Lễ Vật Kinh Hoàng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 54

❊ ❊ ❊

Một ô tô lộng lẫy xuất hiện bất thình lình đằng sau xe cảnh sát đỗ ngoài cổng nghĩa trang. Một đợt các bậc dốc đứng dẫn tới một con đường hẹp, viền những bụi cây rậm rạp, cuối đường là một ngôi mộ nhỏ xíu. Hai người đàn ông và một phụ nữ đứng vừa đủ dưới mái hiên, túm tụm dưới những cái ô. Amaia ra hiệu cho Montes tiến tới, trong lúc chị quay lại chiếc xe vừa đỗ.

Yolanda Berrueta hạ cửa xe xuống.

– Yolanda? Tôi không biết họ đã cho chị về nhà.

– Tôi tự về đấy chứ. Tôi cảm thấy khá hơn, ở lại bệnh viện cũng chẳng làm tôi khỏe. Tôi sẽ trở lại là bệnh nhân ngoại trú để thay băng, - chị nói, giơ cánh tay băng bó và tuy nó đã đỡ sưng phồng, trông vẫn rất cồng kềnh.

– Chị đang làm gì ở đây?

Yolanda nhìn khắp nghĩa trang.

– Tôi biết rất rõ việc mình đang làm.

– Yolanda, chị không được ở đây; chị nên nằm viện hoặc nghỉ ngơi tại nhà. May cho chị, thẩm phán tòa sơ thẩm đã chấp nhận nộp tiền bảo lãnh cho chị tại ngoại hậu cứu. Ông ấy có thể bắt giam chị vì việc chị làm, nhưng đã không gạt bỏ vận may của chị. - Chị chỉ vào những băng gạc. - Thực ra, chị không nên lái xe trong tình trạng này.

– Tôi không uống thuốc nữa.

– Tôi không chỉ nói đến việc uống thuốc. Lái xe bằng một tay và một mất…

– Cô định bắt tôi chắc?

– Chắc là tôi nên thế, chỉ tốt cho chị thôi. Về nhà đi, Yolanda.

– Không, - Yolanda nói, kiên quyết. - Cô không thể cấm tôi ở đây. Amaia thở dài và lắc đầu.

– Thôi được, nhưng tôi muốn chị gọi điện cho ba chị, nhờ ông đến đón chị. Nếu tôi thấy chị lái xe, tôi sẽ bắt giam chị.

Yolanda gật đầu và nâng cửa xe lên.

Các phu đào huyệt đứng thành một vòng tròn quanh tấm bia mà họ sắp nhấc lên.

Theo lời dặn trước đó, người phụ nữ bảo một người phu:

– Anh có thể vui lòng xuống dưới để biết chắc không có nước chảy vào mộ được không?

Được một trong các đồng nghiệp giúp, người đó hạ cái thang và trèo xuống. Lúc anh ta tới đáy, người phụ nữ nói lần nữa:

– Từ đây, trông có vẻ quan tài của con gái tôi đã bị chuyển dịch so với hôm tang lễ. Anh có chắc mọi thứ vẫn hợp lệ không?

Người đó chiếu đèn pin vào dấu niêm phong và lướt bàn tay lên trên.

– Tôi thấy trông nó như đã bị xáo trộn. Nắp mở, - anh ta nói và giơ tay lên, để lộ cỗ quan tài trống rỗng.

Amaia quay sang người phụ nữ đang dựa vào ngôi mộ; cái ô màu đen của chị ta hạ xuống, che một phần mặt. Chị ta ngước mắt lên và nói, thảm thiết:

– Có thể cô không tin tôi, nhưng tôi biết ngay từ đầu. Bản năng của người mẹ mà.

Yolanda Berrueta đang đứng ở một khoảng cách thận trọng, lẩm bẩm đồng tình.

Amaia không trở về đồn. Việc cuối cùng chị muốn là đối đầu với Iriarte. Hơn nữa, chị đã quá mệt, khó mà suy nghĩ đâu ra đấy.

Montes đã đi thẩm vấn chồng cũ của người phụ nữ. Lúc trưa, chị vừa đỗ xe trước nhà bà cô, anh gọi điện kể có một sự trùng hợp kỳ lạ, người chồng đã chuyển đi nơi khác từ hôm qua, sau khi người anh họ làm việc ở hội đồng thành phố báo cho anh ta biết việc sửa chữa ngôi mộ của gia đình đã ghi trong danh mục.

