Nhân viên tiếp đón ở bệnh viện University chưa quên Amaia, căn cứ vào vẻ mặt đông cứng lại ngay lập tức của bà ta khi nhìn thấy chị. Tuy nhiên, chị rút phù hiệu ra, nhắc Jonan làm theo. Cả hai kiên quyết đặt phù hiệu của mình lên quầy.
– Cho chúng tôi gặp bác sĩ Sarasola.
– Tôi không biết ông ấy có đây không, - người đàn bà đáp và cầm ống nghe lên. Bà ta nói tên của họ, lắng nghe rồi ra hiệu về phía thang máy, vẻ cáu kỉnh. - Tầng thứ tư, người ta sẽ chỉ đường cho các vị. - Có một vẻ thận trọng trong giọng bà ta lúc nói những từ cuối cùng. Amaia cười với bà và nháy mắt, rồi tiến tới thang máy.
Sarasola tiếp họ trong văn phòng, ông ta ngồi sau cái bàn chồng chất giấy tờ và gạt chúng sang bên. Ông đứng dậy, đưa họ tới chỗ ghế bành cạnh cửa sổ.
– Tôi hình dung các vị tới đây vì cái chết của bác sĩ Berasategui, - ông ta nói lúc bắt tay họ.
Ít có sự việc nào xảy ra ở Pamplona mà Sarasola không biết, song Amaia và phó thanh tra Etxaide vẫn hơi sửng sốt. Nhận thấy vẻ mặt của họ, ông ta nói thêm:
– Giám đốc nhà tù có quan hệ gia đình với Opus Dei.
Amaia gật đầu.
– Tôi có thể giúp gì các vị đây?
– Ông có đến thăm bác sĩ Berasategui trong tù không?
Họ đã biết Sarasola đến thăm hắn. Chị hỏi để xem ông ta có công nhận hay không.
– Có, ba lần khác nhau, tôi có thể bổ sung rằng hoàn toàn vì chuyên môn đơn thuần. Như các vị biết đấy, tôi đặc biệt quan tâm đến các ca có hành vi bất thường, mang sắc thái hiểm ác.
– Bác sĩ Berasategui có nhắc đến cuộc chạy trốn của Rosario hoặc chuyện đã xảy ra đêm ấy không? - Etxaide hỏi.
– Khỏi cần phải nói, tôi e rằng câu chuyện của chúng tôi đúng hơn là mang tính kỹ thuật và trừu tượng tuy thú vị. Berasategui là một bác sĩ xuất sắc, nên thảo luận về hành vi và hoạt động của anh ta là một việc rất khó khăn. Anh ta phá ngang mọi ý định phân tích của tôi, đến nỗi rốt cuộc tôi tự hạn chế mình và chỉ an ủi anh ta về mặt tinh thần. Dù sao thì anh ta cũng không nói gì đến Rosario hoặc bất cứ chuyện gì xảy ra đêm ấy vì chẳng có lợi gì. Có một điều tôi thừa biết là các vị sẽ chẳng bao giờ lắng nghe những người đi theo ác quỷ, vì họ chỉ toàn nói dối.
Amaia nén tiếng thở dài, và Jonan hiểu là dấu hiệu chị bắt đầu hết kiên nhẫn.
– Vậy ông có nói về Rosario không, hay ông mất hứng với chuyện này rồi?
– Tất nhiên là có, nhưng anh ta đổi chủ đề ngay. Giờ cô đã biết rồi, thanh tra, tôi tin rằng cô không coi tôi phải chịu trách nhiệm về vụ bỏ trốn của Rosario nữa.
– Tôi không có ý thế. Tuy nhiên, tôi bắt đầu ngờ rằng đây là mọi phần của một kế hoạch phức tạp hơn nhiều, bắt đầu bằng việc chuyển Rosario từ Santa Maria de las Nieves và đỉnh điểm là các sự việc đêm hôm ấy, tuy không phải là lỗi của ông.
Sarasola ngả người trên ghế và nhìn thẳng vào Amaia.
– Tôi mừng vì cô bắt đầu hiểu ra, - ông ta nói.
– Ô, tôi hiểu chứ, nhưng tôi vẫn thấy khó mà tin rằng một người như ông lại không nhận ra có chuyện không ổn đang diễn ra trong bệnh viện này.
– Đây không phải là…
– Tôi biết, tôi biết đây không phải là bệnh viện của ông, nhưng ông thừa hiểu tôi định nói gì rồi, - chị cắt ngang.
