Lễ Vật Kinh Hoàng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

❊ ❊ ❊

Lúc khéo léo lái xe lượn theo những khúc chữ chi trên đường Orabidea, Amaia cảm thấy lạc quan hơn nhiều ngày vừa qua. Cuối cùng, chị đã có cảm giác mình đang tới một nơi nào đó.

Sau chuyến thăm Fina Hidalgo, chị cử Etxaide và Iriarte về đồn. Chị muốn đến thăm ngôi nhà nông trại cạnh Argi Beltz lần nữa, và thích đi một mình hơn. Người phụ nữ ấy sốt sắng giúp đỡ, và chị không muốn liều lĩnh thay đổi bản chất mối quan hệ chị đã thiết lập với bà, nếu có hai đồng nghiệp nam đi cùng.

Lúc lái lên quả đồi dựng đứng, Amaia cáu kỉnh liếc nhìn điện thoại bị mất sóng. Chị đã nhận ba cuộc gọi, nhưng mỗi lần trả lời đường dây lại tắt ngấm. Chị lái thật nhanh tới điểm cao nhất, tìm một nơi có thể đỗ lại và bấm số của Etxaide.

– Sếp, chị sẽ không tin chuyện này: vài giờ trước, Esparza bị một bạn tù đâm. Người ta vội đưa hắn tới bệnh viện, nhưng họ nghĩ hắn sẽ không qua được.

Mùi nồng nặc quen thuộc của thuốc khử trùng, những vạch xanh trên sàn và các hành lang gió lùa chào đón họ lúc bước vào ICU[1]. Họ được dùng căn phòng để một bác sĩ cố vấn đưa cho họ bệnh án. Bên trong có giám đốc trại giam, hai lính gác mặc đồng phục, hai bác sĩ trẻ có lẽ là bác sĩ nội trú, hai y tá và cuối cùng là bác sĩ Martínez-Larrea. Thêm Amaia và Jonan, căn phòng chật chội đến lố bịch.

Bác sĩ Martínez-Larrea và Amaia là người quen cũ. Anh ta là người theo chủ nghĩa sô-vanh ngạo mạn, hình như cho rằng các bác sĩ nam giới thuộc loài thượng đẳng đứng ở nấc trên cùng của bậc thang tiến hóa. Một năm trước, họ đã va chạm khi chị đang làm vụ basajaun. Chị phóng vào anh ta cái nhìn khó chịu lúc bước vào, và thầm hài lòng thấy anh ta cụp mắt xuống. Từ lúc đó trở đi, anh ta hướng những nhận xét vào chị và chỉ bắt gặp cái nhìn thoáng qua của chị.

– Bệnh nhân Valentín Esparza nhập viện lúc mười hai giờ bốn lăm trưa nay, bị mười hai vết thương nghiêm trọng vào bụng do một vật dài và sắc gây nên. Da bị đứt vài chỗ, vỡ vài cơ quan nội tạng và nhiều động mạch chính. Anh ta được đưa thẳng vào phòng phẫu thuật, chúng tôi đã cố chặn chảy máu trong, nhưng các vết thương chứng tỏ là chí tử. Valentín Esparza được tuyên bố tử vong vào lúc một giờ mười phút. - Martínez-Larrea gập tờ giấy vừa đọc rồi ra khỏi phòng, các nhân viên y tế theo sau.

– Tôi muốn nói chuyện với ông, - Amaia nói với viên giám đốc trại giam, phớt lờ vẻ mặt tái mét, lo âu của ông ta.

– Có lẽ để sau, - ông ta gợi ý. - Tôi cần báo tin cho người thân của anh ta, thẩm phán…

– Ngay bây giờ, - chị kiên quyết và quay sang những người khác. - Các quý ông, nếu các vị không phiền xin để chúng tôi lại một lát.

Ngay khi chỉ còn lại hai người, viên giám đốc sụp vào ghế, rõ ràng là hoảng hốt. Amaia đứng ngay trước mặt ông ta.

– Giải thích cho tôi chuyện quái quỷ gì đang diễn ra trong trại giam của ông. Sao có thể trong một tháng qua có ba tù nhân chết trong phiên trực của ông, tất cả đều liên quan đến các vụ tôi đang làm, chỉ riêng trong tuần qua đã có hai người chết? - Ông ta không trả lời, vùi mặt vào bàn tay. - Các vụ tự tử như bác sĩ Berasategui và Garrido, tôi có thể hiểu ở mức độ nào đấy, vì nếu có người muốn tự kết liễu đời mình thì khó mà ngăn họ lại. Nhưng điều mà tôi không thể giải thích nổi, và tôi tin chắc bất cứ thường dân nào cũng đồng ý với tôi, là ông có thể cho phép một nghi phạm giết con ở lẫn với các bạn tù khác. Ông đã buộc anh ta phải chết và tôi chắc chắn rằng ông phải chịu trách nhiệm.

Giám đốc có vẻ phản ứng; ông ta bỏ hai bàn tay khỏi mặt, siết chặt lại trước mặt chị, van xin.

– Tất nhiên hắn không được phép giao thiệp với các bạn tù khác, tôi không phải kẻ ngốc. Chúng tôi đã bố trí hắn ở nơi canh gác nghiêm ngặt nhất ngay khi hắn vừa tới. Hắn bị giam trong xà lim cách ly để ngăn ngừa tự tử, giám sát 24/24. Chúng tôi xếp một bạn tù cùng phòng với hắn, một gã tính tình hiền hòa mắc tội biển thủ, chỉ còn một tháng giam giữ.

