Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 3990 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Người Vợ Nông Dân

❊ ❊ ❊

Tại ngôi làng Reybuzh, ngay đối diện nhà thờ, sừng sững một ngôi nhà hai tầng với móng đá và mái tôn. Ở tầng dưới, chính chủ nhân là Filip Ivanov Kashin, biệt danh Dyudya, sống cùng gia đình mình. Còn tầng trên, nơi mùa hè thường vô cùng oi bức và mùa đông lại lạnh thấu xương, ông dành để đón tiếp các quan chức chính phủ, thương gia, hay những điền chủ tình cờ đi ngang qua. Dyudya cho thuê vài mảnh đất, mở một quán rượu bên đường cái, buôn bán nhựa thông, mật ong, gia súc, và cả quạ, đã tích cóp được khoảng tám ngàn rúp gửi trong ngân hàng ở thị trấn.

Con trai trưởng của ông, Fyodor, là kỹ sư trưởng tại nhà máy, và theo lời dân làng kể lại, anh ta đã tiến xa đến mức giờ đây họ chẳng thể với tới nổi nữa. Vợ của Fyodor, Sofya, một người phụ nữ giản dị, ốm yếu, đang sống tại nhà bố chồng. Cô lúc nào cũng sướt mướt, và mỗi Chủ nhật, cô lại qua bệnh viện để lấy thuốc. Con trai thứ của Dyudya, gã gù Alyoshka, sống cùng bố ở nhà. Gã mới cưới Varvara, một cô gái được gia đình chọn từ một gia đình nghèo. Varvara là một phụ nữ trẻ đẹp, tháo vát và đầy đặn. Mỗi khi các quan chức hay thương gia ghé trọ, họ luôn đòi Varvara phải là người mang samovar và dọn giường cho họ.

Một buổi tối tháng Sáu, khi mặt trời đang lặn và không gian tràn ngập mùi cỏ khô, mùi phân súc vật bốc hơi và mùi sữa mới, một chiếc xe bò tồi tàn lăn bánh vào sân nhà Dyudya, chở theo ba người: một người đàn ông trạc ba mươi tuổi trong bộ đồ vải bạt, bên cạnh là một cậu bé bảy, tám tuổi mặc chiếc áo khoác đen dài đính những chiếc cúc xương to bản, và trên ghế lái là một gã trai trẻ mặc áo sơ mi đỏ.

Gã trai trẻ tháo ngựa và dắt chúng ra đường đi dạo vài vòng, trong khi người khách rửa mặt, cầu nguyện hướng về phía nhà thờ, rồi trải một tấm thảm gần xe bò và ngồi xuống cùng cậu bé dùng bữa tối. Anh ta ăn chậm rãi, điềm đạm, và Dyudya, người đã gặp không biết bao nhiêu khách lữ hành trong đời, nhìn cung cách ấy liền biết ngay đây là một người làm ăn, nghiêm túc và biết rõ giá trị của bản thân.

Dyudya ngồi trên bậc thềm trong chiếc áo gile, không đội mũ, đợi vị khách lên tiếng trước. Ông đã quen nghe đủ loại chuyện từ những người khách vào buổi tối, và ông thích ngồi nghe họ kể trước khi đi ngủ. Vợ ông, bà lão Afanasyevna, và cô con dâu Sofya đang vắt sữa trong chuồng bò. Cô con dâu còn lại, Varvara, đang ngồi bên cửa sổ mở trên tầng hai, nhấm nháp hạt hướng dương.

"Thằng bé chắc là con trai anh chứ gì?" Dyudya hỏi người khách.

"Không; con nuôi. Một đứa trẻ mồ côi. Tôi nhận nuôi nó để cứu rỗi linh hồn mình."