Như thường lệ, mỗi khi trở về cảm thấy đặc biệt kiệt sức, ngôi nhà tiếp nhận chị vào vòng ôm che chở, với mùi thơm dễ chịu của sáp đánh bóng đồ đạc, trí não chị coi như một lời chào đón ấm áp nhất. Chị từ chối lời mời ăn của bà cô, mặc dù bà Engrasi một mực bảo chị nên ăn món gì đó nóng hổi. Để ủng dưới chân cầu thang và cởi chiếc áo khoác không tay dày dặn, chị đi lên, cảm nhận hơi ấm của gỗ dưới bàn chân đi bít tất. Vừa bước vào phòng ngủ, Amaia đã ngã vật xuống giường, kéo tấm chăn lông vịt lên đắp. Mặc dù mệt mỏi, hay có lẽ vì mệt, mà sau hai giờ nghỉ ngơi chị vẫn có cảm giác vui buồn lẫn lộn của giấc ngủ bị đứt quãng, còn đầu óc vẫn trong tình trạng cảnh giác cao độ. Chị ôn lại các sự kiện, các bộ mặt, tên tuổi, gần như toàn bộ câu chuyện với Sarasola cũng như lời khai của nhân chứng được bảo vệ, và cuộc cãi cọ với Iriarte. Chị mở mắt, mệt mỏi và không cố nghĩ đến các việc khác nữa. Tuy vậy, chị kinh ngạc lúc nhìn đồng hồ. Chị đã thề là chỉ nằm đó không quá mười phút.

Amaia đi tắm, vận quần áo và mất vài phút cố liên hệ với y tá để biết chắc tình trạng của tiến sĩ Takchenko đã ổn định. Liếc vội trong gương, chị xuống cầu thang ăn chút gì đó để bà Engrasi khuây khỏa. Rồi chị lại lên đường.

Đỗ xe ở Irún vào thời điểm này là việc không thể. Các đường phố chật kín những phụ huynh đón con ở trường, những người đi làm về hoặc đi mua sắm buổi chiều. Sau khi lái xe loanh quanh một lúc, họ quyết định để xe trong một bãi xe ngầm.

Marina Lujambio và cha chị đã bố trí gặp họ ở một hiệu cà phê. Montes giới thiệu và khi mọi người đã có cà phê trước mặt, Amaia giải thích tình hình, chị nhắc đến Berasategui và mối quan hệ của hắn với nhóm trị liệu tâm lý mất người thân. Không đi sâu vào chi tiết khi miêu tả sự tàn bạo và uy lực của hắn với những người khác, khả năng điều khiển các bệnh nhân của hắn, chị tránh nhắc đến các cuộc hiến tế ở Elizondo và Lesaka cũng như giả thuyết đây có thể là công việc của một giáo phái. Chị kể với họ câu chuyện của Esparza, từ ý định mang xác con gái đi của Valentín Esparza cũng như các sự kiện sáng hôm đó ở Igantzi. Chị tiết lộ rằng tất cả các vụ này đều dính líu đến các bé gái được cho là chết vì hội chứng đột tử, và nhắc đến quan hệ của bố mẹ các bé gái đã chết với hai vợ chồng luật sư ở Pamplona, cũng như nhóm trị liệu tâm lý ở Argi Beltz của chồng cũ người phụ nữ. Cha của Marina khoảng sáu lăm tuổi, mặc bộ com lê thanh lịch và có bộ râu như một thợ rừng Canada, bình thản lắng nghe. Tuy nhiên, khi Amaia nói xong, ông làm chị ngạc nhiên vì câu trả lời thẳng thắn của ông.

