừa nhận có quen biết hắn. Tuy nhiên, lúc tôi nhấn mạnh về bản chất quan hệ của họ với hắn ta, họ đưa cho tôi tấm danh thiếp này: Lejarreta & Andía. Luật sư…
– Có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chắc họ có nhiều thân chủ, - Iriarte nói.
– Phải, có thể thế, - Amaia thừa nhận, - nhưng người hàng xóm cũng cho tôi biết họ có một đứa con gái chết khi còn bé, và khi tôi nhắc đến chuyện này, họ trở nên kích động. Đó cũng có thể là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng tôi bắt đầu thấy quá nhiều trẻ em bị chết.
– Chị đang ám chỉ là các cặp đó giết con ư? Các cuộc khám nghiệm tử thi đều ghi nguyên nhân tử vong là SIDS.
Amaia tránh câu hỏi.
– Điều chúng ta cần là tìm ra liệu một hoặc nhiều cặp đó liên quan đến hai luật sư này, đến Berasategui hoặc Martínez-Bayón. Tôi cũng muốn có một bản sao giấy chứng tử của bé gái. Tên bé là Ainara Martínez-Bayón, chết vì xuất huyết não, mười bốn tháng tuổi, hình như trong chuyến đi tới Anh và họ chôn bé ở đó. Jonan, cậu có thể xem xét việc này không? Cậu có bạn nào làm việc tại sứ quán Tây Ban Nha ở London không? - Chị hỏi và ra dấu kết thúc cuộc họp. Chị ra cửa, đợi từng người đi ra và chặn Montes lại. - Montes, anh ở lại một lát. - Chị gọi anh trở lại, đóng cửa rồi quay sang anh.
Thanh tra Montes là người luôn nhìn thẳng vào mắt người đối diện khi có chuyện muốn nói,- Amaia coi là thể hiện tính bốc đồng và thành thật của anh. Chí ít trong vài ngày qua có tới hai dịp Amaia tin anh sẽ cởi mở, nhưng rốt cuộc lại không thế.
Chị đi thẳng vào việc.
– Fermín, tôi nghĩ lúc này anh có chuyện muốn nói với tôi về mấy ngày qua.
Montes gật đầu, cảm thấy nhẹ người vì phải đương đầu với việc không tránh khỏi và khổ sở vì không thể tránh được, nhưng anh lặng thinh. Amaia cảm thấy nói chuyện với anh như cấp trên trong văn phòng có thể không thích hợp để anh cởi mở nỗi lòng; Fermín Montes là loại người thích chuyện trò bên cốc bia hơn.
– Anh có thời gian uống với tôi cốc bia và chuyện phiếm sau giờ làm việc không?
– Tất nhiên là có, sếp, - anh đáp lại, thở một hơi dài. - Nhưng trước hết, hãy đi uống cà phê đã, tôi mời tất cả mọi người. Chúng tôi ăn mừng: Zabalza sắp cưới vợ.
Chị để Montes đi trước, giành vài giây để xóa sạch vẻ sửng sốt trên mặt lúc nghe thấy những tiếng reo hò vui vẻ mà những người khác đang chúc mừng tin này.
Sau ba cốc bia và một đĩa mực rán ở quán Casino, Montes đã đủ thoải mái để trò chuyện. Amaia cười vì câu đùa của anh, rồi hỏi:
– Nào Fermín, bây giờ anh sẽ kể cho tôi biết chứ, hay anh đợi đến lúc tôi tè ra quần đây?
Montes nhìn xuống và đẩy cái cốc đến giữa quầy.
– Cô có muốn đi dạo không?
Chị để lại tiền trên quầy rồi theo Montes ra ngoài.
Trong một giờ qua, nhiệt độ đã giảm vài độ, những luồng gió mạnh, giá lạnh khiến mọi người đều biến vào trong nhà. Họ lặng lẽ băng qua quảng trường, rồi xuống đường phố chính. Cuối cùng, Fermín đứng lại bên ngoài cửa nhà thờ, và nhìn thẳng vào mắt chị. Dù muốn nói gì đi nữa, rõ ràng anh thấy rất khó khăn.
– Tôi không biết nói với cô thế nào, nhưng ở đây đang có chuyện. Vài ngày trước, Flora và tôi đã trở lại với nhau.