Họ bắt đầu trò chuyện. Người lạ mặt có vẻ là một người ưa nói chuyện và hoạt ngôn, và Dyudya biết được từ anh ta rằng anh ta đến từ thị trấn, thuộc tầng lớp tiểu thương và có nhà riêng, tên là Matvey Savitch, hiện đang trên đường đi xem xét mấy khu vườn thuê lại từ vài thực dân người Đức, còn cậu bé tên là Kuzka. Buổi tối nóng nực và oi bức, chẳng ai muốn ngủ. Khi trời bắt đầu tối và những vì sao nhạt nhòa bắt đầu lấp lánh đây đó trên bầu trời, Matvey Savitch bắt đầu kể lại cơ duyên anh ta nhận nuôi Kuzka.

Afanasyevna và Sofya đứng cách đó không xa, chăm chú lắng nghe. Kuzka đã đi ra phía cổng.

"Chuyện phức tạp lắm, ông lão ạ," Matvey Savitch bắt đầu, "nếu tôi kể lại mọi chuyện đúng như đã xảy ra, thì có khi mất cả đêm cũng chẳng hết. Mười năm trước, ở căn nhà nhỏ cạnh nhà tôi trên phố, nơi bây giờ là nhà máy sản xuất mỡ và dầu, có một góa phụ già sống ở đó, bà Marfa Semyonovna Kapluntsev. Bà có hai người con trai: một người là nhân viên bảo vệ đường sắt, còn người kia, Vasya, trạc tuổi tôi, sống ở nhà với mẹ. Lão Kapluntsev từng sở hữu năm cặp ngựa và cử người chở hàng đi khắp thị trấn; bà vợ góa vẫn không từ bỏ công việc ấy, bà quản lý đội chở hàng tốt chẳng kém gì chồng mình, có những ngày họ kiếm được tới năm rúp từ các chuyến đi."

"Gã con trai cũng tự kiếm được chút đỉnh cho riêng mình. Nó thường nuôi chim bồ câu cảnh rồi bán lại cho những người chơi chim; đôi khi nó đứng hàng giờ trên mái nhà, vung vẩy cây chổi trên không và huýt sáo; đàn bồ câu của nó bay tận lên tận mây xanh, nhưng thế vẫn chưa đủ, nó còn muốn chúng bay cao hơn nữa. Nó cũng hay bẫy chim sẻ và chim sáo, rồi làm lồng bán. Tất cả đều là việc vặt, nhưng ông xem, nó cũng kiếm được tầm mười rúp một tháng từ mấy việc lặt vặt ấy. Thế rồi, thời gian trôi qua, bà cụ bị liệt chân và phải nằm liệt giường. Hậu quả là nhà cửa thiếu bàn tay phụ nữ chăm sóc, mà ông biết đấy, nhà không có đàn bà thì cũng giống như con người mất đi con mắt vậy. Bà cụ cố gắng gượng dậy và quyết định cưới vợ cho Vasya. Họ mời bà mối đến ngay lập tức, đàn bà thì cứ bàn ra tán vào, còn Vasya đi xem mắt các cô gái. Nó chọn được Mashenka, con gái một nhà góa phụ. Họ quyết định nhanh chóng và chỉ trong một tuần là mọi việc xong xuôi. Cô gái chỉ là một bông hoa nhỏ, mới mười bảy tuổi, nhưng da trắng, xinh xắn, cử chỉ đài các; của hồi môn cũng khá khẩm, năm trăm rúp, một con bò, một chiếc giường... Chà, bà cụ—có vẻ như bà biết trước ngày của mình—ba ngày sau đám cưới, bà ra đi về phía Giê-ru-sa-lem trên Thiên đàng, nơi không còn bệnh tật hay đau đớn. Đôi vợ chồng trẻ lo liệu đám tang chu đáo rồi bắt đầu cuộc sống chung. Họ sống hạnh phúc được đúng sáu tháng, rồi bất thình lình tai họa ập đến. Họa vô đơn chí: Vasya bị triệu tập đến văn phòng tuyển quân để rút thăm đi lính. Nó bị bắt, tội nghiệp thay, trở thành một người lính, thậm chí chẳng được miễn trừ. Họ cạo đầu nó và tống khứ đến Ba Lan. Đó là ý Chúa; chẳng làm được gì khác. Khi nó nói lời tạm biệt vợ ngoài sân, nó vẫn tỏ ra cứng rắn; nhưng khi nhìn lên gác xép để nhìn đàn bồ câu lần cuối, nó bật khóc. Thật tội nghiệp khi phải chứng kiến cảnh đó."