– Các đồng nghiệp của cô chắc đã thông báo với cô tôi là một thẩm phán hòa giải ở Irún này. Tôi thấy việc lấy cớ mở hầm mộ gia đình tôi là không chính đáng. Nhưng như các đồng nghiệp của cô cho biết, và hội đồng thành phố đã phê chuẩn, chúng tôi có quyền tiến hành sửa chữa kết cấu bên trong mộ hoặc thay bia, miễn là làm việc này sau tám giờ tối khi nghĩa trang đã đóng cửa. Có những điều đã quy định rõ: ví dụ, phu đào huyệt bị cấm mở quan tài trừ khi nó bị lục lọi rõ ràng. Nếu xác cháu gái tôi không có trong mộ, tôi có thể cam đoan cô sẽ có lệnh của thẩm phán ở Irún, cho phép mở hầm mộ của các gia đình khác không gặp khó khăn gì.

– Thưa ngài, xin cảm ơn ngài, nhưng việc đó không cần đâu ạ. Đây là vụ của một thẩm phán ở Pamplona, và tôi sẽ thông báo với ông ấy ngay khi ngài tự nguyện bắt đầu. Nếu mọi việc đúng như ngài nói, ông ấy sẽ gửi cho chúng tôi những giấy tờ cần thiết.

Hài lòng vì câu trả lời này, thẩm phán Lujambio giơ tay.

– Vậy thì tám giờ tối mai nhé.

Lúc họ tới Hondarribia, ánh sáng miền duyên hải mà chị rất ưa đã tắt. Buổi tối yên bình và ấm áp, báo hiệu mùa xuân chờ đợi từ lâu dường như đã sẵn sàng xuất hiện trên miền đất xinh đẹp ấy. Amaia đỗ xe cạnh nghĩa trang, nơi có thể mở hầm mộ vào ngày hôm sau, theo Montes và Zabalza vào trong. Vài vị khách được tiết trời êm dịu cổ vũ nên vẫn còn nấn ná. Chị hít thở làn gió biển ấm áp, hòa lẫn mùi hoa mới cắt trên các ngôi mộ. Hầm mộ của gia đình Lujambio là một tảng đá hoa màu xám giản dị, đặt ngay trên nền đất, được những ngọn đèn đường bằng sắt chiếu sáng. Amaia bước tới, kiểm tra các chân dung khắc trên bia, cho thấy các bộ mặt của những người nằm trong mộ. Hầu hết từ những năm 1960, theo thói quen không còn dùng đến. Trên con đường nhỏ kế bên là mộ của gia đình Lopez, đã từ chối hợp tác. Thay cho hoa tươi, hai chậu hoa được chăm sóc chu đáo đặt trên mộ. Họ trở lại lối vào, dừng lại gần ngôi mộ mà họ tới thăm. Chị nhận ra nó trong bức ảnh Iriarte gửi vào điện thoại cho chị: nó tạo thành một góc so với các ngôi mộ khác trong nghĩa trang, nổi bật vì bốn cây cột bằng đá granit chằng dây xích nặng, lơ lửng giữa các cột, khiến chị nhớ tới mộ của các tín đồ Mormon[1]. Ở đầu mộ có một tảng đá tưởng niệm, hình tròn theo truyền thống, và dưới nó, che kín tên trên mộ là một tấm biển vẻn vẹn một từ duy nhất: Tabese. Chị sẽ không thể trông thấy nếu có các tên khác khắc trên tấm bia dựng đứng, vùi dưới một thảm hoa trắng đồ sộ. Một bức tường thấp ở đằng sau ngôi mộ. Họ đi vòng quanh để kiểm tra đằng sau. Khu vực này dành riêng cho nhân viên nghĩa trang. Dựa vào tường là hai cuộn giấy dầu màu xanh, giống loại dùng phủ ngôi mộ nhà Tremond- Berrueta ở Ainhoa, một đoạn dây chão to cuộn thành nút kiểu thủy thủ và một cái xe cút kít han gỉ. Cạnh tường phía xa là một vòi nước, bên trên một rãnh mở. Trên cái bàn tự tạo phủ lưới kim loại là vài bộ hài cốt ướt sũng. Đây là cách thức tách xương khỏi các mô mềm lúc đào rỗng các ngôi mộ sau khi hợp đồng đã hết hạn. Những bộ xương này sẽ quẳng vào một cái hố.

– Mẹ kiếp, tởm quá! - Montes kêu lên, chun mũi.