– Vậy sao lại có chuyện đó? Ai tiếp cận hắn? Ai giết hắn?

– Tôi thề với cô, tôi không hiểu… Là hắn, tên bạn tù đáng tin kia, hắn đâm Esparza bằng chuôi bàn chải răng mài sắc.

Amaia ngồi xuống ghế đối diện ông ta, lặng lẽ quan sát viên giám đốc có vẻ kiệt quệ thực sự. Chị tự hỏi làm sao sự việc lại đi đến chỗ khỉ nợ này, bây giờ rõ ràng là “trùng hợp ngẫu nhiên” vì mọi người đều bị kéo vào vụ “không ra vụ” này - khó mà coi là một cuộc điều tra thích đáng - kết cục đều dẫn đến cái chết. Vài phút sau, chị đứng dậy và đi ra, chán phải nhìn vẻ yếu đuối của viên giám đốc.

Ở Pamplona trời rét, và mặt đất vẫn ướt vì trận mưa lúc trước. Bây giờ bầu trời sáng sủa, mặc dù mặt trời không ló ra, chỉ có ánh sáng rực rỡ đến chói mắt. Lúc đi ra xe, Amaia giải thích với Jonan việc Esparza chết ra sao, hơi thở của chị tạo thành nhiều cuộn khói quanh mặt. Nếu nhiệt độ tiếp tục giảm sâu và không mưa, chỉ qua đêm mặt đất có thể đông cứng. Điện thoại của Jonan reo. Anh nhận cuộc gọi, giơ bàn tay rảnh như để ra hiệu cho chị im lặng trong lúc anh lắng nghe người ở đầu dây bên kia nói.

– Là cuộc gọi chúng ta đang đợi, - anh thuật lại lúc nghe xong. - Từ phòng hộ chiếu. Hình như họ du lịch đến Anh vào ngày…

Chị nhăn mặt.

-… Nhưng trên hộ chiếu của họ không ghi tên đứa con nào, đầu mối của tôi cam đoan rằng họ không thể đưa con bé ra khỏi đất nước mà không có giấy tờ hợp lệ.

– Từ rất lâu về trước, người ta có thể đổ cho lỗi hành chính và chúng ta không có cách nào chứng minh được điều đó.

– Còn một việc nữa, họ chỉ ở lại đó trong kỳ nghỉ cuối tuần; tôi không biết vì sao cô bé có thể chết vì xuất huyết não, được khám nghiệm tử thi và kịp chôn cất chỉ trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.

– Cậu nghĩ sao, Jonan?

– Tôi nghĩ họ đến Anh và không mang con gái, chỉ để tạo ra cho mình chứng cứ ngoại phạm, một lời giải thích có sức thuyết phục, có thể sử dụng nếu bất cứ người nào hỏi về con bé. Tôi nghĩ nó chưa từng đến London.

Amaia đứng không nhúc nhích, lặng lẽ, đăm đăm nhìn phó thanh tra Etxaide lúc cân nhắc giả thuyết của anh.

– Bây giờ chúng ta làm gì đây? - Anh hỏi.

– Cậu về nhà đi, tôi sẽ nói chuyện với thẩm phán Markina.

Lúc đó quá sớm để ăn tối, nên lần này Markina đề nghị gặp nhau tại một quán cà phê yên tĩnh, trang trí bằng đồ đạc của một phòng bào chế thế kỷ XIX, ánh sáng nhẹ nhàng, nhiều ghế thoải mái và tiếng nhạc êm dịu. Amaia cảm thấy khoan khoái vì hơi ấm dễ chịu lúc cởi áo khoác.

Markina ngồi một mình ở cuối phòng, đăm đăm nhìn vào khoảng không, trầm ngầm. Ông mặc bộ com lê đen trang trọng, áo gi lê và thắt cà vạt. Amaia chậm rãi đi từ quầy tới bàn; chị ít có dịp quan sát ông mà không phải đối diện với cái nhìn chăm chú của ông. Thái độ uể oải tạo cho ông một vẻ lãng mạn rất Anh quốc, phong thái ung dung thanh lịch với vẻ gợi tình hấp dẫn không cưỡng nổi. Amaia thở dài và thầm ân hận, quyết chỉ tập trung làm tốt vụ của mình, giành được sự ủng hộ của ông; thiếu nó chị không thể tiến xa hơn vào mớ bòng bong ấy, nơi mỗi bước của chị, mỗi dấu vết mới chị lần theo đều bị câm lặng bởi lý lẽ đầy sức thuyết phục nhất. Là cái chết.

Markina mỉm cười khi trông thấy chị, ông đứng dậy kéo ghế cho chị.

– Xin ngài đừng làm thế, - chị nói.

– Bao giờ cô mới bắt đầu dùng từ anh thân mật với tôi đây?

– Tôi tới đây vì công việc.

Ông mỉm cười.

– Tùy cô thôi, thanh tra Salazar.

Người phục vụ mang tới hai cốc vang và đặt xuống bàn.

– Tôi hình dung phải có việc quan trọng cô mới đề nghị gặp tôi.