"Ban đầu Mashenka nhờ mẹ đến ở cùng để đỡ buồn; bà ở lại cho đến khi đứa trẻ—chính là thằng Kuzka này—chào đời, rồi bà bỏ đi Oboyan đến với cô con gái khác đã lấy chồng, để lại Mashenka một mình với đứa bé. Có năm gã nông dân—những người chở hàng—toàn bọn bợm nhậu láo xược; ngựa thì phải trông nom, xe kéo thì phải coi chừng, rồi hàng rào bị gãy, ống khói bốc cháy... những công việc ấy quá sức đối với một người phụ nữ, và vì chúng tôi là hàng xóm, cô ấy đâm ra hay nhờ vả tôi mọi chuyện lớn nhỏ... Chà, tôi cứ sang, sửa sang mọi thứ, cho lời khuyên... Tất nhiên, không thể không vào trong nhà, uống tách trà và trò chuyện chút đỉnh với cô ấy. Tôi hồi đó là gã trai trẻ, tri thức, thích bàn luận đủ thứ chuyện; cô ấy cũng là người có giáo dục và cư xử lịch thiệp. Lúc nào cô ấy cũng ăn mặc chỉn chu, mùa hè thì đi dạo cùng chiếc ô che nắng. Đôi khi tôi bắt đầu bàn luận về tôn giáo hay chính trị với cô ấy, cô ấy thấy hãnh diện và tiếp đón tôi bằng trà và mứt... Tóm lại, không muốn kể dài dòng, tôi phải nói với ông này, chưa đầy một năm sau thì Quỷ Dữ, kẻ thù của nhân loại, đã làm tôi mù quáng. Tôi bắt đầu nhận ra rằng ngày nào không sang gặp cô ấy, tôi lại thấy bứt rứt, buồn chán. Và tôi cứ liên tục bịa ra chuyện này chuyện kia để sang gặp cô ấy: 'Đến lúc rồi,' tôi tự nhủ, 'phải lắp cửa sổ kép cho mùa đông thôi,' và thế là cả ngày tôi cứ quanh quẩn ở nhà cô ấy lắp cửa sổ, rồi cố tình để dành lại vài cái cho ngày hôm sau."

"'Mình nên đếm lại bồ câu của Vasya, xem có con nào đi lạc không,' vân vân. Tôi thường xuyên đứng nói chuyện với cô ấy qua hàng rào, cuối cùng tôi làm một cái cổng nhỏ trên hàng rào để khỏi phải đi vòng xa. Từ đàn bà mà ra biết bao tội lỗi trên đời và đủ loại điều gớm ghiếc. Chẳng riêng gì chúng ta, những kẻ tội đồ; ngay cả các bậc thánh nhân cũng từng bị họ dẫn dụ. Mashenka chẳng cố giữ khoảng cách với tôi. Thay vì nghĩ đến chồng và giữ mình, cô ấy lại đem lòng yêu tôi. Tôi bắt đầu nhận ra cô ấy buồn bã khi thiếu tôi, lúc nào cũng đi lại dọc hàng rào, nhìn vào sân nhà tôi qua khe hở."

