Người phụ nữ ở Lau Haizeta chào đón Amaia với vẻ hiếu khách y hệt lần trước. Amaia nấn ná ở bên ngoài, vuốt ve đàn chó. Đã cuối mùa đông, và mùa xuân chỉ mới lượn lờ đâu đó, lông mấy con chó tạo thành những túm dài, xoắn như những bộ lông cừu mà chúng canh gác.
– Nếu cô cưng nựng chúng quá nhiều, chúng sẽ theo cô đi khắp nơi đấy, - người đàn bà báo trước, bà thò đầu qua cửa báo cà phê đã sẵn sàng. Nhưng Amaia còn lần lữa thêm một lát, cười to lúc lũ chó nhẩy cẫng lên, tranh nhau đòi chị chú ý, trò chơi của chúng giống như làn gió nhẹ, rốt cuộc đã xua tan nỗi giận và cơn bực bội canh cánh bên lòng chị. Vẻ tự mãn của Fina Hidalgo lúc ngồi trong bếp như một nữ hoàng kiêu hãnh ngự triều, giống như công khai thừa nhận tội lỗi. Cách bà ta mời Amaia quả óc chó, nhìn thẳng vào mắt chị, biết rằng chị hiểu cũng là một lời thầm thú tội. Tuy thông cảm với sự phẫn nộ của Iriarte, lập luận của Jonan và lý lẽ bào chữa của Montes, chị thấy rõ ràng thông tin bị rò rỉ từ đồn cảnh sát. Theo đánh giá của chị, Zabalza vẫn là người hành động không ai lường trước được, anh ta có một cái gì đó không đúng đắn. Có lẽ thứ khó chịu chính là những nỗ lực của anh ta cố tỏ ra “bình thường” để hòa nhập với mọi người, trong khi vẫn giữ nguyên là chính mình. Chị biết Zabalza không ưa chị, nhưng anh ta không có bổn phận phải ưa chị là một cảnh sát giỏi, nhiều lần chị đã nghĩ Zabalza có thể có những phẩm chất như thế, song chị vẫn không tin anh ta. Hơn nữa, không có chứng cứ về bất kỳ mối quan hệ nào giữa Zabalza và Fina Hidalgo, và chị nghĩ anh ta không ưa mình nhưng không đủ để phá hỏng cuộc điều tra chỉ để chị gặp rủi ro.
Amaia nhấp cà phê trong lúc người đàn bà thết chị bằng một loạt chuyện về chó má, chúng là bạn đồng hành và canh gác tốt ra sao. Một giờ sau, chị liếc nhìn đồng hồ lần nữa. Chị nhận thấy mình đang giết thời gian, vì không biết tiếp theo sẽ làm gì, mọi lựa chọn của chị đã cạn. Chị rút điện thoại, cho người đàn bà xem ảnh Fina Hidalgo và ô tô của bà ta, chụp ở bên ngoài nhà. Người đàn bà nhận ra Fina ngay lập tức.
– Đó là Fina Hidalgo, em gái của bác sĩ. Tôi biết bà ấy đã nhiều năm.
– Bà có trông thấy bà ấy đến thăm Argi Beltz không?
– Nhiều lần, bà ấy là một trong những vị khách thường xuyên, kể cả bây giờ.
Trước khi cất máy, Amaia tìm ảnh Flora cho người phụ nữ xem.
– Tôi cũng nhận ra, tôi đã thấy chị ta trên tivi. Chị ta thực hiện một chương trình về nướng bánh đấy thôi? Tôi nghe nói chị ta gốc gác là người ở đây, trong thung lũng này.
– Bà có trông thấy chị ấy đến ngôi nhà đó không? Bà thử ngó chiếc xe một chút.
– Rất đẹp, nhưng không, tôi chưa từng trông thấy nó.
Amaia chào tạm biệt chủ nhân của Lau Haizeta với cảm giác lẫn lộn, vừa lạc quan vừa thất vọng. Lời người đàn bà xác nhận, khẳng định tất cả những người đó đã đến thăm Argi Beltz có ích không, nếu chị không thể xác lập bất cứ liên kết nào khác giữa họ không chỉ đơn thuần là quan hệ xã hội? Chị lái xe lên đỉnh đồi, đỗ lại ở chỗ nhìn thấy ngôi nhà rõ nhất; sau đó, bất chợt nảy ra một ý, chị lái xuống đồi lần nữa, đỗ bên ngoài cơ ngơi và ngồi, chăm chú ngắm hàng rào che giấu lối vào chính và cửa ga ra. Lúc đó, chị thoáng thấy một chuyển động trong gương chiếu hậu. Giật mình, chị quay lại và thấy một phụ nữ trèo lên cái gò nhỏ mọc đầy cỏ đối diện ngôi nhà và chụp ảnh qua hàng rào bằng ống kính phóng to. Amaia xuống xe và trèo lên con dốc, lớp cỏ dài, trơn trượt cản trở chị. Người phụ nữ ấy trạc bốn mươi tuổi, khỏe khoắn, trang phục thể thao hợp mốt, song cỡ quá nhỏ so với vóc dáng, những nỗ lực leo trèo để lộ ra nhiều nếp mềm nhão nơi bụng. Chị ta mê mải với việc đang làm đến mức không nhận ra sự có mặt của Amaia, cho đến khi chỉ cách chị ta vài mét. Nhìn thấy Amaia, chị ta kêu to:
– Đây là nơi công cộng! Tôi có thể chụp ảnh nếu tôi muốn.