– Ngài đã nghe về cái chết của Esparza…

– Có, tất nhiên rồi. Tôi nhận cuộc gọi từ tòa án. Tôi đã nói chuyện với giám đốc trại giam qua điện thoại, và ông ta đã giải thích mọi sự. Thật không may, những việc này cứ xảy ra. Những kẻ giết con có một thời gian khắc nghiệt trong tù.

– Vâng, ngoài việc kẻ tấn công hắn trước đó không có tiền sử bạo lực và sắp được thả.

– Tôi chắc cô thừa biết, nhiều phép tắc có hiệu lực trong tù rất khác so với bên ngoài. Theo kinh nghiệm của tôi, loại thái độ và phản ứng mà chúng ta cho là sáng suốt không áp dụng ở trong đó. Thực tế kẻ tấn công không phải là một kẻ giết người không có ý nghĩa gì nhiều. Tình trạng cấp bách thúc đẩy người tù bởi những gã bạn tù có thể khiến hắn hành xử theo những cách hắn chưa bao giờ nghĩ đến ở thế giới bên ngoài.

Chị im lặng lắng nghe ông.

– Tuy vậy, tôi không nghĩ cô tới đây để nói về một tù nhân đã chết, phải không thanh tra Salazar?

– Không chỉ vì hắn đã chết, mà vì lời hắn nói với tôi lúc còn sống cũng như vài thứ khác chúng tôi đào bới được trong những cuộc thẩm vấn. Esparza bị đồng tiền ám ảnh, tới mức suýt bị loại khỏi gia đình nhà vợ. Chưa kể đến việc hắn giết con gái, khi tôi hỏi cung, hắn đã nói một câu rất lạ. Hắn khăng khăng rằng đã giao nộp con gái “giống như mọi vật hiến tế khác”. Hắn nói với tôi hắn mang xác con đi vì cần làm xong một việc. Tôi tin Esparza đã bị thuyết phục phải thực hiện một loại nghi lễ nào đó dính líu đến xác con gái, một nghi lễ quan trọng. Hắn bảo vợ là cần phải có đứa con khác thay thế bé gái đã chết, và từ nay trở đi, tài sản của họ sẽ khấm khá hơn nhiều. Hôm qua, tôi vừa yêu cầu nói chuyện riêng với hắn, vậy mà hôm nay hắn đã chết.

Markina ra hiệu cho chị tiếp tục.

– Rồi đến trường hợp của Berasategui. Lý do tôi đến thăm hắn trong tù là hỏi hắn và Rosario đi đâu từ lúc rời khỏi bệnh viện tới lúc tấn công nhà cô của tôi và bắt cóc con trai tôi. Chắc ngài còn nhớ đêm ấy có bão. Tôi tin rằng họ tới ẩn náu ở nơi nào đó, chúng tôi đã xác minh hắn không đến nhà bố hắn, vì thế có lẽ là tới một ngôi nhà nông trại hoặc một túp lều của người chăn cừu… Nhưng bây giờ Berasategui cũng đã chết, nên không thể trả lời thêm bất cứ câu hỏi nào.

Markina gật đầu lần nữa, vẫn chăm chú lắng nghe.

– Rosario là thành viên của một giáo phái thành lập vào cuối những năm 70, đầu 80 ở Baztán. Một nhóm giả mạo thờ cúng quỷ Xa tăng đã cử hành những cuộc hiến tế gia súc và còn định đi xa hơn đến mức đề xuất hiến tế người, trẻ sơ sinh hoặc trẻ con. Hình như các giáo phái này tin rằng trẻ em dưới hai tuổi ở lửng lơ giữa hai cõi âm và dương, và thích hợp nhất cho mục tiêu của họ. Chính điều đó đã đưa chúng tôi tới Elena Ochoa, người phụ nữ mới chết hôm kia ở Elizondo. Elena là bạn cũ của mẹ tôi, Rosario. Họ cùng tham gia nhiều cuộc họp, cho đến khi Elena không thể chịu nổi sự tàn bạo của các nghi lễ và rời bỏ nhóm. Elena cho tôi biết ngôi nhà nông trại ấy ở đâu, và tôi đã tới xem vì tò mò. Các chủ nhân là thành viên đầu tiên của giáo phái, họ vẫn sống trong ngôi nhà đó, song nó đã được sửa sang và tân trang đến mức không thể nhận ra. Họ cũng có một đứa con gái tên là Ainara chết khi mười bốn tháng tuổi, và theo lời họ là trong một chuyến đi tới Anh. Chúng tôi đã kiểm tra câu chuyện của họ, và không tìm thấy dấu vết của giấy chứng tử, không có bất cứ hồ sơ nhập viện nào, không có bằng chứng đứa trẻ từng đi du lịch ở đó: không có tên bé trong hộ chiếu của bố mẹ, mặc dù hồi đó là điều bắt buộc khi muốn đưa một đứa bé ra khỏi đất nước. Chúng tôi cũng có một nhân chứng nhận dạng chiếc ô tô của Berasategui đã đỗ ở bên ngoài cơ ngơi đó hơn một lần. Cặp vợ chồng ấy thừa nhận quen biết Berasategui, nhưng khi tôi hỏi về bản chất quan hệ của họ, họ đẩy tôi đến gặp các luật sư của mình, một cặp vợ chồng giàu có hiện đang hành nghề ở Pamplona. Đồng thời, chúng tôi đang xem xét tất cả các vụ trẻ em dưới hai tuổi chết vì SIDS trong năm năm qua ở vùng này. Sau khi loại bỏ các bé trai, chúng tôi tìm ra ba trường hợp đáng quan tâm. Điều chúng tôi quan tâm không phải là nguyên nhân tử vong - có vẻ không phức tạp - mà là thái độ của bố mẹ các bé, khả nghi về mọi mặt như thái độ của mẹ tôi vậy, và trên thực tế dịch vụ xã hội đã được mời đến giám sát các cặp có những đứa con khác. Tất cả ba cặp cùng với mẹ tôi đều liên quan đến ngôi nhà đó, giáo phái đó, một cặp tình cờ còn hành nghề luật ở Pamplona.