Amaia há miệng ngờ vực, rồi thì thầm:
– Ý anh là gì, hai người đã trở lại với nhau ư?
Montes tránh cái nhìn chằm chằm, tìm kiếm của chị trong giây lát, dường như lục soát trong những cái bóng vây quanh nhà thờ để tìm lời giải thích điều chính anh cũng thấy không thể giải thích được.
– Vài hôm trước, tôi đang trên đường tới đồn thì trông thấy cô ấy trong xe. Cô ấy gọi tôi lại… Chúng tôi nói chuyện, và bây giờ chúng tôi đã trở lại với nhau.
– Mẹ kiếp, Fermín! Anh điên hả? Anh quên chị ta đã làm gì anh sao? Anh định sẽ làm gì với mình đây?
Montes ngoảnh đi, cắn môi lúc ngước nhìn trời đêm trong trẻo, lạnh giá trùm lên Baztán.
– Chị ta là người nguy hiểm, Fermín. Flora rất nguy hiểm, chị ấy sẽ hủy hoại anh, sẽ làm cho anh kiệt quệ, chị ấy vô cùng độc ác, anh không thể nhìn ra điều đó sao?
Montes nổi giận, nắm lấy vai Amaia và lắc lúc dí mặt mình vào sát mặt chị:
– Tất nhiên là tôi không thể. Tôi biết cô ấy có thể làm gì, nhưng tôi thì có thể làm gì được? Ngay từ ngày đầu tiên gặp Flora, tôi đã yêu cô ấy phát điên. Mặt khác, tôi đã cố thuyết phục mình, nhưng thực tế là trong suốt thời gian này tôi không sao ngừng yêu cô ấy, và không hiểu vì sao tôi biết Flora là cơ hội cuối cùng của mình.
– Khốn kiếp, Fermín… - Amaia nói, ngán ngẩm.
– Tôi biết…
Họ tách ra, và dường như theo một thỏa thuận ngầm, họ bắt đầu im lặng đi tới đường Santiago. Lúc đến cầu, Amaia dừng lại.
– Fermín, dù trong bất cứ tình huống nào, anh không bao giờ được kể với Flora bất cứ điều gì, về những chuyện xảy ra hoặc nói ra ở trong hoặc ngoài đồn cảnh sát, liên quan đến bất cứ vụ nào. Không bao giờ đấy. - Montes gật đầu. - Không bao giờ, - chị nhắc lại. - Nói đi.
– Tôi thề là không bao giờ. Tôi đã có bài học rồi.
– Thanh tra Montes, tôi hy vọng thế, vì nếu anh cho tôi bất cứ cớ nào để ngờ vực, tôi sẽ không còn tôn trọng anh nữa đâu, chắc chắn tôi sẽ loại anh khỏi vụ này, và như thế anh sẽ bị đuổi khỏi ngành cảnh sát vĩnh viễn.
Lần đầu tiên trong đời, Amaia băng qua cầu mà không để ý đến âm thanh của đập nước. Lòng đầy giận dữ khiến quên cả rét, chị rảo bước tới nhà bà cô. Cuối cùng, Amaia quyết giũ bỏ cơn thịnh nộ trước khi vào nhà. Lúc đó, chị nhận ra ô tô của Flora đỗ ở bên ngoài cổng vòm. Chị dừng lại trên đường, trừng trừng nhìn chiếc xe như thể nó là một sinh vật ngoài trái đất. Chị bước vào nhà, không cởi áo khác và thò đầu qua cửa phòng khách. Tất cả đang quây quần quanh Flora, lịch sự lắng nghe chị ta kể định tổ chức tang lễ cho Rosario chu đáo ra sao. Một tay Flora cầm đĩa, tay kia cầm tách, chị ta nhấp từng ngụm nhỏ lúc nói xong.
Amaia lờ mờ nhận thức được những giọng nói trong gia đình chào đón mình và giọng nói châm chọc hiển nhiên của Flora. Chị nghe thấy tiếng mình, giận dữ và lanh lảnh nhằm vào chị gái, dường như từ xa lắm:
– Mặc áo khoác vào và ra ngoài với tôi.
Giọng nói và thái độ của Amaia không cho phép cưỡng lại.
Nụ cười của Flora tắt ngay.
– Có chuyện gì thế, Amaia?