– Bình tĩnh nào, - Amaia cố làm chị ta yên lòng.
– Tránh xa tôi ra, - chị ta quát và lùi ra sau, ngã lên cỏ. Vẫn la hét, người phụ nữ lồm cồm bò dậy. - Mặc tôi, tôi có quyền ở đây.
Amaia rút phù hiệu ra.
– Bình tĩnh nào, không sao đâu, tôi là sĩ quan cảnh sát.
Người phụ nữ ngước nhìn chị, ngờ vực.
– Sao cô không mặc đồng phục?
Amaia mỉm cười, giơ phù hiệu lên:
– Thanh tra thám tử Amaia Salazar.
Người phụ nữ nhìn chị từ đầu xuống chân.
– Cô trẻ quá. Không hiểu sao, nghĩ đến một thanh tra là tôi hình dung một người già hơn cô nhiều.
Amaia nhún vai, vẻ hối tiếc.
– Tôi muốn nói chuyện với chị một chút, nếu chị không ngại?
Chị ta đưa bàn tay lau mồ hôi trên trán, gạt mái tóc cắt ngang sang một bên, song nó vẫn dính bết trên thái dương, rồi gật đầu.
– Tôi nghĩ tốt hơn hết là chúng ta đi xuống? - Amaia gợi ý.
Người phụ nữ bắt đầu đi xuống, chậm rãi, di chuyển nặng nề, vài lần bị trượt trên lớp cỏ dài song không bị ngã. Amaia đưa tay đỡ, chị ta nhận và họ cùng đi xuống tới xe.
– Bọn họ gọi cô à? - Người phụ nữ hỏi lúc họ xuống đường.
– Chị định nói các chủ nhân ngôi nhà ư? - Amaia hỏi và chỉ vào cơ ngơi. - Không, tình cờ tôi lái xe qua đây thì trông thấy chị đang chụp ảnh.
Người phụ nữ cởi áo và buộc tay áo quanh vùng hông đồ sộ. Nách chiếc áo phông sũng mồ hôi.
– Đây không phải lần đầu tiên họ “yêu cầu” tôi rời đi. Nhưng tôi không phạm luật.
– Tôi không yêu cầu gì hết, tôi chỉ muốn biết vì sao chị quan tâm tới ngôi nhà ấy. Chị định mua nó ư? - Amaia nói, khai thác chị ta.
– Mua nó? Thà tôi sống trong đống rác còn hơn. Tôi không quan tâm đến ngôi nhà, mà chỉ quan tâm đến những kẻ giết người đang làm gì trong đó.
Amaia cảm thấy toàn thân căng lên, rồi trấn tĩnh lại, chị hỏi:
– Tại sao chị nghĩ họ là những kẻ giết người?
– Tôi không nghĩ, mà tôi biết. Họ đã giết các con tôi, và bây giờ không chịu trả xác chúng cho tôi, vì thế tôi không có nơi nào để đến mà khóc chúng.
Lý do không thể rõ ràng hơn. Người phụ nữ không chỉ buộc tội cặp vợ chồng kia giết các con mình, mà còn ăn cắp xác chúng. Amaia định đề nghị họ đến nơi nào đó tiếp tục trò chuyện thì nhận ra một thứ đang thiếu.
– Xe của chị đâu? Chị tới đây bằng cách nào?
– Tôi đi bộ… Ờ, cha tôi thả tôi ở gần túp lều của người chăn cừu, đến giờ ăn trưa sẽ đến đón tôi. Vì tôi ốm yếu, các bác sĩ bảo đi bộ hằng ngày sẽ tốt cho tôi, - chị nói thêm. - Tôi không được lái xe vì đang uống thuốc.
– Tôi có thể mời chị một tách cà phê không? Tôi muốn nói chuyện với chị, nhưng không phải ở đây, - Amaia nói.
Người phụ nữ ngờ vực liếc nhìn chiếc xe của Amaia rồi nhìn ngôi nhà, cố quyết định.