"Đầu óc tôi như quay cuồng trong một cơn điên loạn. Vào thứ Năm Tuần Thánh, tôi đi chợ từ sáng sớm—trời còn chưa tỏ mặt người. Tôi đi ngang qua cổng nhà cô ấy, và Quỷ Dữ lại đi theo tôi—sát bên khuỷu tay tôi. Tôi nhìn vào—cổng nhà cô ấy có phần giàn mắt cáo phía trên—và cô ấy đã dậy rồi, đang đứng giữa sân cho vịt ăn. Tôi không kiềm chế được bản thân, bèn gọi tên cô ấy. Cô ấy lại gần và nhìn tôi qua giàn mắt cáo... Khuôn mặt nhỏ nhắn của cô ấy trắng bệch, đôi mắt dịu dàng và trông có vẻ ngái ngủ... Tôi thích vẻ ngoài đó vô cùng, và bắt đầu buông lời tán tỉnh, như thể chúng tôi không đứng ở cổng, mà giống như người ta vẫn làm trong ngày lễ thánh, còn cô ấy đỏ mặt, cười khúc khích, và cứ nhìn thẳng vào mắt tôi không chớp... Tôi mất hết lý trí và bắt đầu bày tỏ tình yêu với cô ấy... Cô ấy mở cổng, và từ buổi sáng hôm đó, chúng tôi bắt đầu sống như vợ chồng..."

Gã gù Alyoshka từ ngoài đường bước vào sân và chạy hớt hải vào nhà, không thèm nhìn ai. Một phút sau, gã chạy ra khỏi nhà với một chiếc đàn concertina. Vừa đi vừa khua những đồng xu lẻ trong túi, vừa cắn hạt hướng dương, gã đi ra ngoài cổng.

"Thế thằng đó là ai?" Matvey Savitch hỏi.

"Con trai tôi, Alexey," Dyudya trả lời. "Nó đi chơi bời đấy, thằng ranh con. Chúa đã giáng tai họa xuống người nó bằng cái bướu, nên chúng tôi cũng không khắt khe với nó lắm."

"Và lúc nào nó cũng nhậu nhẹt với mấy đứa bạn, lúc nào cũng nhậu," bà Afanasyevna thở dài. "Trước lễ Hội hóa trang chúng tôi cưới vợ cho nó, tưởng rằng nó sẽ tu tỉnh hơn, ai ngờ! Nó còn tệ hơn trước."

"Chẳng ích gì. Chỉ tổ nuôi báo cô con gái người ta," Dyudya nói.

Đâu đó phía sau nhà thờ, họ bắt đầu hát một bài hát bi ai, hùng tráng. Những ca từ không thể nghe rõ, chỉ có những giọng hát vang lên—hai giọng nam cao và một giọng nam trầm. Tất cả đều lắng nghe; sân nhà tĩnh lặng hoàn toàn... Hai giọng hát đột nhiên ngắt quãng bằng một tràng cười lớn, nhưng giọng thứ ba, một giọng nam cao, vẫn tiếp tục hát, và lên một nốt cao đến mức ai nấy đều vô thức nhìn lên trên, như thể giọng hát ấy đã bay bổng tận lên thiên đàng.

Varvara bước ra khỏi nhà, lấy tay che mắt, như thể tránh nắng, cô nhìn về phía nhà thờ.

"Đám con trai linh mục với ông giáo làng đấy," cô nói.

Cả ba giọng hát lại bắt đầu hòa giọng. Matvey Savitch thở dài và tiếp tục:

"Vâng, mọi chuyện là thế đấy, ông lão ạ. Hai năm sau, chúng tôi nhận được một lá thư của Vasya gửi từ Warsaw. Nó viết rằng nó được gửi về nhà vì bị ốm. Nó đang bệnh. Lúc đó, tôi đã gạt bỏ hết mấy chuyện ngu xuẩn đó ra khỏi đầu, và đã chọn được một mối ngon lành, chỉ là chưa biết làm sao để dứt khoát với người tình. Ngày nào tôi cũng tự nhủ phải nói rõ với Mashenka, nhưng lại không biết phải mở lời thế nào để không phải nghe mấy tiếng đàn bà gào thét bên tai. Lá thư đó đã giải thoát cho tôi. Tôi đọc lá thư cùng với Mashenka; mặt cô ấy tái mét như tờ giấy, còn tôi thì nói với cô ấy: 'Tạ ơn Chúa; giờ đây,' tôi bảo, 'cô lại là vợ người ta rồi.' Nhưng cô ấy nói: 'Tôi sẽ không sống với anh ta.' 'Sao, anh ta chẳng phải chồng cô à?' tôi nói. 'Đâu có dễ dàng gì?... Tôi chưa bao giờ yêu anh ta và tôi cưới anh ta đâu phải do tự nguyện. Mẹ tôi bắt tôi đấy chứ.' 'Đừng cố thoái thác, đồ ngốc,' tôi nói, 'nhưng trả lời tôi câu này: cô đã cưới anh ta trong nhà thờ hay chưa?' 'Tôi đã cưới,' cô ấy nói, 'nhưng người tôi yêu là anh, và tôi sẽ ở bên anh cho đến ngày tôi chết. Người đời có nhạo báng, tôi cũng mặc kệ...' 'Cô là phụ nữ theo đạo Cơ Đốc,' tôi bảo, 'và đã đọc Kinh Thánh; ở đó viết gì nào?'"

"Một khi đã cưới, phải sống cùng chồng chứ," Dyudya nói.

"'Vợ chồng là một thể xác. Chúng ta đã phạm tội,' tôi nói, 'cô và tôi, thế là đủ rồi; chúng ta phải ăn năn và kính sợ Chúa. Chúng ta phải thú nhận tất cả với Vasya,' tôi bảo; 'nó là gã hiền lành, nhu mì—nó sẽ không giết cô đâu. Và thật đấy,' tôi nói, 'thà chịu đau khổ ở thế gian này dưới tay người chồng hợp pháp của cô còn hơn là phải nghiến răng ở Tòa Phán Xét đáng sợ.' Con nhỏ đó không chịu nghe; nó cứ khăng khăng cái ý nghĩ ngu ngốc: 'Em chỉ yêu anh!' và tôi chẳng thể lay chuyển được gì thêm ở cô ta."