Amaia đi tiếp theo bức tường, cho đến khi thấy đằng sau ngôi mộ của Tabese, có ba bậc dẫn xuống hầm mộ. Ở cuối có một cửa gõ nặng và thấp đến mức muốn vào trong phải cúi lom khom. Amaia tự rủa mình đã để đèn pin trong xe. Rút điện thoại ra, chị bật đèn, nó đủ sáng cho chị nhìn thấy. Cánh cửa tàn tạ vì mưa gió nên không thể biết là loại gỗ gì, nhưng nếu nó cũ gần như ổ khóa thì hẳn là lâu năm. Ngả người, chị băn khoăn làm sao cỗ quan tài có thể chui lọt qua khoảng không bé tí như thế này. Chị nhận ra ngay ở góc bên phải cánh cửa có một đống lá cây cạnh tường. Hạ thấp điện thoại xuống tận sàn, Amaia nhận thấy một đường tròn rõ ràng do cánh cửa lúc mở ra, để lại vết trên nền sa thạch. Chị kiểm tra các bản lề phủ đầy bụi, trừ nơi hai cái nối liền nhau; ánh sáng từ điện thoại của chị phát hiện ra một vết kim loại sạch.

– Tabese được cho là đã chết từ mười lăm năm trước, - Montes nói, đánh giá phát hiện của chị. - Theo sổ đăng ký của nghĩa trang chúng tôi xem hôm qua, ông ta độc chiếm ngôi mộ này.

– Song gần đây có người ở trong đó.

Amaia kiễng chân nhìn qua bức tường, và lóa mắt vì đèn chớp của máy ảnh. Lúc đi vòng quanh tường, chị thấy một ánh đèn chớp xa xa và nghe thấy tiếng Zabalza chặn ai đó. Chị thoáng nghĩ là ai, nhưng vẫn sửng sốt khi phát hiện ra Yolanda đang nói chuyện với phó thanh tra.

– Vì Chúa, Yolanda, chị đang làm gì ở đây vậy? Sáng nay tôi đã nói gì với chị?

– Tôi tới đây bằng taxi, - Yolanda đáp.

– Phải, nhưng sao chị lại đến đây?

Yolanda bĩu môi, thách thức.

– Đủ rồi, Yolanda. Tôi đã rất kiên nhẫn với chị, nhưng đã đến lúc chị về nhà. Tôi báo trước, nếu ngày mai tôi thấy chị ở đây, tôi sẽ bắt giam chị vì tội cản trở cuộc điều tra.

Không hề nao núng, Yolanda tiến tới và chụp thêm cái nữa, đèn chớp lóe lên, chiếu sáng toàn bộ nghĩa trang.

Amaia quay sang các đồng nghiệp đang nhìn người phụ nữ bướng bỉnh một cách hoài nghi.

– Tới đây, thanh tra, - Yolanda gọi to.

Amaia đến chỗ chị ta.

– Cô có nhận ra những bông hoa này không? - Yolanda nói. Đeo máy ảnh lên cánh tay băng bó, chị giơ cho Amaia bức ảnh phóng to hết màn hình.

– Cô không thấy lạ sao? Trông chúng giống những đứa trẻ sơ sinh bé xíu ngủ trong nôi vậy.

Amaia cau mày vì sự so sánh quái gở, nhưng lúc ngắm kỹ ảnh những bông hoa, chị mê mẩn vì vẻ đẹp của chúng. Cánh hoa màu ngà cuộn quanh cái nhị hồng hồng giống đến kỳ lạ một đứa trẻ thu nhỏ với cánh tay duỗi ra. Yolanda đưa máy cho chị và bước tới chỗ dây xích thấp nhất, chị ta ngả người trên mộ và giật một trong những bông hoa khác thường khỏi cuống.

Amaia tới giúp lúc Yolanda bước qua dây xích, nhưng Yolanda gạt đi, giằng lấy máy ảnh trước khi hiên ngang tiến ra cổng, không nói một lời.

– Nhớ lời tôi nói với chị đấy, Yolanda. - Chị ta giơ bàn tay, không ngoảnh lại và rời khỏi nghĩa trang.

– Khiếp, điên rồ điên dại! - Montes tuyên bố và lắc đầu.

– Anh có số của người bán hoa phong lan rồi chứ? - Amaia hỏi.

Một người giúp việc trả lời điện thoại, và sau khi lắng nghe câu hỏi của chị, bèn chuyển điện thoại cho ông chủ.