– Tôi không uống cà phê vì hại thần kinh, nhưng tôi sẽ đi với cô. Cô đúng vì không muốn nói chuyện ở đây, có Trời mới biết những kẻ sát nhân ấy có thể làm gì.
Trên đường tới Etxebertzeko Borda, Amaia liếc xéo người phụ nữ vẫn đẫm mồ hôi và mùi rất nồng nặc. Tóc chị ta gom lại lộn xộn thành một túm đuôi ngựa, vài dải tóc thẳng rũ xuống lòng thòng. Tuy vậy, mái tóc cắt ngang trán và nhuộm highlight cho thấy chị đã đến thợ làm tóc chuyên nghiệp. Chiếc máy ảnh đeo ở cổ trông đắt tiền, và nữ trang chị ta đeo cũng thế. Móng tay chị ta hơi dài, những chiếc nhẫn lún sâu khó ưa vào những ngón tay mập mạp. Amaia hình dung chị ta lên cân nhanh chóng. Một số người khó khăn khi thừa nhận họ cần cỡ quần áo lớn hơn, hoặc trong trường hợp của chị ta là cỡ gấp đôi.
Amaia đỗ xe gần nhà hàng, và họ lẳng lặng tới lối vào, qua các bàn bên ngoài nơi chị và James ngồi trong mùa hè, từ đó có thể nghe thấy tiếng rì rào của dòng sông. Lúc họ bước qua cửa, một người hầu bàn tiến tới chào đón. Trong lúc Amaia gọi đồ uống, người phụ nữ chọn một bàn xa quầy hết mức có thể, nên sau khi bưng đồ uống tới, người phục vụ trở vào bếp, họ nghe thấy anh ta hòa vào những tiếng phụ nữ huyên thuyên trong đó.
– Cái gì khiến chị nghĩ những người ấy giết các con chị? Chị có nhận thức được sự nghiêm trọng của những lời chị nói không? Chị có bằng chứng không? Chị có biết nếu chị không có, họ có thể kiện chị tội phỉ báng không?
Người phụ nữ trừng trừng nhìn Amaia, ngây ra trong vài giây không nói năng gì. Trông chị ta lúng túng, dường như không hiểu. Amaia tự hỏi loại thuốc chị ta uống là gì, thì chị ta đáp, dữ dội:
– Khi tôi nói những kẻ ấy giết các con tôi, ý tôi là họ chịu trách nhiệm về cái chết của chúng. Có, tôi nhận thức được sự nghiêm trọng của những lời tôi nói, và lẽ tất nhiên tôi có bằng chứng. Tôi không trông thấy họ giết các con tôi, nhưng chồng tôi đã tham gia những nghi lễ độc ác của họ và hiến những đứa con của tôi cho bọn chúng. Như thế còn chưa đủ, chúng còn ăn cắp xác các con tôi, để lại cho tôi những ngôi mộ trống không. - Người phụ nữ rút điện thoại cho Amaia xem một bức ảnh hai trẻ sơ sinh mới ba tháng tuổi mặc pyjamas màu xanh lơ.
– Các cháu chết vì nguyên nhân gì?
Người phụ nữ bật khóc.
– Hội chứng đột tử.
– Cả hai con của chị đều chết vì SIDS ư?
Người phụ nữ gật đầu, vẫn khóc.
– Vâng… trong cùng một đêm.
Amaia lục tìm danh sách của Jonan trong đầu. Chị không thể nhớ ra vụ có hai trẻ sinh đôi chết cùng lúc, và họ không thể bỏ qua một sự trùng hợp ngẫu nhiên tồi tệ như thế.
– Chị có chắc chắn bác sĩ ghi nguyên nhân tử vong không phải là thứ khác chứ? Có thể là suy hô hấp hoặc ngạt, hoặc có thể chúng ngừng thở lúc nôn? Những nguyên nhân đó đôi khi bị nhầm là hội chứng đột tử.
– Các con tôi không bị ngạt, chúng không ngừng thở tới chết, mà chết trong lúc ngủ.
Mặc dù trong nhà hàng mát mẻ, chị ta vẫn đổ mồ hôi, và mùi hăng xè thoát ra từ những hơi thở hổn hển lo lắng từ bên kia bàn phả tới chỗ Amaia. Rõ ràng chị ta không khỏe - chị ta đã nói đang uống thuốc nên không thể lái xe, không uống được cà phê, gợi ý rối loạn thần kinh nghiêm trọng. Amaia nhìn xuống, nhận ra mình đã bị một phụ nữ có vấn đề về thần kinh lôi kéo. Thật kỳ quặc là trọng tâm ám ảnh của chị ta lại đúng vào ngôi nhà ấy và những người ấy, nhưng những miêu tả của chị ta hình như mâu thuẫn với những phát hiện trong cuộc điều tra của Amaia. Trước hết chị ta mất hai bé trai, trong khi các nạn nhân khác đều là bé gái. Trong các biên bản chính thức không hề nhắc tới hai anh em sinh đôi chết đồng thời.