Amaia không đáp, chộp lấy áo khoác của chị gái trên giá ở lối vào và ném xuống chân chị ta. Phớt lờ những lời năn nỉ và phản đối của những người khác, Amaia lẳng lặng đợi ở bên cửa, cho đến lúc Flora lướt qua chị. Chị theo Flora ra ngoài, đóng cửa lại sau lưng họ.
– Mọi thứ nhặng xị này là gì vậy?
– Thôi giả vờ đi, Flora! Đừng ra vẻ chị là một người bình thường và nói cho tôi biết chị đang giở cái trò quái quỷ gì vậy.
– Tôi không hiểu cô nói gì.
– Tôi đang nói về việc Fermín Montes, người đàn ông mà chị gần như hủy hoại đời anh ta, một sĩ quan cảnh sát bị đình chỉ công tác suốt một năm vì chị.
Flora trấn tĩnh, trở lại vẻ cáu kỉnh quen thuộc:
– Tôi không thấy vì sao tôi phải giải thích với cô. Fermín là đàn ông và tôi là đàn bà, cả hai chúng tôi đều là người trưởng thành.
– Đấy chính là điểm chị nhầm, chị gái ạ. Chị đừng quên tôi đã ở đó vào đêm Victor chết. Tôi biết chuyện xảy ra thực sự. Tôi biết hồi đó chị chú ý đến Montes vì cái gì; còn bây giờ tôi không hiểu chị muốn gì ở anh ta. Hãy để anh chàng tội nghiệp ấy yên.
Flora cười phá lên.
– Em gái ơi, tôi không biết cô có tình cảm sâu nặng với Fermín đến thế. - Mặt Flora nhăn nhó thành một nụ cười nhạo báng. - Cô không thể chứng minh chuyện xảy ra đêm Victor chết, cô không hề có manh mối. Tôi thừa nhận đã không thành thật với Fermín khi chúng tôi gặp nhau lần đầu, vì hồi đó tôi là người có chồng và Fermín biết thế. Bây giờ mọi sự đã khác hẳn. Sự quan tâm của tôi với anh ta là chân thành.
– Chân thành, ồ lạ nhỉ! Tuy vậy tôi tin phần quan tâm - quan tâm là từ chỉ rõ mọi mối quan hệ của chị. Tôi chắc chắn nó cũng áp dụng với Fermín, có điều chị chẳng quan tâm vì anh ta là một con người, vì tôi không nhầm chị quan tâm đến trọn gói khác hẳn: trẻ trung, tóc vàng và rất xinh đẹp, Flora ạ.
Sự khinh bỉ thường lệ của Flora nhường chỗ cho cơn thịnh nộ ghê gớm chẳng kém của Amaia, có lẽ đó là lần đầu tiên hai chị em có sự giống nhau. Nghẹn thở vì cáu kỉnh và thương tiếc, giọng Flora chói tai:
– Cô chẳng biết gì về quan hệ của tôi với Anne! Tôi cấm cô nhắc đến tên con bé.
Amaia sửng sốt nhìn chị mình chằm chặp. Flora, lưng uốn cong dường như đang đỡ một trọng lượng kinh khủng. Sự sống như thể bị rút cạn, mặt chị ta xạm lại trước mắt Amaia, giống người ốm thập tử nhất sinh. Đây không phải lần đầu tiên Amaia thấy chị gái như thế. Bất cứ khi nào nhắc tới Anne Arbizu, chị ta cũng cực kỳ xúc động, rất chân thật, đến mức Amaia tin rằng sự say mê của Flora dành cho Anne Arbizu không thể so sánh với bất cứ tình cảm nào chị ta dành cho đàn ông, sự đắm say có sức tàn phá vẫn tiếp tục hủy hoại Flora, đến mức đẩy chị ta đến chỗ giết người.
Amaia lặng lẽ ngắm chị mình, chị không còn gì để nói thêm với người phụ nữ gập cả người để vớt vát phẩm giá đã tan tành. Flora quấn chặt áo khoác quanh người, xoáy vào em gái cái nhìn khinh miệt cuối cùng lúc trèo vào xe. Amaia rút điện thoại trong túi và chụp vài cái ảnh đằng trước chiếc ô tô.
❀ ❀ ❀
[1] Loại ma túy mạnh, gây ảo giác.