– Song Berasategui không có con, - Markina quả quyết.

– Không, - chị thừa nhận.

– Các dịch vụ xã hội đã nhấn mạnh lý do nào đáng quan tâm trong các báo cáo của họ?

– Không có, - chị đáp lại, tức tối.

– Cô đã thiết lập được mối liên quan trực tiếp giữa các gia đình ấy chưa?

– Có lẽ là một y tá đã nghỉ hưu, một bà đỡ đã tham gia mọi cuộc sinh nở.

– Đã nghỉ hưu ư? Bao lâu rồi? Con gái Esparza mới ra đời bốn tháng trước ở bệnh viện Virgen del Camino. Hồi đó bà ta đang làm việc ở đấy sao?

– Không, bà ta là bà đỡ tự do, tên là Fina Hidalgo. Anh trai bà ta là bác sĩ đa khoa Hidalgo, là bác sĩ của gia đình tôi và nhiều gia đình khác trong vùng. Bà ta là trợ lý cho anh trai trong nhiều năm. Hồi ấy theo phong tục, các chị tôi và tôi đều sinh ra tại nhà. Chính Fina kể với tôi là sau khi anh trai qua đời, bà ta đã làm việc ở nhiều bệnh viện khác nhau và tuy đã nghỉ hưu, bà ta vẫn hành nghề đỡ đẻ một cách độc lập. Gia đình Esparza không gặp bà ta ở bệnh viện. Valentín đã đưa Fina đến nhà họ để cố thuyết phục vợ sinh nở tại nhà.

Markina có vẻ hoài nghi, ngụ ý những lập luận của chị còn nông cạn. Chị cố gắng gấp đôi:

– Còn vài lý do nữa để nghi ngờ sự dính líu của Fina Hidalgo: bà ta trông nom mẹ tôi trong ngày tôi và người chị song sinh đã chết của tôi ra đời; anh trai của Fina ký giấy chứng tử cho chị tôi; bà ta cố có mặt trong dịp sinh con gái của Esparza, và tôi ngờ bà ta cung cấp các trẻ em khác nữa.

– Cô ngờ, có nghĩa là cô chưa chắc chắn?

– Vâng, - chị thừa nhận. - Muốn biết chắc, tôi cần lục soát các hồ sơ mật của Hidalgo về giấy chứng tử của trẻ em.

– Cô đang gợi ý Fina Hidalgo là một thiên sứ của thần chết?

Amaia ngẫm nghĩ. Các thiên sứ của thần chết được tin rằng mang đặc tính thực hiện vai trò nhân đạo quan trọng bằng cách giết đồng loại của mình. Họ thường làm việc trong ngành y tế hoặc trong các viện dưỡng lão, chăm sóc người ốm và người già, những người khuyết tật về thần kinh hoặc thể chất. Thông thường, họ là phụ nữ. Vì vậy họ chọn nạn nhân là những người thể chất ốm yếu, có chết cũng ít bị nghi ngờ, nên khó bị phát hiện. Rất hiếm khi họ thôi giết chóc, vì tin rằng hành động của mình là hợp pháp, và nạn nhân tiềm năng của họ rất nhiều. Họ khẳng định động cơ của mình chỉ là động lòng trắc ẩn, thường rất an toàn và thận trọng với những người đau khổ.

– Trong một lần trò chuyện với Fina Hidalgo, bà ta thừa nhận rằng thỉnh thoảng khi một đứa trẻ sinh ra ốm yếu hoặc biến dạng, cần phải giúp cho bố mẹ nó giải thoát gánh nặng nuôi dưỡng một đứa con như thế.

– Có ai nữa trong cuộc nói chuyện ấy không?

– Không.

– Chắc chắn bà ta và những cặp liên quan sẽ phủ nhận.

– Đấy chính là lời của bà ta.

Markina vẫn tư lự trong vài giây. Ông ghi gì đó vào sổ và nhìn Amaia lần nữa.

– Ngoài lệnh khám xét, cô còn cần gì nữa?

– Nếu chúng tôi tìm thấy các giấy chứng tử trong đống giấy tờ của bác sĩ Hidalgo, chúng tôi cần lệnh cho phép khai quật.

Markina thẳng người lên trên ghế, cau mày nhìn chị.

– Để làm gì? Hôm nay đã chôn cất con gái Esparza.

– Khai quật xác của các bé gái mà bố mẹ chúng có vẻ sung sướng vì cái chết của con, con gái của những cặp tôi vừa nói trên.