– Tôi xin lỗi vì việc đó, - ông ta nói, trang trọng. - Cô nói đúng, tôi dính dáng đến vụ này vì lẽ ra tôi phải để ý đến Berasategui kỹ hơn, nhưng trong trường hợp này, tôi cũng là một nạn nhân.
Amaia luôn thấy khó chịu khi có người không bị chết hoặc phải nằm viện mà cứ vơ mình là nạn nhân. Chị biết quá rõ một nạn nhân nghĩa là gì, và Sarasola không phải là thế.
– Dù sao đi nữa, vụ tự tử của Berasategui là không hợp lý. Tôi cũng đã đến thăm anh ta trong tù, và tôi phải nói rằng anh ta dám liều chạy trốn hơn là dám liều tự tử.
– Tự tử là một dạng chạy trốn, - Jonan xen vào, - tuy nó không khớp với tiểu sử của Berasategui.
– Tôi đồng ý với thanh tra Salazar, - Sarasola đáp, - và cho phép tôi nói với các vị một điều về các tiểu sử hành vi. Chúng có thể có ảnh hưởng, kể cả với những cá nhân mắc bệnh tâm thần. Nhưng chắc chắn là không thể khi giao du với một người là hiện thân của ác quỷ.
– Ông nói đúng ý tôi, khi tôi nói về một kế hoạch đã được suy tính kỹ càng. Cái gì đưa một người như Berasategui tự kết liễu đời mình? - Amaia bày tỏ.
– Cùng một thứ đẩy anh ta thực hiện các hành động khác: hoàn tất một kết cục chưa được xác định.
– Xin nhớ rằng, ông có tin là Rosario đã chết hay bị cuốn đi xa không?
– Tôi biết không nhiều hơn cô. Mọi thứ cho thấy với một dòng sông có…
– Bác sĩ Sarasola, tôi mong trong quan hệ của chúng ta, xin đừng diễn kịch nữa. Tại sao ông không giúp tôi, thay vì nói với tôi những điều tôi muốn nghe? - Chị hỏi.
– Tôi tin rằng ngoài việc xúi giục những kẻ kia phạm tội giết người, Berasategui đã lập kế hoạch kéo cô vào việc điều tra bằng cách để xương của tổ tiên cô trong nhà thờ ở Arizkun, và trong nhiều tháng ròng anh ta vận động chuyển Rosario khỏi bệnh viện Santa Marfa de las Nieves, rồi sau đó là cuộc chạy trốn của bà ấy khỏi bệnh viện này. Kế hoạch thực hiện rất tỉ mỉ, khiến tôi nghĩ Berasategui đã tính đến mọi sự việc bất ngờ có thể xảy ra. Rosario có thể là một bà già, nhưng sau khi xem những hình ảnh bà ấy ra khỏi bệnh viện với Berasategui, tôi…
– Ông nghĩ sao?
– Tôi tin rằng bà ấy vẫn ở nơi nào đó ngoài kia, - Sarasola thừa nhận.
– Nhưng tại sao lại kéo tôi vào, tại sao lại có sự khiêu khích này?
– Tôi tưởng nó chỉ liên quan đến mẹ cô mà thôi.
Amaia rút một tấm ảnh trong xắc và đưa cho Sarasola.
– Đây là bên trong cái hang mà Berasategui và mẹ tôi chuẩn bị giết Ibai, con trai tôi.
Sarasola ngắm nghía tấm ảnh, nhìn Amaia trong vài giây, rồi lại nhìn tấm ảnh.
– Bác sĩ ạ, tôi ngờ rằng những vụ giết chóc rùng rợn của tarttalo chỉ là phần nổi của núi băng trôi, nhằm thu hút sự chú ý của chúng ta khỏi một tội ác khủng khiếp hơn nhiều. Thứ liên quan đến các lễ hiến sinh sẽ giải thích biểu tượng dùng cho các xương thuộc những đứa trẻ trong gia tộc tôi, tại sao họ muốn giết con trai tôi và tôi tin rằng phản ứng của Giáo hội với một vụ mạo phạm, xét theo bề ngoài không phải là mọi thứ đáng căm phẫn.
Sarasola lặng lẽ nhìn họ, rồi xem lại tấm ảnh lần nữa. Amaia ngả về phía trước, chạm vào cẳng tay của vị linh mục.