– Vâng, Senor Tabese hẳn là người có thị hiếu tinh tế khác thường. Như tôi đã nói với các đồng nghiệp của chị, chúng tôi chuyên về hoa phong lan. Tôi tự trồng một số loài, nhưng nhập khẩu những loài quý hiếm hơn từ một người ở Colombia, ông ta trồng những loại phong lan đẹp nhất, kỳ lạ nhất trên thế giới. Loại phong lan đặc biệt này tên là Anguloa uniflora và vâng, nó giống hệt một đứa trẻ bé bỏng trong nôi. Có loại giống một vũ nữ ba lê xinh đẹp, loại khác ở giữa giống mặt một con khỉ nhỏ, còn có loại giống hình một con diệc lộng lẫy đang bay, khiến chị có thể ngờ là đồ thủ công. Nhưng Anguloa uniflora là loài kinh dị nhất. Tôi đã đọc rằng ở một số nơi tại Colombia, nó bị coi là xui xẻo, nếu một phụ nữ đang mang thai mà nhận được nó, là dấu hiệu chắc chắn đứa trẻ sẽ chết.

Nhận thấy đúng như lời tự giới thiệu, ông ta có thể nói hàng giờ về vẻ đẹp quyến rũ của phong lan, Amaia ngắt dòng độc thoại của người bán hoa, cảm ơn ông ta và tắt máy.

Chị lái theo Montes tới Elizondo, vẫn buồn cười vì cuộc trò chuyện lố bịch, nửa đùa nửa thật của Montes với Zabalza bên ngoài nghĩa trang, xem ai lái xe cừ hơn. Lúc họ rẽ vào Elizondo, chị bấm còi chào tạm biệt. Lúc đó màn hình điện thoại của chị sáng lên, báo hiệu một cuộc gọi từ số lạ.

– Xin chào, tôi là giáo sư Santos. Tiến sĩ Gonzalez đã nhờ tôi phân tích một mẫu vải cho chị.

– À vâng, cảm ơn giáo sư, tôi rất biết ơn.

– Ba chúng tôi quen nhau đã lâu, và họ biết tôi rất thích công việc của mình. Tôi có vài tin báo với chị về mẫu đây. Vải là loại xa tanh lụa, chất lượng rất tốt, sợi dai, thợ dệt đã trộn sợi lụa với nhiều loại sợi khác để dệt nên một loại vải vô cùng mềm mịn. Ngay lập tức, tôi nghĩ đây có thể là sợi lụa thô nhập từ Ấn Độ, dệt tại châu Âu và tôi đã không nhầm. Nhiệm vụ của tôi dễ dàng hơn nhiều nhờ mầu vải có một dấu hiệu. Vì nó rất dai nên thợ dệt thường dùng làm cà vạt, thắt lưng và nhiều thứ trang phục chất lượng cao khác.

– Ông nói nó có một dấu hiệu?

– Vâng, thỉnh thoảng nhà sản xuất giới thiệu những thay đổi rất nhỏ trong cách dệt bằng một dấu hiệu; nhưng trong trường hợp này, khách hàng yêu cầu một loại tem, một con dấu có thể trông thấy bằng mắt thường. Mặc dù bị nóng gắt, nó vẫn đem lại vài thông tin thú vị. Mẫu vải của một thợ may nổi tiếng ở London, tất nhiên tôi không thể tiếp cận danh sách khách hàng của họ, nhưng tôi nghĩ chị sẽ tìm ra dễ hơn.

– Giáo sư nói mẫu vải đã qua nhiệt độ cao?

– Không có bằng chứng cho thấy nó bị tiếp xúc trực tiếp với lửa, nhưng đúng thế, nó ở gần một nguồn nhiệt rất nóng.

– Những chữ đầu trên vải là gì?

– Ồ, chúng không phải là những chữ đầu. Tôi đã khiến cô có cảm tưởng thế sao? Đây là một gia huy. Hiệu may này nổi tiếng vì đã may trang phục cho các nhà quý tộc, những người cao sang quyền quý từ thời vua Henry VIII.

❀ ❀ ❀

[1] Giáo hội Mormon do Joseph Smith sáng lập ở miền Tây New York năm 1830.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.