– Tôi sẽ cho cô lệnh khám xét các hồ sơ mật của bác sĩ Hidalgo, nhưng cô phải hiểu sự nghiêm trọng của điều cô đang yêu cầu. Cô phải cho tôi thấy bằng chứng không thể bác bỏ được rằng các bé gái ấy bị giết, nếu tôi để cô quấy rối mồ mả của chúng. Khai quật là công việc phức tạp vì gây lo lắng và đau đớn cho những người thân. Bất cứ thẩm phán nào cũng phải suy nghĩ kỹ càng và cứng rắn mới cho phép, nhất là khai quật mộ một đứa trẻ, còn cô lại yêu cầu tôi cho đào ba cái. Chúng tôi bị sức ép rất lớn từ truyền thông và trừ khi chúng tôi tuyệt đối tin chắc vào thứ sẽ tìm thấy, chúng tôi có cơ khiến nhiều người lo lắng và kinh hãi.

– Nếu chúng tôi có lý do chắc chắn để nghi ngờ chỉ một trong những đứa trẻ ấy bị giết, thì bất cứ hành động nào cũng là công bằng, - chị đối đáp.

Markina nhìn chị, rất ấn tượng vì sự quyết liệt của chị, song ông vẫn cứng rắn. Amaia định phản đối, nhưng ông giơ một tay lên.

– Trong lúc này, chúng ta không có gì dự phòng. Cô nói các dịch vụ xã hội không tìm thấy bằng chứng ngược đãi, các biên bản khám nghiệm tử thi đều ghi chết do nguyên nhân tự nhiên. Thái độ của bà đỡ làm tôi nghi ngờ, nhưng chưa tìm ra mối liên kết trực tiếp giữa những người ấy. Trên thực tế, một số người quen biết nhau hoặc liên kết với một công ty luật riêng, giống như câu châm ngôn là có sáu mức ngăn cách giữa chúng ta và Tổng thống Mỹ. Cô cần đưa ra chứng cứ vững chắc hơn. Tuy nhiên, tôi báo trước rằng đối với tôi, lệnh khai quật xác trẻ em là vô cùng ghê tởm và tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để tránh làm việc đó. - Markina có vẻ thiếu tự nhiên rõ rệt. Giọng nói bình thản thường lệ của ông để lộ sự giận dữ hòa trộn lo âu khiến gương mặt ông có một vẻ thâm trầm mới mẻ, thoáng dấu vết chín chắn và hứa hẹn mà chị chưa từng thấy cho đến lúc này, và không hề giảm bớt sự quyến rũ của ông, khiến ông càng mạnh mẽ hơn và nam tính hơn. Ông đứng dậy, cầm áo khoác. - Tôi nghĩ chúng ta nên tản bộ một lát.

Amaia theo ông ra ngoài, ngay lập tức chị ngạc nhiên và thích thú thái độ của ông.

– SIDS là một trong những phát minh kinh khủng nhất của tự nhiên. Một người mẹ đặt con vào giường, và khi đến kiểm tra thì con đã chết. Tôi tin chắc rằng là mẹ, cô chẳng khó khăn gì để hình dung nỗi kinh hoàng của sự kiện tình cờ, khó hiểu có thể xảy ra cho một gia đình. Nỗi sợ đã làm một việc sai trái hoặc bị nguyền rủa nhấn chìm họ vào ác mộng triền miên, đầy mặc cảm tội lỗi, đau buồn và ngờ vực. Sự bất ngờ của những cái chết như thế nảy sinh những phản ứng không phải lúc nào cũng sáng suốt; nhiều người bị rồ dại nhất thời, ở nơi bất kỳ phản ứng nào tuy phi lý có thể được coi là bình thường… - Ông ngừng lại giây lát, dường như ngẫm nghĩ đến hàm ý ghê rợn về điều đang nói.

Amaia không có sự lão luyện trong cư xử để nhận ra Markina bị chủ đề này tác động sâu sắc đến nhường nào: rõ ràng kiến thức và sự tinh tế khi ông quan sát nỗi đau khổ do mất mát kiểu này gây ra xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp.

Họ lặng lẽ đi một lát, băng qua đường tới Trung tâm Đại hội Baluarte, đi theo con đường dạo chơi. Một loạt những câu hỏi chen lấn nhau trong đầu Amaia, và quá trình huấn luyện để làm một điều tra viên mách bảo chị rằng nếu chị đợi, những giải pháp sẽ tự đến, còn hỏi gặng chỉ khiến ông im thin thít. Markina là người thông minh, có văn hóa và có giáo dục, nghề thẩm phán đem lại cho ông ấn tượng đáng tin cậy, khả năng tự chủ và không thể sai lầm. Chắc chắn ông đang tự cân nhắc xem liệu có nên tiếp tục là người ngay thẳng hay nên rút về vị trí thuận lợi, an toàn cho địa vị của ông. Amaia nhận thấy ông chậm bước, chỉ đủ tránh cái nhìn chăm chú của chị, mỗi bước là một cái cớ hoàn hảo để không nhìn vào mắt chị khi nói.