– Tôi chưa bao giờ muốn có con, cô biết không? Đây là do chồng tôi cứ thích thế. Tôi nghĩ mình là người ích kỷ, tôi là con một mà. Tôi thích du lịch, trượt tuyết, tận hưởng cuộc sống. Hơn nữa, khi chúng tôi gặp nhau, tôi đã ba mươi sáu tuổi. Anh ấy trẻ hơn tôi một chút, là người Pháp, rất điển trai. Nhiều người nói anh ấy lấy tôi vì tiền, nhưng khi anh ấy cứ nhất quyết muốn có con, tôi thực sự tin rằng anh ấy muốn khởi đầu một gia đình, nên tôi có thai và mọi sự đã thay đổi. Tôi chưa bao giờ hình dung mình cảm thấy một tình yêu như thế với một người khác; rốt cuộc chuyện đó đã xảy ra, tôi nghĩ mình không có khả năng để yêu thương hoặc chăm sóc họ như nhau. Nhưng Mẹ Thiên nhiên thật khôn ngoan, bà đã làm cho chúng tôi yêu tất cả các con. Vừa trông thấy chúng, tôi đã hết sức yêu thương và trông nom chúng rất chu đáo. Từ ngày các con tôi ra đời, tôi là một người mẹ tốt.
Chị ta nhìn Amaia, hiểu sự im lặng của Amaia là hoài nghi.
– Nhìn tôi bây giờ, có thể cô thấy khó tin, nhưng không phải lúc nào tôi cũng như thế này đâu. Tôi không ngại thừa nhận rằng khi các con tôi chết, tôi đã phát điên, chuyện đó chẳng có gì lạ. Nỗi đau mất con và thấy chồng tôi phản ứng ra sao là quá nhiều, tôi không sao chịu đựng nổi.
– Anh ta phản ứng như thế nào? - Amaia xen vào, và ngay lập tức chị tự trách mình đã ngắt lời.
– Anh ta bảo tôi từ nay mọi việc sẽ tiến triển, tài sản của chúng tôi sẽ được cải thiện. Chúng tôi xây một ngôi mộ nguy nga, chồng cũ của tôi phủ đầy hoa lên đó, nhưng nó trống rỗng như trái tim anh ta vậy, vì vào ngày tang lễ các con, anh ta đã đưa chúng đi mất.
– Chị nói là chồng cũ, hai người đã ly hôn sao?
Người đàn bà cười nhạo báng.
– Tôi không thể đối phó với tình hình. Lúc anh ta báo trước là sau này, tài sản của anh ta được cải thiện, không phải vì chúng tôi cần có thêm tiền; gia đình tôi rất giàu có, sở hữu nhiều mỏ ở Almandoz. Nhưng anh ta muốn có tiền làm của riêng, và một người vợ phải chữa trị tâm thần, tăng hơn bốn chục ki lô, đi lang thang khắp nơi kể lể xác của các con đã bị lấy trộm không khớp với kế hoạch của anh ta. Anh ta bỏ tôi, rồi cưới một ả điếm Pháp, và hiện giờ họ đang mang thai đứa bé… Nếu các con trai tôi còn sống thì đến nay chúng đã ba tuổi.
– Chồng cũ của chị đang sống ở Pháp?
– Phải, trong nhà cũ của chúng tôi ở Ainhoa. Tôi không thể ở lại đó sau những chuyện xảy ra, nhưng anh ta chẳng cần; anh ta sống ở đó với vợ mới và đứa con sắp chào đời.
– Vậy là các con chị chết tại Pháp? - Amaia hỏi.
– Vâng, và đó là nơi coi như chôn cất chúng, trong nghĩa trang đẹp đẽ ở Ainhoa, ngoại trừ một việc là chúng không có ở đó.
Amaia chăm chú nhìn người đàn bà, chị ta có vẻ quên lãng lúc sờ mái tóc cắt ngang trán, ướt mồ hôi và cố vuốt cho gọn.
– Chị có sẵn sàng lập lời khai tại đồn cảnh sát về những việc chị vừa kể với tôi không?
– Tất nhiên là có, - chị ta đáp. - Tôi tăng cân và bị bỏ rơi. Tôi không biết mọi sự xoay vần đến đâu.