– Tôi cần sự giúp đỡ của ông. Xin ông cho biết ông thấy gì trên bức ảnh này.
– Thanh tra Salazar, cô biết mình mang họ của một quan tòa dị giáo lừng lẫy tiếng tăm. Khi các cuộc săn lùng phù thủy lên tới đỉnh điểm, tổ tiên của cô, quan tòa Salazar y Frias đã mở cuộc điều tra về sự xuất hiện của ác quỷ trong thung lũng Baztán, trải dài qua biên giới tới Pháp. Sau khi ở cùng dân chúng hơn một năm, ông đã rút ra kết luận rằng việc thực hành các phép phù thủy bén rễ vào nền văn hóa của địa phương sâu xa hơn cả đạo Cơ đốc, tuy được củng cố vững chắc song đã bị pha tạp bởi nhiều đức tin cổ xưa, đã thống trị trong vùng trước khi Giáo hội Công giáo được thành lập. Salazar y Frias là người phóng khoáng, là nhà khoa học và một điều tra viên, ông đã áp dụng nhiều phương pháp thẩm vấn và phân tích tương tự như các vị dùng ngày nay. Lẽ tất nhiên, nhiều người bị thẩm vấn không hề hoài nghi đã thú nhận hành nghề phù thủy để tránh bị Tòa án Dị giáo tra tấn, chưa kể vì họ sợ hãi. Tôi rất khâm phục Salazar y Frias đã đặt dấu chấm hết cho tình trạng điên rồ ấy, nhưng trong nhiều tội ác ông điều tra còn nhiều vụ chưa giải quyết, nhất là những vụ liên quan tới cái chết của trẻ em, trẻ sơ sinh và các bé gái, xác của chúng đều biến mất. Những chuyện như thế xuất hiện trong vài báo cáo, tuy vậy, khi các phương pháp tàn bạo của Tòa án Dị giáo bị hủy bỏ thì mọi báo cáo thời đó bị coi là không xác thực.
Thứ tôi nhìn thấy trên tấm ảnh này là cảnh một lễ hiến sinh mạng người, mà nạn nhân là con trai cô. Hiến sinh người là một thủ đoạn cực kỳ ghê tởm, thường dùng khi áp dụng phép phù thủy và thờ phụng ma quỷ. Sự xuất hiện xương trẻ con trong các vụ mạo phạm nhà thờ ở Arizkun đã gióng hồi chuông báo động; trong nghi lễ thờ cúng ác quỷ thường dùng hài cốt người, đặc biệt là của trẻ con. Hiến tế một đứa trẻ còn sống được coi là lễ vật quý giá nhất.
– Tôi biết về Salazar y Frias. Tôi hiểu điều ông nói, nhưng ông đang ám chỉ mối liên quan giữa việc hành nghề phù thủy ở thế kỷ XVII và các vụ mạo phạm ở Arizkun, hay việc xảy ra gần đây với Ibai?
Sarasola chậm rãi gật đầu.
– Cô biết về phù thủy nhiều không, thanh tra? Tôi không có ý nói đến các pháp sư hay thầy thuốc chữa bệnh bằng cách cầu kinh, mà là các phù thủy được miêu tả trong truyện cổ tích của anh em Grimm.
Jonan ngả về phía trước, lắng nghe chăm chú.
– Tôi biết họ ẩn nấp trong các bướu cây và cư ngụ trong rừng sâu, - Amaia nói.
– Cô biết họ ăn gì không?
– Họ ăn thịt trẻ con, - Jonan đáp.
Amaia cười phá.
Vị linh mục quay sang chị, bực bội vì sự chế nhạo của chị.
– Thanh tra, - ông cảnh cáo, - đừng đùa giỡn với tôi. Từ lúc cô bước vào đây, tôi đã có cảm tưởng là cô biết nhiều hơn muốn lộ ra. Đây không phải chuyện đùa, các câu chuyện đã trở thành văn hóa dân gian sau khi trải qua nhiều thế hệ, thường hàm chứa một chút chân lý. Có lẽ phù thủy không ăn thịt trẻ con theo nghĩa đen, nhưng họ đã giết chết bao mạng sống vô tội bị đem làm lễ vật hiến tế.
Sarasola đủ sắc sảo để hiểu rằng, là một thám tử chuyên điều tra án mạng, Amaia có nhiều lý do để hỏi ông về chủ đề này hơn những người sẵn sàng thú nhận với chị.
