Cuối cùng thì Lazarus cũng được triệu về thành Rome bởi vị đại đế Augustus.
Người ta mặc cho hắn những bộ trang phục lộng lẫy hệt như thể hắn đã được định sẵn phải làm chú rể cho một cô dâu vô danh cho đến tận ngày cuối đời. Cứ như thể một chiếc quan tài cũ kỹ, mục nát và đang rã rời bỗng được dát vàng hết lớp này đến lớp khác, lại còn được treo thêm những tua rua rực rỡ. Và họ trang nghiêm dẫn hắn đi trong bộ xiêm y hội hè, hệt như đó thực sự là một đám rước dâu, với đám người dọn đường liên tục thổi kèn lớn tiếng để dẹp đường cho các sứ giả của Hoàng đế. Thế nhưng những con đường hắn đi qua đều vắng tanh vắng ngắt. Cả quê hương hắn đều nguyền rủa cái tên đáng sợ của Lazarus, kẻ được phép mầu cải tử hoàn sinh, và dân chúng chỉ nghe tin hắn xuất hiện với vẻ ghê rợn là đã vội vã tản mác trốn chạy. Tiếng kèn vang lên cô độc giữa không trung, và chỉ có chốn hoang vu đáp lại bằng một tiếng vang tàn lụi.
Rồi họ chở hắn vượt biển trên con tàu buồn bã và lộng lẫy nhất từng hằn bóng trên làn sóng xanh thẳm của Địa Trung Hải. Có rất nhiều người trên tàu, nhưng con tàu vẫn tĩnh lặng và im lìm như một chiếc quan tài, còn làn nước dường như đang rên rỉ khi rẽ ra nhường chỗ cho chiếc mũi tàu ngắn cong cớn. Lazarus ngồi một mình, để trần đầu dưới ánh mặt trời và lặng lẽ lắng nghe tiếng nước vỗ ì oạp. Xa hơn một chút, các thủy thủ và sứ giả tụ tập lại như một đám đông những chiếc bóng đang u sầu. Nếu chẳng may có một trận cuồng phong bùng lên vào lúc ấy hoặc gió thổi tung những cánh buồm đỏ rực, có lẽ con tàu đã chìm nghỉm, bởi chẳng còn ai trên tàu có đủ sức lực hay khao khát để đấu tranh cho sự sống nữa. Với chút nỗ lực tột cùng, vài kẻ tiến đến mạn tàu và đắm đuối nhìn xuống vực thẳm xanh thẳm, trong suốt. Có lẽ họ tưởng tượng mình nhìn thấy một nàng tiên nước đang lấp ló bờ vai hồng hào qua những con sóng, hay một tên nhân mã say khướt đến điên cuồng đang phi nước đại, khua móng tóe nước lên. Nhưng biển cả vẫn hoang vắng và câm lặng, vực thẳm nước non cũng thế.
Lazarus bơ phờ đặt chân lên những con đường của Thành phố Vĩnh hằng, cứ như thể mọi sự giàu sang, mọi vẻ uy nghi của những công trình kiến trúc khổng lồ, mọi ánh hào quang, vẻ đẹp cùng âm thanh của một đời sống tao nhã nơi đây chỉ là tiếng gió hú nơi hoang mạc, hay là những hình ảnh mờ ảo của cát nóng cuốn bay. Những cỗ xe ngựa phóng vụt qua; đám đông những người đàn ông cường tráng, tuấn tú và kiêu hãnh rảo bước đi qua, những kẻ kiến tạo nên Thành phố Vĩnh hằng và là những người kiêu hãnh dự phần vào đời sống nơi đây; tiếng hát ngân vang; những đài phun nước cười giòn giã; tiếng cười lảnh lót như ngọc trai của phụ nữ ngập tràn bầu không gian, trong lúc kẻ say sưa đang triết lý còn những kẻ tỉnh táo mỉm cười lắng nghe; tiếng móng ngựa lách cách trên mặt đường. Và được bao bọc bốn bề bởi những âm thanh vui tươi, một gã đàn ông mập mạp, nặng nề lững thững đi giữa trung tâm thành phố tựa như một nốt lặng giá lạnh, gieo rắc trên đường đi nỗi buồn, cơn giận dữ cùng nỗi thống khổ mơ hồ, dằn vặt. Kẻ nào dám buồn rầu ở Rome? Những công dân cau mày phẫn nộ lên tiếng hỏi; và chỉ trong vòng hai ngày, thành Rome với những lời đồn thổi nhanh như chớp đã biết chuyện về Lazarus, kẻ được cứu sống từ cõi chết một cách kỳ diệu, để rồi rụt rè né tránh hắn.