– Tôi phải báo trước với chị rằng trừ khi chúng tôi có thể xác minh những lời khẳng định của chị, lời khai sẽ không có giá trị. Tôi muốn chị viết lại mọi điều chị vừa kể với tôi, kể cả ngày tháng và bất cứ chi tiết nào có thể chứng thực cho lời khai của chị. Mọi thứ chị có thể nhớ ra, dù nó có vẻ không quan trọng. Tôi cần có số điện thoại để liên hệ với chị.
Người đàn bà đờ đẫn nhìn Amaia, rồi đáp:
– Cô có bút không?
Phòng họp ở tầng thứ nhất quá rộng cho cuộc họp chỉ có năm người. Thông thường, Amaia gọi cả đội vào phòng làm việc của mình để xem xét các việc buổi sáng, thay vì đứng trước mặt họ phân công nhiệm vụ hằng ngày như một trung úy cảnh sát New York. Tuy vậy, sau cuộc khám xét thất bại ở nhà Fina Hidalgo, chị cảm thấy cần giải thích cho họ về cương vị lãnh đạo, lòng trung thành và bổn phận. Khoảng hai mươi hai cảnh sát đang làm việc theo ca có liên quan được triệu tập, chị bắt đầu tóm tắt các sự kiện khiến họ phải xin lệnh khám xét, những gì bị lộ từ lúc đó và cuộc lục soát sớm thất bại. Chị giải thích những nghi ngờ của mình vì Fina Hidalgo đã đợi họ sẵn, và yêu cầu mọi người có mặt phải loại trừ những quan điểm gây bất lợi cho cuộc điều tra.
Đây là lần đầu tiên Amaia triệu tập họ đến phòng họp; thông thường Iriarte làm việc đó. Anh đang ngồi ở hàng trước, đầu cúi xuống, chắc chắn là lo bị giáng cấp. Chị cẩn thận tránh nhìn hay nhắc đến bất cứ thành viên nào trong đội, nhưng mặc dù chị khéo léo kể đến tất cả mọi người trong bối cảnh thích hợp, rõ ràng thông điệp của chị đặc biệt nhằm thẳng vào họ. Khi cuộc họp chấm dứt, chị đề nghị đội mình ở lại.
– Có nhân chứng mới trình diện.
Tất cả nhìn chị, tò mò.
– Một phụ nữ khẳng định có hai con chết đồng thời vì SIDS. Chị ta cũng nói sau khi các con chết, chồng cũ - họ đã ly dị - đã đến thăm vợ chồng Martínez-Bayón tại nhà họ ở Orabidea, rồi cam đoan với chị ta là tài sản của họ sẽ được cải thiện. Nghe quen quá phải không? Chị ta đồng ý tới đây và lập bản khai vào chiều nay. Tôi muốn cả đội có mặt, và hỏi những câu mà các bạn có thể thấy là thích đáng.
Họ gật đầu.
– Tôi nên báo trước cho mọi người. Chị ta hơi… kỳ cục. - Chị nghĩ cách miêu tả nhân chứng mà không làm giảm lòng tin của họ. - Việc mất các con khiến chị ta bị chấn thương nặng về tâm lý, và đang phải uống thuốc theo đơn, khiến chị ta có vẻ lúng túng. Khi chúng tôi nói chuyện, chị ta có vẻ hoàn toàn tỉnh táo: có thể cung cấp ngày tháng, và thuật lại các sự việc rõ ràng. Tuy vậy, chúng ta cần thẩm tra thực tế, vì dựa vào tình trạng thần kinh của chị ta, luật sư sẽ chẳng khó khăn gì để đả kích tơi bời vụ của chúng ta. Chị ta sẽ tới bất cứ lúc nào.
Yolanda Berrueta mặc bộ đầm màu hạt dẻ, chiếc áo vét hợp bộ vắt trên cánh tay, đi tất quần. Mái tóc sạch sẽ và vừa chải, ghim chặt bằng một cái kẹp to. Chị ta có vẻ lo lắng, nắm chặt cái bìa cứng đựng hồ sơ, in hằn dấu các ngón tay đẫm mồ hôi. Amaia đi cùng Yolanda tới phòng làm việc ở tầng thứ nhất và đề nghị cầm hộ hồ sơ nhưng người đàn bà giữ chặt nó vào ngực mình, cử chỉ đầy ý phòng thủ. Chị giới thiệu Yolanda với các đồng sự và thông báo với chị ta là cuộc nói chuyện sẽ được ghi âm.
– Tôi muốn chị kể với các đồng nghiệp của tôi những điều chị đã nói với tôi sáng nay, bổ sung bất cứ chi tiết nào chị nhớ ra và thấy có thể thích hợp.