"Vasya trở về vào thứ Bảy trước Lễ Chúa Ba Ngôi, từ sáng sớm. Từ hàng rào nhà tôi, tôi có thể nhìn thấy tất cả; nó chạy vào nhà, một phút sau quay ra với Kuzka trên tay, vừa cười vừa khóc; nó hôn Kuzka rồi nhìn lên gác xép, nỡ lòng nào đặt đứa bé xuống, ấy thế mà nó vẫn khao khát đi thăm đàn bồ câu của mình. Nó luôn là kiểu người mềm yếu—đa sầu đa cảm. Ngày hôm đó trôi qua rất tốt đẹp, tất cả đều yên bình và tử tế. Họ bắt đầu rung chuông nhà thờ để làm lễ chiều, khi đó một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi: 'Ngày mai là Chủ nhật Lễ Chúa Ba Ngôi; sao họ không trang hoàng cổng và hàng rào bằng lá xanh nhỉ? Có gì đó không ổn,' tôi nghĩ. Tôi sang chỗ họ. Tôi nhìn lén vào, thì ra nó đang ngồi bệt xuống sàn giữa phòng, mắt trừng trừng như kẻ say rượu, nước mắt đầm đìa trên má và đôi tay run rẩy; nó đang lấy bánh vòng, vòng cổ, bánh gừng và đủ thứ quà nhỏ từ trong túi xách ra rồi ném xuống sàn. Kuzka—khi ấy ba tuổi—đang bò trên sàn, nhai bánh gừng, trong khi Mashenka đứng cạnh lò sưởi, trắng bệch và run rẩy toàn thân, lẩm bẩm: 'Em không phải vợ anh; em không thể sống với anh,' và đủ thứ nhảm nhí. Tôi quỳ xuống dưới chân Vasya, và nói: 'Chúng tôi đã phạm tội với anh, Vassily Maximitch; xin hãy tha thứ cho chúng tôi, vì Chúa!' Rồi tôi đứng dậy và nói với Mashenka: 'Cô, Marya Semyonovna, giờ đây nên rửa chân cho Vassily Maximitch rồi uống nước đó. Hãy là người vợ ngoan ngoãn với anh ấy, và cầu nguyện Chúa vì tôi, mong Người vì lòng thương xót mà tha thứ cho sự vi phạm của tôi.' Lời đó đến với tôi như một nguồn cảm hứng từ thiên thần trên Thiên đàng; tôi đưa ra lời khuyên chân thành và nói với tất cả cảm xúc đến nỗi nước mắt tôi cũng trào ra. Và thế là hai ngày sau Vasya đến gặp tôi: 'Matyusha,' nó nói, 'tôi tha thứ cho anh và vợ tôi; Chúa thương xót anh! Cô ấy là vợ lính, thân gái dặm trường; thật khó để cô ấy giữ mình. Cô ấy chẳng phải người đầu tiên, cũng không phải người cuối cùng. Chỉ có điều,' nó nói, 'tôi cầu xin anh hãy cư xử như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra giữa hai người, và đừng để lộ dấu hiệu nào, còn tôi,' nó nói, 'sẽ cố gắng hết sức để làm cô ấy hài lòng theo mọi cách, để cô ấy có thể yêu tôi trở lại.' Nó bắt tay tôi, uống một tách trà, rồi ra về với vẻ vui vẻ hơn."

"'Chà,' tôi nghĩ, 'tạ ơn Chúa!' và tôi thấy nhẹ nhõm vì mọi chuyện đã êm đẹp. Nhưng Vasya vừa rời khỏi sân thì Mashenka bước vào. Ôi! Tôi đã phải khổ sở thế nào! Cô ấy ôm chầm lấy cổ tôi, khóc lóc và cầu xin: 'Vì Chúa, đừng bỏ rơi em; em không thể sống thiếu anh!'"

"Con đĩ bỉ ổi!" Dyudya thở dài.

"Tôi mắng nhiếc cô ta, dậm chân, rồi kéo cô ta vào lối đi, cài chốt cửa lại. 'Hãy về với chồng cô,' tôi hét lên. 'Đừng làm tôi xấu hổ trước mặt mọi người. Hãy kính sợ Chúa!' Và ngày nào cũng có một cảnh tượng như thế."

"Một buổi sáng, tôi đang đứng trong sân gần chuồng ngựa làm sạch dây cương. Đột nhiên tôi thấy cô ấy chạy qua cái cổng nhỏ vào sân nhà tôi, chân đất, chỉ mặc váy lót, chạy thẳng về phía tôi; cô ấy túm lấy dây cương, tay dính đầy nhựa đường, run rẩy và khóc lóc, cô ấy kêu lên: 'Em không chịu nổi anh ta; em ghê tởm anh ta; em không thể chịu đựng được nữa! Nếu anh không yêu em, thà giết em đi còn hơn!' Tôi tức giận, quất cô ấy hai cái bằng dây cương, nhưng ngay lúc đó Vasya chạy vào cổng, và với giọng tuyệt vọng, nó hét lên: 'Đừng đánh cô ấy! Đừng đánh cô ấy!' Nhưng tự nó lại lao vào, tay chân vung vẩy như kẻ điên, nó dùng hết sức bình sinh đấm đá cô ấy, rồi quăng cô ấy xuống đất và đá vào người cô. Tôi cố bảo vệ cô ấy, nhưng nó giật lấy dây cương và quất vào người cô, và trong suốt lúc đó, như tiếng hí của một con ngựa con, nó cứ kêu: 'Hê—hê—hê!'"