– Thôi được, vậy đổi lại họ được gì khi thực hiện các lễ hiến sinh này?
– Sức khỏe, tuổi thọ, sự giàu có…
– Và mọi người thực lòng tin thế sao? Ý tôi là thời buổi hiện nay trái ngược với thế kỷ XVII. Họ tin rằng thực hiện hiến tế người, họ sẽ đạt được một số lợi ích sao?
Sarasola thở dài chán chường.
– Thanh tra ạ, nếu cô muốn hiểu mọi thứ về những việc này, cô phải thôi nghĩ liệu có hợp lý hay không, có thích ứng với thế giới điều khiển bằng máy tính, với kỹ thuật miêu tả tiểu sử của cô không. Hãy thôi nghĩ đến các thuật ngữ của thứ mà cô nghĩ một con người hiện đại nên tin tưởng.
– Tôi thấy việc đó là không thể.
– Đó là chỗ cô nhầm cũng như mọi kẻ ngốc cứ dựa vào khái niệm về thế giới của mình, chỉ hiểu những sự việc được chứng minh một cách hợp lý và khoa học. Hãy tin tôi đi, những người kết tội Galileo, người dám đề xuất rằng Trái đất quay quanh Mặt trời đã làm đúng y như thế: dựa vào hiểu biết về vũ trụ cổ lỗ đã nhiều thế kỷ, họ cãi rằng Trái đất là trung tâm của vũ trụ. Hãy nghĩ đến chuyện này trước khi cô trả lời: chúng ta đều biết, hoặc chúng ta tin là biết vì đó chính là thứ người ta bảo chúng ta? Chúng ta có được thử nghiệm các quy luật tuyệt đối mà chúng ta chấp nhận không bàn cãi, vì người ta đã lặp đi lặp lại với chúng ta qua nhiều thế kỷ không?
– Những lý lẽ ấy cũng có thể áp dụng cho niềm tin về sự tồn tại của Chúa trời và Quỷ dữ mà Giáo hội đã duy trì nhiều thế kỷ…
– Thực ra, cô đúng khi nghi ngờ điều đó, tuy có thể đó không phải là lý do để cô suy nghĩ. Hãy suy xét chính mình, tìm kiếm Chúa trời, tìm kiếm Quỷ dữ, rồi rút ra những kết luận cho mình nhưng đừng phán xét đức tin của người khác. Hàng triệu người đang sống dựa vào niềm tin: tin vào Chúa, tin con tàu vũ trụ sẽ đưa họ tới chòm sao Orion, tin rằng họ sẽ tới thiên đàng, nơi mật ong chảy thành suối và các trinh nữ sẽ phục vụ nhu cầu của họ. Nó có khác gì đâu? Nếu cô muốn hiểu, cô phải thôi nghĩ nó có hợp lý không và bắt đầu thừa nhận rằng đức tin là có thật, nó có nhiều hậu quả trong cõi đời thực tế, người ta sẵn sàng giết người vì đức tin của mình. Bây giờ hãy xem lại câu hỏi lần nữa.
– Thôi được, vậy tại sao lại là trẻ con, và họ làm gì với chúng?
– Trẻ em dưới hai tuổi thường được dùng trong các nghi lễ hiến sinh. Chúng thường bị chảy máu đến chết. Trong một số trường hợp chúng bị chặt chân tay và bị sử dụng từng phần thần thể. Sọ là thứ có giá nhất, tiếp đến là các xương dài hơn giống như mairu-beso trong các vụ mạo phạm ở Arizkun. Các nghi lễ khác sử dụng răng, móng tay, tóc và bột xương, nghiền nát các xương nhỏ hơn. Trong mọi đồ tế lễ sử dụng phép phù thủy, xác trẻ con có giá cao nhất.
– Tại sao là trẻ con dưới hai tuổi?
– Vì chúng đang trong thời kỳ quá độ, - Jonan xen vào. - Nhiều nền văn hóa tin rằng trước khi tới tuổi đó, trẻ em di chuyển giữa hai cõi âm và dương, chúng có thể nghe và trông thấy những việc xảy ra ở cả hai cõi, trở thành phương tiện giao lưu với thế giới tâm linh và giành được nhiều đặc ân.