– Tôi gặp Marcel Tremond, chồng cũ của tôi trong một lần trượt tuyết ở Huesca; chúng tôi đính hôn và sau đó kết hôn. Tôi không muốn có con: tôi thích sống thoải mái, và cũng tự thấy mình quá già để làm mẹ. Nhưng Marcel trẻ hơn tôi và anh ấy đã thuyết phục được tôi. Cuối cùng, tôi có thai và sau khi sinh nở, tôi tận tâm chăm sóc các con. Hai đứa bé tội nghiệp đều thiếu cân, nhưng chúng tôi trông nom chúng chu đáo. Một buổi tối, khi các con tôi khoảng hai tháng tuổi, tôi đến xem trong lúc chúng ngủ, tôi thấy chúng đã ngừng thở.
Giọng Yolanda đều đều, buồn tẻ, nhưng mặt lấm tấm mồ hôi, như thể chị ta bị mưa phùn.
– Chúng tôi vội đưa chúng tới bệnh viện, nhưng người ta không thể cứu được. Các con tôi đã chết. - Yolanda bắt đầu khóc khe khẽ. Iriarte đưa cho chị hộp khăn giấy. Yolanda rút một nắm, ép nhiều lớp lên bộ mặt ẩm ướt, giống như một khuôn nặn từ mặt người chết của Ai Cập. - Tôi xin lỗi, - chị ta lẩm bẩm qua những ngón tay xòe rộng.
– Chị đừng ngại, lúc nào sẵn sàng chị cứ nói tiếp.
Yolanda bóc lớp khăn giấy khỏi mặt, cuộn chúng thành một quả bóng ẩm trong tay.
– Có một buổi thức canh, rồi đám tang, nhưng tôi không được nhìn mặt các con. Marcel bảo tốt hơn hết là tôi nên nhớ như lúc chúng còn sống, và yêu cầu đóng nắp áo quan. Tại sao họ đối xử với tôi như thế? Họ tưởng tôi quá yếu ớt để nhìn các con sao? Họ không biết rằng kinh khủng biết bao với một người mẹ không được trông thấy những đứa con đã chết của mình? Tại sao họ không cho tôi trông thấy chúng?
Ngồi đằng sau chị ta, thanh tra Montes nhìn Amaia một cách sắc sảo lúc Yolanda tiếp tục câu chuyện.
– Tôi biết là vì sao. Vì chúng không có trong quan tài… các con tôi đã bị đánh cắp.
Iriarte xen vào:
– Chị tin rằng có kẻ bắt cóc các con chị sao? Chị nghĩ có thể chúng vẫn còn sống ư?
– Giá mà được như thế! Không, khi chúng tôi ra khỏi bệnh viện, tim chúng đã hoàn toàn ngừng đập, bộ mặt bé nhỏ của chúng đã biến thành màu xanh, các ngón tay cũng vậy. Chúng đã chết đêm ấy.
– Vậy, chị khẳng định xác các con chị bị lấy cắp.
– Tôi không khẳng định gì hết, mà tôi biết. Tôi đã trông thấy tận mắt. Tôi yếu như thế nên họ tưởng tôi không thể đi bộ, nhưng những người mẹ đều có sức mạnh được giấu kín. Tôi vào phòng để các quan tài kim loại và mở ra, bên trong có vài túi đựng đường, quấn trong cái khăn mặt. Nhưng các con tôi không có ở đó.
– Chị có kể chuyện này với ai không? - Amaia hỏi.
– Tôi đã kể với Marcel, nhưng anh ta khăng khăng là tôi đã vào nhầm phòng. Lúc đó tôi nghĩ có thể anh ta đúng, họ cho tôi uống thuốc an thần, và tôi nhầm lẫn. Nhưng hãy cho tôi biết, tại sao lại có người để các túi đựng đường vào trong cỗ áo quan?
– Chị còn kể với ai về chuyện này? - Iriarte hỏi.
– Không, không, tôi òa khóc nức nở, và họ tiêm cho tôi. Khi tôi tỉnh dậy, mọi sự đã xong và họ đã mang các quan tài đi.
– Điều gì khiến chị nghĩ chồng chị có dính líu?
– Marcel đã thay đổi. Anh ta bắt đầu hành động khác hẳn. Trong khi tôi mang thai, anh ta ân cần đến thế, vậy mà sau khi các con tôi chết, anh ta không hề quan tâm tới tôi, anh ta bỏ tôi khi tôi cần đến nhất.
– Có một số người phản ứng tồi tệ vì đau buồn, - Amaia nói và nhìn thẳng vào chị ta. - Chị còn nhận ra những thay đổi nào khác?
– Marcel không bao giờ ở nhà, anh ấy nói vì công việc, và việc kinh doanh đang phát đạt. Nhưng tôi không tin. Anh ta không thể làm việc mọi lúc được, nên tôi bắt đầu theo dõi.