– Năm tôi mười hai tuổi, mẹ tôi có thai. Vì cha mẹ tôi không còn trẻ nên tôi hình dung đây là việc ngoài ý muốn. Tuy vậy, họ sung sướng và tôi chưa bao giờ thấy họ vui đến thế khi em trai tôi ra đời. Nó được ba tuần tuổi thì có chuyện xảy ra. Mẹ tôi cho nó bú bữa sáng, thay tã và đặt nó vào giường cũi. Khoảng trưa, chúng tôi nghe thấy bà la hét. Tôi còn nhớ cha tôi và tôi chạy lên gác, thấy mẹ tôi cúi xuống giường em tôi, hà hơi thổi ngạt khi tôi thấy là nó đã chết. Tôi nhớ cha tôi cố kéo mẹ tôi khỏi xác nó, cố thuyết phục mẹ rằng làm thế là không tốt, trong lúc tôi kinh hãi, không biết phải làm gì.

Thỉnh thoảng, tôi nghĩ dường như vẫn nghe thấy tiếng thét của mẹ, những tiếng rú khủng khiếp dâng lên từ họng bà giống tiếng kêu của một con thú bị thương… Việc này tiếp diễn trong nhiều giờ. Rồi sau đó là im lặng, và thế còn tệ hại hơn. Bà không nói, chỉ hỏi con đâu. Với bà, cha con tôi không tồn tại, bà không bao giờ nói với tôi hoặc cha tôi nữa, không bao giờ chạm vào tôi. Thật không thể chịu đựng nổi một đứa trẻ khỏe mạnh chết vì những nguyên nhân tự nhiên. Bà tin chắc mình bị nguyền rủa, mình là một người mẹ tồi. Bà cố tự vẫn, và phải vào bệnh viện tâm thần.

Nỗi đau buồn, cả nghĩ về tội lỗi và bản chất không thể hiểu nổi cái chết của đứa con khiến bà hóa điên. Bà quên hẳn mình có một người chồng, quên hẳn mình có một đứa con nữa, và bà tự khép mình với nỗi đau thương của bà.

Amaia dừng lại. Ông đi vài bước rồi cũng dừng. Chị đi lên ngang hàng với ông, quay nhìn ông. Chị thấy mắt ông đẫm lệ, và lần đầu tiên ông ngoảnh đi, cho phép chị quan sát ông kỹ lưỡng. Chị thích thấy ông như thế này. Thấy một con người đằng sau mặt nạ đầy nam tính hoàn hảo. Chị có bản năng không thích sự hoàn hảo, và lúc này chị nhận ra thứ quấy rầy chị ở ông: vẻ đẹp, sự thanh lịch và bề ngoài bóng bẩy của ông. Chị có thể đánh giá cao những phẩm chất ấy ở bất cứ người nào, nhưng cách diễn đạt hoàn hảo, nụ cười hoàn hảo của ông luôn khiến chị nghi ngờ. Bây giờ chị nhận ra rằng giống hệt chị, chắc chắn Markina hoàn toàn điều khiển được cuộc đời mình, ráng sức gạt bỏ nỗi đau và sự sỉ nhục vì bị chính người lẽ ra yêu thương mình hắt hủi, bị chính người lẽ ra che chở mình từ bỏ. Chị hài lòng biết rằng, bên trong cơ thể hoàn hảo kia sôi sục một lò lửa mà Markina rèn giũa một cuộc sống lý tưởng, trong đó không có gì thoát khỏi tầm điều khiển của ông. Amaia vô cùng mãn nguyện vì phát hiện ra chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt mà những người như Markina áp dụng cho cuộc sống của họ, nhưng hơn hết thảy là cho chính bản thân họ. Chị có thể tán thành những quan điểm của ông không ít thì nhiều, nhưng khi phải chiến đấu vai kề vai với một người nào đó, nó giúp ta hiểu rằng họ là người chính trực, rằng họ sẽ không phản bội ta.

Ông nhìn chị, cái nhìn đầy ân hận.

– Tôi không sốc vì bất kỳ phản ứng nào ở bất kỳ người nào mất con như thế, - ông nói tiếp. - Tả cho tôi nghe thái độ điên rồ nhất của một cặp vợ chồng trong lúc đau thương, tôi sẽ tin cô. Tôi từ chối mở mộ vì chỉ gây ra hàng loạt đau khổ. Trừ khi cô đưa đến cho tôi một nhân chứng thực sự trông thấy ai đó giết trẻ con, hoặc lời khai của nhà bệnh lý học thực hiện những cuộc khám nghiệm tử thi đó, rút lại những phát hiện ban đầu và trình ra chứng cứ mới, tôi từ chối cho phép mọi cuộc khai quật mộ trẻ em.

Amaia gật đầu. Chị không thể kìm sự tò mò hơn được nữa.

– Chuyện gì xảy ra với mẹ ông vậy?

Markina ngoảnh đi, nhìn dãy đèn màu cam đứng như những người lính gác dọc đại lộ.

– Hai năm sau mẹ tôi chết trong nhà thương điên. Một tháng sau đó, cha tôi cũng qua đời.