– Đúng thế. Trẻ em phát triển tri thức theo bản năng tới tuổi lên hai: đứng, đi, cầm các đồ vật và nhiều hành vi bắt chước khác. Sau đó, chúng bắt đầu phát triển ngôn ngữ, vượt qua các rào chắn và quan hệ của chúng với những thứ xung quanh thay đổi. Chúng không còn là phương tiện chuyển giao tốt như thế nữa, mặc dù các em trước tuổi dậy thì cũng được đánh giá cao trong các nghi thức hành nghề phù thủy.
– Nếu có kẻ ăn cắp một cái xác với mục đích ấy, thì mang đi đâu?
– Là một thám tử, tôi hình dung cô đã giải được bài toán đó: mang đến một nơi hẻo lánh, để có thể tiến hành các nghi lễ mà không sợ bị phát hiện. Mặc dù tôi nghĩ đã thấy cô định đi tới đâu với chuyện này. Cô đang tưởng tượng ra các miếu, nhà thờ hoặc những nơi linh thiêng khác. Cô hoàn toàn đúng nếu chúng ta nói về Satanism[1], có mục tiêu không chỉ thờ phụng Quỷ dữ mà còn xúc phạm Thượng đế. Tuy nhiên, phép phù thủy là một nhánh hiểm ác hơn Satanism, và cả hai không có liên quan chặt chẽ như cô nghĩ. Nhiều tín ngưỡng dùng hài cốt người là phương tiện truyền tải để giành được nhiều ân huệ, ví như Voodoo[2], Santería[3], Palo và Candomblé thường triệu các thần thánh cũng như linh hồn người chết. Họ thực hiện các nghi thức tại những nơi thiêng liêng, như một cách báng bổ. Arizkun nằm trong thung lũng Baztán, có truyền thống sử dụng phép phù thủy lâu đời và triệu hồi quỷ dữ Aker.
Amaia yên lặng vài giây, nhìn qua cửa sổ vào bầu trời Pamplona u ám, tránh cái nhìn chằm chặp, soi mói của vị linh mục. Hai người đàn ông lặng thinh, nhận ra đằng sau vẻ bình tĩnh của Amaia, trí não chị đang hoạt động dữ dội. Lúc chị quay lại với Sarasola lần nữa, vẻ chế nhạo của chị đã nhường chỗ cho thái độ kiên quyết.
– Bác sĩ Sarasola, ông có biết Inguma là gì không?
– Mau Mau hoặc Inguma. Không phải là gì, mà là ai. Trong khoa nghiên cứu ma quỷ Sumerian, nó có tên là Lamashtu, là linh hồn quỷ dữ lâu đời như thời gian, một trong những quỷ dữ tàn bạo nhất, khủng khiếp nhất, chỉ thua Pazazu - tên của quỷ Lucifer ở vùng Sumer[4]. Lamashtu giằng trẻ em khỏi vú mẹ, ăn ngốn ngấu da thịt và uống máu các em, hoặc làm chúng chết bất ngờ trong khi ngủ. Trong nhiều nền văn hóa cổ đại cũng có các ác quỷ ăn thịt trẻ con trong khi ngủ: ở Thổ Nhĩ Kỳ có “ác quỷ triệt hạ”, trong khi ở châu Phi tên chúng được dịch theo nghĩa đen là “ác quỷ cưỡi trên lưng bạn”. Dân tộc Hʼmong gọi là “ác quỷ hành hạ”, còn ở Philippines có hiện tượng gọi là bangungut, thủ phạm là một bà lão tên là Batibat. Ở Nhật Bản, hội chứng đột tử của trẻ sơ sinh gọi là pokkuri, bức tranh nổi tiếng Ác mộng của Henry Fuseli vẽ chân dung một phụ nữ trẻ ngủ trên ghế dài, trong lúc con quỷ gớm ghiếc cúi lom khom trên ngực cô. Không biết đến sự có mặt của hắn, người phụ nữ có vẻ bị kẹt trong cơn ác mộng. Quỷ dữ có nhiều tên khác nhau, nhưng phương pháp của chúng luôn giống hệt: ban đêm, chúng lẻn vào các căn phòng có nạn nhân đang ngủ, ngồi lên ngực họ, có khi bóp cổ cho đến lúc họ chết ngạt. Trong cơn ác mộng này, có thể họ nhận biết nhưng không thể nhúc nhích hoặc tỉnh dậy. Những lúc khác, Inguma ghé miệng lên miệng người đang ngủ, hút hơi thở của họ cho đến khi họ tắt thở.
– Ông có tin…?