Amaia nhận thấy Zabalza liếc nhìn Montes và vẻ mặt của Montes lúc nhìn lại.
– Chị theo dõi chồng sao? - Amaia hỏi.
– Vâng, và sáng hôm nay, sau khi cô nói viết lại tất cả, tôi nhớ ra một thứ.
Yolanda mở tập hồ sơ vẫn giữ chặt trong suốt cuộc nói chuyện, đặt lên bàn những bức ảnh rõ nét in trên giấy A4. Ảnh chụp một chiếc ô tô đỗ cạnh bức tường, Amaia nhận ra chính là bức tường bao quanh nhà Martínez-Bayón; hộp thư trông rõ trên một tấm ảnh.
– Đó là xe của Marcel, anh ta đến thăm ngôi nhà kia. Tôi chỉ tìm ra những bức ảnh này, nhưng tôi tin chắc còn nhiều hơn nữa trong trí nhớ của tôi. Tôi chụp nhiều lắm, cho đến khi họ trông thấy tôi và bắt đầu đỗ xe bên trong cổng.
Một số ảnh cho thấy nhiều xe khác đỗ trên con đường hẹp.
– Chị kể với thanh tra Salazar chồng mình là doanh nhân, - Iriarte nói. - Chị có biết chủ nhân của ngôi nhà đó cũng có công ty? Chị có nghĩ đến khả năng những cuộc gặp của họ có thể liên quan đến công việc?
– Không, tôi không nghĩ thế, - chị ta lắp bắp.
– Chị có biết chồng mình có bất kỳ giao dịch nào với hãng luật Lejarreta & Andía không? - Thanh tra Montes hỏi.
– Tôi chưa bao giờ nghe thấy tên của họ,
– Chị sinh con ở đâu? - Amaia hỏi.
– Tại một bệnh viện của Pháp tên là Notre Dame de Montagne.
– Có lúc nào chị nghĩ đến việc sinh nở tại nhà không?
– Chồng tôi đã gợi ý khi tôi bắt đầu mang thai, nhưng khi phát hiện ra tôi mang thai đôi, chuyện đó không được nhắc tới nữa. Nói thật, ý nghĩ ấy khiến tôi sởn gai ốc; tại sao lại sinh ở nhà khi tôi có thể sinh nở tại bệnh viện? Nghĩ đến nằm đó để toàn bộ gia đình quan sát, tôi thấy cứ như thời nguyên thủy vậy.
– Chị có biết một bà đỡ tên là Fina Hidalgo không?
– Không.
Zabalza đang ghi chép, hỏi:
– Bệnh viện chị sinh nở có phải là bệnh viện các con chị chết ở đó không?
– Phải, các con tôi điều trị ở đó từ khi sinh.
– Chị có thể cho chúng tôi tên các bác sĩ, để chúng tôi có thể hỏi xin bản sao khám nghiệm tử thi.
– Không có khám nghiệm tử thi.
– Chị chắc chứ? - Amaia nói, ngạc nhiên. - Đó là thủ tục thông thường khi có người chết trong bệnh viện mà.
– Không hề có khám nghiệm tử thi, - người đàn bà khăng khăng, gạt mái tóc cắt ngang, lúc này ướt mồ hôi và dính bết vào trán nom rất khôi hài. Lúc đó chị ta giơ tay gỡ tóc khỏi gáy. Montes quan sát vài giọt mồ hôi chảy xuống cổ, nhập vào những vòng tròn ẩm ướt dưới cánh tay.
– Chị có muốn uống nước không? - Montes hỏi.
– Không, tôi không sao…
Chị ta nóng rực như người sốt, và mùi cơ thể ngập khắp phòng. Montes ra hiệu cho Etxaide mở cửa sổ, nhưng Amaia ngăn lại.
Người phụ nữ rút năm tờ giấy đầy những chữ viết li ti, nguệch ngoạc ra khỏi cặp hồ sơ. Lúc chị ta đẩy chúng qua bàn, Amaia nhận một luồng mồ hôi nồng nặc.
– Tôi đã ghi lại mọi thứ có thể nhớ được. Tất cả đều là thật, nhưng thỉnh thoảng tôi lúng túng về những việc xảy ra khi… Vì tôi đang uống thuốc, nhưng các vị có thể kiểm tra tất cả các sự việc này.
– Cảm ơn chị, Yolanda, - Amaia nói và giơ tay, lúc đó mới phát hiện ra người đàn bà kia vẫn nắm chặt quả bóng giấy trong tay. Yolanda vội đưa bàn tay kia, và Amaia cảm nhận hơi nóng rực lúc bắt tay chị một cách mạnh mẽ. - Chị đã giúp chúng tôi rất nhiều. Vài ngày tới chúng tôi sẽ liên hệ. Nếu chị nhớ ra bất cứ điều gì nữa, cứ gọi cho chúng tôi, đừng ngại. Phó thanh tra Zabalza sẽ đưa chị ra. Chị có cần đi nhờ xe về nhà không?