Amaia giơ bàn tay đeo găng ra, cho đến khi chạm vào tay ông. Sau này, chị tự hỏi vì sao mình lại làm vậy. Động chạm vào một người nào đó có thể mở ra một con đường tới cả hai hướng. Chị cảm thấy hơi ấm của bàn tay ông qua lớp găng da, giống như dòng điện truyền qua chị. Ông rời cái nhìn chăm chú khỏi những ngọn đèn đường, nhìn lại chị lúc siết chặt tay chị và đưa lên môi. Ông giữ nó ở đó đủ lâu để nụ hôn dịu dàng trên các đầu ngón tay thấm qua găng vào da chị, xương chị, truyền đi như một làn sóng nén chạy qua hệ thần kinh của chị. Lúc ông buông ra, Amaia tiếp tục cuộc đi dạo bị phá rối, chị lúng túng, quyết không nhìn ông, dấu vết môi ông vẫn nóng bỏng trên bàn tay chị, dường như chị vừa bị quỷ dữ hôn vậy. Hoặc một thiên thần.

Phó thanh tra Etxaide thay áo khoác bằng chiếc áo Puffa màu xám có mũ trùm, khiến anh mừng khi đi tới đi lui trên phố, cho đến lúc nhìn thấy họ rời quán rượu. Anh vẫn giữ khoảng cách thận trọng lúc theo họ xuyên trung tâm thành phố. Sự việc càng trở nên phức tạp lúc họ băng qua đường tới Trung tâm hội nghị, vì lối đi dành cho người đi bộ không phải chỗ ẩn nấp, mặc dù anh mặc chiếc áo Amaia chưa trông thấy lần nào, song chị có thể nhận ra anh và anh không muốn liều lĩnh. Một nhóm thanh niên đi cùng hướng là một giải pháp tuyệt vời. Không bỏ lỡ tầm nhìn thấy Amaia và Markina, anh nhập vào tốp đó, giả vờ là người trong nhóm cho đến khi họ tới các bậc lên tòa nhà, nơi ấy rõ là rét, họ ngồi xuống tán gẫu. Etxaide leo lên bậc, giả vờ quan tâm tới thông báo về các hội nghị và triển lãm sắp tới. Cặp đôi đã quay về đại lộ. Họ đi rất gần nhau. Anh có thể thấy họ trò chuyện nhưng không thể nghe thấy họ nói gì, và nhận thấy bàn tay họ thoáng chạm vào nhau. Ngôn ngữ cơ thể để lộ sự thân mật giữa họ, quên hết mọi thứ khác, có lẽ vì thế họ không trông thấy anh đang quan sát từng chuyển động của họ.

Xe của chị đỗ cách đó ba khối nhà. Amaia đi lặng lẽ, cảm nhận sự có mặt của Markina cạnh chị, nhưng không đủ can đảm quay lại và nhìn ông. Mặc dù chị ân hận vì sự táo bạo đã đẩy chị chạm vào ông, đồng thời chị cảm thấy sự kết hợp thầm kín với ông vì phần bất thường nhất trong đời mình: cả hai đều bị mẹ bỏ rơi. Chị trở thành trọng tâm lòng căm thù của Rosario, còn trong trường hợp của Markina, một người mẹ đau buồn đã ích kỷ bỏ rơi đứa con đang sống vì thương nhớ đứa con đã chết. Chị nghĩ đến Ibai và cảm thấy gần gũi lạ lùng với người đàn bà đó, vì nếu có chuyện gì xảy ra cho thằng bé, cuộc đời này sẽ chấm dứt. Tình yêu của chị với James, Ros và bà Engrasi có đủ giữ chị đi tiếp? Nếu Ibai là con lớn nhất của chị và chị mất đứa khác? Chị có thể yêu đứa con khác hơn yêu Ibai không? Một người mẹ có thể yêu đứa con này hơn đứa khác được không? Câu trả lời là có. Đây là một thực tế rõ mồn một trong những người thực hiện hành vi, mặc dù nhiều thế kỷ qua con người vẫn duy trì sự dối trá, bằng chứng là các bậc cha mẹ yêu thương mỗi đứa con một kiểu, họ nuôi dưỡng mỗi đứa con theo một cách khác nhau, với những quy định khác nhau. Nhưng có thể căm ghét một đứa con trong những đứa khác, lọc nó ra vì sự hãnh diện đáng ngờ? Có thể căm ghét một đứa con đến mức giết nó, trong khi chăm sóc và bảo vệ những đứa khác? Ngay cả những kẻ sát nhân loạn trí nhất cũng tuân theo một khuôn mẫu, một khuôn mẫu bất thường mà điều tra viên phải cố hiểu sự hợp lý méo mó của nó. Amaia tin chắc rằng mẹ chị không điều chỉnh nổi thái độ vì những giọng nói hiểm độc trong đời bà, hoặc do một số bất thường trong cơ cấu bộ não của bà, đúng hơn là một lý do mơ hồ song đầy uy quyền đã ra lệnh cho bà đối xử với Amaia và người chị song sinh, trong khi tha cho Flora và Ros.

Chị tự hỏi Markina đã đối phó ra sao nếu thực sự phải thế, ông đã sợ hãi đến mức nào khi mất toàn bộ gia đình chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, từ một khung cảnh hạnh phúc, gần như bình dị lao thẳng xuống một bi kịch cá nhân thê thảm nhất. Sau này, vận số của ông đã khá hơn, ít ra ông đã có thể tập trung vào học hành, nghiên cứu, có một sự nghiệp… Mặc dù không biết Markina bao nhiêu tuổi, chị nghe đồn ông là thẩm phán trẻ nhất trong giới.