Có không ít những kẻ dũng cảm sẵn sàng thử sức mình, và theo tiếng gọi ngớ ngẩn của họ, Lazarus ngoan ngoãn bước tới. Hoàng đế quá bận rộn với việc nước nên đành hoãn việc tiếp kiến vị khách, và trong suốt bảy ngày liền, Lazarus cứ thế lang thang giữa dòng người.
Một gã bợm nhậu vui tính bước đến chào hắn với nụ cười trên đôi môi đỏ rực. "Uống đi, Lazarus, uống đi!" hắn ta kêu lên, "Augustus hẳn sẽ cười ngất khi thấy ngươi uống cho mà xem!" Và những ả đàn bà trần trụi, ngập chìm trong men say cười cợt, cài những cánh hoa hồng lên đôi bàn tay tái ngợm của Lazarus. Thế nhưng gã bợm nhậu nhìn sâu vào đôi mắt Lazarus — và niềm vui của hắn chấm dứt vĩnh viễn. Kể từ đó lúc nào hắn cũng say khướt. Hắn chẳng uống thêm nữa, mà lúc nào cũng chìm trong cơn say, bị ám ảnh bởi những giấc mơ kinh hoàng thay vì những ảo ảnh vui tươi mà rượu mang lại. Những giấc mơ kinh hoàng trở thành thứ nuôi dưỡng tâm hồn đã vụn vỡ của hắn. Những giấc mơ kinh hoàng ấy kìm kẹp hắn ngày đêm trong màn sương của những tưởng tượng quái đản, và bản thân cái chết cũng chẳng còn đáng sợ hơn bóng hình của sứ giả hung hãn báo hiệu nó.
Lazarus bước đến chỗ một đôi trẻ đang yêu nhau và đẹp đôi trong tình yêu của họ. Kiêu hãnh và vững chãi siết chặt người yêu trong vòng tay, chàng trai dịu dàng lên tiếng với chút xót xa: "Hãy nhìn chúng tôi đi Lazarus, và hãy vui cùng chúng tôi. Liệu có thứ gì mạnh mẽ hơn tình yêu nữa không?"
Và Lazarus nhìn họ. Suốt cả cuộc đời sau đó, họ vẫn tiếp tục yêu thương nhau, nhưng tình yêu của họ trở nên u buồn và ảm đạm, hệt như những hàng cây trắc bách diệp mọc bên các ngôi mộ, đâm rễ vào sự mục rữa của tử thi, rồi trong giờ phút tĩnh lặng của buổi chiều tàn lại vô vọng vươn ngọn nhọn hoắt lên bầu không gian chạm tới bầu trời. Bị những lực lượng sâu thẳm của sự sống xô đẩy vào vòng tay nhau, họ hòa quyện những nụ hôn với nước mắt, niềm vui với nỗi đau, để rồi cuối cùng chỉ càng cảm nhận rõ ràng hơn nỗi cay đắng bị xiềng xích trước Cõi Không Câm Lặng. Mãi mãi gắn kết, mãi mãi chia lìa, họ lóe lên như những tia lửa, rồi cũng như những tia lửa vụt tắt trong màn đêm vô tận.