– Không, cảm ơn, cha mẹ tôi đang đợi ở bên ngoài.
Họ cố không mở cửa sổ cho đến khi biết chắc chị ta đã ở ngoài tầm nghe.
– Khỉ nợ! Tôi ngỡ mình sắp chết ngạt mất, - Montes nói và nhoài người ra ngoài, hít đầy phổi không khí trong lành.
– Vậy, ta có thể rút ra kết luận gì về việc này? - Amaia hỏi.
– Rằng cô ta hôi thối như một con lợn và đầm đìa mồ hôi như một con bò.
– Như thế là độc ác, Montes, - Amaia nói, trách móc. - Yolanda đang uống thuốc, một trong các tác dụng phụ là cơ thể bốc mùi. Anh không biết toát mồ hôi liên quan đến tâm trạng căng thẳng sao? Hãy tôn trọng một chút.
– Tôi tôn trọng đấy chứ, thứ tôi không có là một cái mũi bằng thép. Người phụ nữ ấy còn có mùi nước tiểu!
– Bởi vì khi mồ hôi tiết ra tới lỗ chân lông sẽ sinh ra amoniac và nhiều axit béo. Tôi chắc anh còn chạm trán với thứ mùi tệ hại hơn trong những ngày bị đánh kia. Nào, các bạn quan sát được những gì không liên quan tới mùi cơ thể của người phụ nữ tội nghiệp ấy?
– Tôi biết Yolanda từ lâu, - Iriarte nói. - Rõ ràng là chị ta không nhận ra tôi. Bố chị ta là Benigno Berrueta, sở hữu nhiều mỏ ở Almandoz; mẹ là người Oieregi, và họ thường sống ở đó. Hồi ấy Yolanda mười tám tuổi, nặng chưa tới bốn chục ki lô. Chị ta là một đứa trẻ nhà giàu quậy phá, và quá ư xinh đẹp. Ở tuổi ấy mà đã lái ô tô thể thao. Thật đáng thương khi thấy cuộc đời đối với chị ta chẳng ra gì.
– Ờ, họ vẫn rất giàu có. Ông bố đợi chị ta trong chiếc BMW trị giá ít nhất tám chục ngàn đô la, - Zabalza xen vào.
– Đấy không phải điều tôi muốn nói: đã ly hôn, hai đứa con chết và suy nhược thần kinh. Tôi sẽ không đổi những thứ ấy của chị ta lấy toàn bộ tiền trên đời.
– Vậy, - Montes tổng kết, - chúng ta có một phụ nữ trung niên - không được quên là đang chữa trị tâm thần - đang buộc tội chồng cũ - cũng đừng quên là đã tái hôn và sắp có con khác - ăn trộm xác con mình. Tôi có thể nói gì đây? Tôi cũng cảm thấy thương chị ta, nhưng một thẩm phán sẽ thấy một người đàn bà điên rồ, cay đắng đang ra sức trả thù chồng cũ.
– Tôi đã báo trước là chị ta kỳ quặc và chúng ta phải đối xử thận trọng. Tôi nhận thức được tình hình sẽ ra sao nếu chị ta xuất hiện trước một thẩm phán, nhưng tôi nghĩ chị ta nói thật - hoặc ít ra chị ta tin vào điều đang nói. Chúng ta phải kiểm tra câu chuyện của Yolanda, và hiện giờ, người phụ nữ này với những khuyết điểm rành rành là tất cả những gì chúng ta có. Tất nhiên chi tiết những túi đựng đường trong quan tài hết sức có ý nghĩa.
Họ nhất loạt gật đầu.
– Montes và Zabalza, tìm xem Marcel Tremond hoặc bất cứ đồng bọn nào của anh ta có giao thiệp gì với Lejarreta & Andía. Chúng ta sẽ yêu cầu các biên bản khám nghiệm tử thi ở bệnh viện nơi những đứa trẻ chết. Nếu họ không có, chúng ta sẽ liên hệ với văn phòng của nhà bệnh lý học thích hợp. Chúng ta sẽ xem Yolanda nói đúng không. Hãy nhớ thái độ của các bạn, chúng ta không có thẩm quyền gì ở Pháp, và không có lệnh nào. Iriarte, tôi muốn anh đi cùng Etxaide và tôi tới Ainhoa, đi chơi một ngày, nhìn ngó quanh quất và xem dân địa phương nói gì. Trong thời gian này, chúng ta hạn chế kiểm tra từng lời khai của Yolanda dính dáng tới bên thứ ba…