Nhận ra xe mình, chị quay sang để nói với ông là họ đã tới nơi, và chỉ thấy ông đang cười.

– Có chuyện gì vui thế ạ? - Chị hỏi.

– Tôi cảm thấy khá hơn vì đã giãi bày tâm sự với cô. Tôi chưa bao giờ kể chuyện này cho bất cứ ai.

– Ngài không có người thân khác ư?

– Cha mẹ tôi đều là con một. - Ông nhún vai. - Nhìn theo khía cạnh tươi sáng, thì tôi là một người giàu có, - ông đùa.

Amaia mở cửa xe, cởi áo khoác và ném lên ghế hành khách. Rồi vội vã vào xe và nổ máy lúc chị cố nghĩ đến cách thiết thực là nói lời tạm biệt.

– Vậy tôi có thể đợi lệnh khám xét hồ sơ của bác sĩ Hidalgo?

Markina ngả người vào trong xe, nhìn chị và mỉm cười.

– Tôi sắp hôn cô đấy, thanh tra Salazar.

Amaia cứng người, không điều khiển nổi thần kinh, hai bàn tay siết chặt vào nhau lúc ông cúi gần. Chị nhắm mắt lúc cảm nhận đôi môi ông, tập trung vào nụ hôn trong mơ, một nụ hôn chị từng mong mỏi từ khi gặp ông, khao khát, gần như thèm muốn khuôn miệng mềm mại, gợi tình của ông, vẫn mong tuy không còn hy vọng, cảm thấy nỗi thất vọng ảm đạm thường theo sau khi đã đạt thứ mình muốn. Thực tế luôn ở đằng sau hình ảnh tưởng tượng.

Nụ hôn ông đặt lên khóe miệng chị quá ư tinh tế, ngắn gọn và dịu dàng, nấn ná chỉ đủ phá vỡ sự phòng thủ của chị. Đôi môi chị hé mở. Lúc đó, ông mới hôn chị đắm đuối.

Lúc rứt ra, ông mỉm cười, kiểu không thân thiện.

– Ngài không nên…

– Ngài không nên làm thế, - ông nói hết câu của chị. - Có thể không, nhưng tôi nghĩ là nên. Cảm ơn đã lắng nghe.

– Làm thế nào ngài vượt qua chuyện đó? - Amaia hỏi, thực sự tò mò. - Làm thế nào ngài xoay xở được với đời mà không bị nó tác động?

– Bằng cách chấp nhận là bà ốm đau, bà mất trí và không chịu trách nhiệm về những hành động của mình, và bà đau khổ hơn bất cứ ai vì chuyện đó. Nếu cô hỏi liệu tôi có luôn luôn nhìn nhận sự việc theo cách ấy không, thì câu trả lời là không, tất nhiên là không, nhưng đến một ngày tôi quyết định tha thứ cho bà, tha thứ cho cha tôi và đứa em trai của tôi, tha thứ chính mình. Cô nên thử xem.

Chị cười gượng.

– Tôi có thể trông mong vào lệnh khám xét không?

– Cô sẽ không từ bỏ chứ? Nếu tôi từ chối cho cô lệnh khai quật, cô sẽ nghiên cứu các hồ sơ, và nếu cô không tìm thấy gì ở đó, cô sẽ xem xét ở nơi nào khác, nhưng sẽ không bao giờ từ bỏ. Cô là một thám tử đích thực.

Chị nhận lời nhận xét của ông, nắm chặt tay lái lúc ngồi thẳng lên trên ghế. Mặt chị rạng ngời vẻ quyết tâm.

– Ngài nói đúng, tôi sẽ không bao giờ từ bỏ. Tôi tôn trọng lý do từ chối lệnh khai quật ở thời điểm này, nhưng tôi sẽ mang đến cho ngài thứ ngài muốn. Tôi không tin có thể thuyết phục nhà bệnh lý học công nhận bà ta đã sai lầm trong các biên bản khám nghiệm tử thi. Tôi không thể trông đợi người nào đó dính líu đến vụ tự sát chuyên nghiệp mà không có chứng cứ vững vàng, trong vụ này chứng cứ ấy tình cờ nằm dưới ba tấc đất. Tuy vậy, nếu các nhân chứng của tôi không chết trước tôi, tôi có thể lấy được lời khai của một trong các cặp vợ chồng ấy; không chắc các cặp đều phạm tội như nhau. Hôm nay tôi đã thẩm vấn vợ Esparza, và mặc dù cô ta không thừa nhận hắn giết con gái, song lời khai của cô ta thật đáng giá. Tôi sẽ thu thập những lời khai ấy, tôi sẽ nộp cho ngài thứ ngài muốn, và ngài sẽ không còn lựa chọn khác ngoài việc cấp cho tôi lệnh đó. - Vẻ mặt Markina sầm lại. Nhận thấy giọng mình trở nên cứng rắn, chị cười và vui vẻ nói. - Bây giờ thưa ngài, xin ngài tránh sang bên, tôi sắp đóng cửa.

Nhẹ nhàng đóng cửa xe, ông lùi lại trên hè. Ông đứng đó, nhìn theo một lúc lâu sau khi chị đã hòa vào dòng xe cộ.

❀ ❀ ❀

[1] Khu chăm sóc đặc biệt trong bệnh viện.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.