– Tôi là một linh mục, thanh tra ạ, và cô vẫn suy nghĩ về chuyện này theo một cách sai lầm. Tất nhiên tôi là một tín đồ, nhưng vấn đề là sức mạnh của những chuyện hoang đường này. Ở Rome, cứ sáng tinh mơ là thực hiện đọc kinh Trừ tà. Thầy tu thuộc nhiều loại kinh khác nhau, cầu nguyện giải thoát cho những người bị ma ám, sau đó phục vụ dân chúng tới xin giúp đỡ. Nhiều người bị bệnh tâm thần, nhưng cũng chẳng sao. Kinh Trừ tà chứng tỏ có tác dụng trấn an với những người tin mình bị ma ám.
Thanh tra, cô có nghe nói về người H’mong không? Họ là một nhóm sắc tộc sinh sống ở vùng núi cao thuộc Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Thái Lan, và đã cộng tác với Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Khi xung đột chấm dứt, họ bị những người đồng hương kết tội và nhiều người đã chạy trốn sang Mỹ. Năm 1980, Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh ở Atlanta ghi lại sự gia tăng đột biến những người đột tử trong khi ngủ: 230 nam giới H’mong ở Mỹ bị chết vì ngạt thở trong giấc ngủ, còn nhiều người hơn nữa bị ảnh hưởng; những người sống sót khẳng định họ trông thấy một mụ phù thủy già cúi xuống người họ, siết chặt cổ họ. Đề phòng với việc đang xảy ra, các bậc cha mẹ bắt đầu ngủ cạnh con trai để đánh thức chúng khỏi cơn ác mộng. Khi cuộc tấn công diễn ra, họ lay gọi con, các cậu bé kể đã trông thấy một bà lão mặt đầy sát khí, chúng cảm thấy những ngón tay cong queo của bà ta trên cổ mình. Hiện tượng này không xảy ra ở một vùng hẻo lánh của Thái Lan, nhưng lại có ở nhiều nơi như New York, Boston, Chicago, Los Angeles… Trên khắp đất nước Tây Ban Nha này, đêm đêm, đàn ông H’mong bị tấn công như thế. Những người không chết được giữ ở bệnh viện dưới sự giám sát nghiêm ngặt, nơi có những cuộc tấn công vô hình, nạn nhân bị một sinh vật vô hình bóp cổ được chứng kiến và quay video. Các bác sĩ lúng túng, chẩn đoán một căn bệnh đặc biệt. Các thầy mo H’mong kết luận rằng ác quỷ đang nhằm tới thế hệ cụ thể này của người H’mong vì qua nhiều thế kỷ, họ đã trở nên xa cách với các truyền thống cũ và những người che chở họ. Những thỉnh cầu làm lễ thanh tẩy quanh nạn nhân hầu như bị từ chối, vì kéo theo là lễ hiến tế gia súc, tuy nhiên trong nhiều trường hợp được cho phép, các vụ tấn công ngừng hẳn.
Năm 1917, ở Philippines có 722 người chết trong lúc ngủ, bị Batibat - dịch theo nghĩa đen là “bà lão béo” bóp cổ. Năm 1959 ở Nhật Bản, 500 người đàn ông khỏe mạnh chết vì pokkuri. Người ta tin rằng Inguma đã thức dậy, thực hiện các vụ giết chóc cho đến khi thỏa mãn cơn thèm khát, hoặc đến khi bị những giải pháp khác ngăn chặn. Trong vụ người H’mong, sự việc 230 cậu bé khỏe mạnh bị chết đột ngột cho đến nay vẫn chưa được giải quyết. - Ông nhìn xoáy vào Amaia. - Ngay cả khoa học cũng không giải thích nổi: đã tiến hành các cuộc khám nghiệm tử thi, nhưng vẫn chưa xác định được nguyên nhân tử vong.
❀ ❀ ❀
[1] Tín ngưỡng thờ cúng quỷ Xa tăng.
[2] Tôn giáo vùng Caribbean; kết hợp các nghi thức Thiên Chúa giáo và tín ngưỡng linh vật; sử dụng bùa chú và phép phù thủy.
[3] Tôn giáo kết hợp tín ngưỡng Yoruba của Tây Phi với Thiên Chúa giáo La Mã.
[4] Quốc gia ở vùng Lưỡng Hà, ứng với Iraq ngày nay, hùng mạnh và thịnh vượng từ thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên, nhưng đến năm 1760 trước Công nguyên bị sáp nhập vào Babylonia và Asyria.