Lazarus đến gặp một bậc hiền triết kiêu ngạo, và nhà hiền triết bảo hắn rằng: "Ta đã sớm biết hết mọi nỗi kinh hoàng mà ngươi có thể kể cho ta rồi, hỡi Lazarus. Ngươi còn có thể dùng gì để dọa nạt ta nữa đây?"
Chỉ vài khoảnh khắc trôi qua là nhà hiền triết nhận ra rằng sự hiểu biết về điều kinh hãi vốn không phải là điều kinhhãi, và việc nhìn thấy cái chết cũng chẳng phải là bản thân cái chết. Và ông cảm thấy rằng trong mắt của Vô Cực thì sự khôn ngoan và sự ngu ngốc vốn là một, bởi Vô Cực nào có thấu hiểu chúng đâu. Những ranh giới giữa hiểu biết và sự vô minh, giữa sự thật và dối gian, giữa đỉnh cao và vực sâu, tất cả đều phai mờ và tâm trí vô định của ông bị treo lơ lửng trong hư không. Rồi ông ôm lấy mái đầu điểm bạc của mình và hét lên điên dại: "Ta không thể suy nghĩ nổi nữa! Ta không thể suy nghĩ nổi nữa!"
Cứ thế, dưới cái nhìn lạnh lùng của Lazarus, kẻ được cứu sống từ cõi chết một cách kỳ diệu, mọi thứ vốn dùng để khẳng định sự sống, ý nghĩa cùng niềm vui của nó đều lụi tàn. Và người ta bắt đầu xì xào rằng thật nguy hiểm nếu cứ để hắn diện kiến Hoàng đế; rằng tốt hơn hết là nên giết quách hắn đi rồi chôn giấu thật kín, sau đó thề rằng hắn đã biệt tích. Gươm giáo được mài sắc và những thanh niên vì phúc lợi của nhân dân đã tuyên bố sẵn sàng trở thành sát thủ, thì đúng lúc ấy Augustus lại phá hỏng những kế hoạch tàn nhẫn đó bằng cách hạ lệnh bắt Lazarus phải trình diện trước mặt ngài.
Dù không thể ngăn cản sự xuất hiện của Lazarus, người ta vẫn cảm thấy rằng ấn tượng nặng nề tỏa ra từ khuôn mặt hắn ít nhiều có thể được làm dịu bớt. Nhằm mục đích đó, những họa sĩ tài ba, thợ cắt tóc và nghệ nhân đã được triệu đến để làm việc suốt cả đêm trên đầu tóc của Lazarus. Bộ râu của hắn được tỉa tót và uốn xoăn. Sắc xanh xám khó chịu và tử khí trên bàn tay cùng khuôn mặt hắn được che lấp bởi các lớp phấn son; đôi bàn tay được làm cho trắng trẻo, đôi má được đánh hồng. Những nếp nhăn ghê tởm của sự đau khổ hằn sâu trên khuôn mặt già nua của hắn được vá víu và tô điểm lại, rồi trên bề mặt nhẵn nhụi ấy, những nếp nhăn của sự đôn hậu, tiếng cười cùng vẻ vui tươi dễ mến đã được các nghệ nhân khéo léo phác họa bằng những chiếc cọ tinh tế.
Lazarus dửng dưng phó mặc cho họ làm gì tùy ý trên cơ thể mình, và chẳng mấy chốc hắn đã hóa thành một ông lão mập mạp, ưa nhìn, trông chẳng khác nào một người ông hiền từ, phúc hậu của một bầy cháu đông đúc. Trông hắn cứ như thể nụ cười dùng để kể chuyện tiếu lâm chưa từng rời khỏi đôi môi, tựa hồ sự dịu dàng yên bình vẫn còn ẩn giấu ở khóe mắt. Thế nhưng, bộ trang phục cưới thì họ không dám cởi ra; và họ cũng chẳng thể thay đổi được đôi mắt hắn — đôi mắt đen sẫm, đáng sợ, từ đó nhìn trân trân cái Nơi-Đó không tài nào hiểu nổi.