"Tôi mà cầm dây cương thì tôi cho ông nếm thử đấy," Varvara lầm bầm, bước đi; "đánh đập chị em chúng tôi, lũ súc vật khốn kiếp!..."

"Câm miệng lại, đồ con mụ kia!" Dyudya quát vào mặt cô.

"'Hê—hê—hê!'” Matvey Savitch tiếp tục. "Một người chở hàng chạy ra từ sân nhà nó; tôi gọi người làm của mình, và ba chúng tôi lôi Mashenka ra khỏi tay nó rồi khiêng cô ấy về nhà. Thật là nhục nhã! Ngay buổi chiều hôm đó tôi sang xem tình hình thế nào. Cô ấy nằm trên giường, quấn đầy băng gạc, chỉ lộ ra mắt và mũi; cô ấy nhìn lên trần nhà. Tôi nói: 'Chào buổi tối, Marya Semyonovna!' Cô ấy không nói gì. Còn Vasya thì ngồi trong phòng bên, ôm đầu, khóc lóc và nói: 'Thằng súc vật khốn nạn này! Tôi đã hủy hoại cuộc đời mình! Lạy Chúa, hãy để con chết đi!' Tôi ngồi nửa tiếng bên Mashenka và thuyết giáo cho cô ấy một bài ra trò. Tôi cố dọa cô ấy một chút. 'Người công chính,' tôi nói, 'sau cuộc đời này sẽ lên Thiên đàng, còn cô sẽ xuống hỏa ngục, như tất cả những kẻ ngoại tình. Đừng chống lại chồng, hãy đến và nằm dưới chân anh ta.' Nhưng cô ấy chẳng nói một lời; thậm chí mắt cũng không chớp, cứ như thể tôi đang nói chuyện với một cái cột. Ngày hôm sau Vasya bị ốm giống như bệnh tả, và đến tối thì tôi nghe tin nó chết rồi. Chà, thế là họ chôn cất nó, còn Mashenka không đi dự đám tang; cô ấy không muốn phô bày gương mặt trơ trẽn và những vết bầm tím của mình. Và chẳng bao lâu sau, khắp vùng bắt đầu xì xào rằng Vasya không chết vì nguyên nhân tự nhiên, rằng Mashenka đã hạ độc nó. Tin đó đến tai cảnh sát; họ cho đào xác Vasya lên và mổ ra, và trong dạ dày nó, họ tìm thấy thạch tín. Rõ ràng là nó đã bị đầu độc; cảnh sát đến bắt Mashenka đi, và cả thằng Kuzka vô tội cũng bị kéo theo. Họ bị tống giam... Người phụ nữ đó đã đi quá xa—Chúa đã trừng phạt cô ta... Tám tháng sau, họ đưa cô ta ra xét xử. Tôi nhớ cô ta ngồi trên một cái ghế thấp, với chiếc khăn choàng trắng nhỏ trên đầu, mặc chiếc váy màu xám, và cô ta gầy quá, xanh xao quá, đôi mắt sắc lạnh đến nỗi nhìn vào thấy buồn lòng. Đứng sau cô ta là một người lính cầm súng. Cô ta không chịu nhận tội. Một số người trong tòa nói cô ta đã đầu độc chồng, những người khác lại tuyên bố chính nó đã tự đầu độc vì đau buồn. Tôi là một trong số các nhân chứng. Khi họ thẩm vấn, tôi đã nói toàn bộ sự thật theo lời tuyên thệ. 'Tội lỗi là của cô ta,' tôi nói. 'Chẳng có gì phải giấu giếm; cô ta không yêu chồng, và cô ta có cái tôi quá lớn...' Phiên tòa bắt đầu từ buổi sáng và đến đêm thì họ tuyên án: đày cô ta đi khổ sai ở Siberia mười ba năm. Sau bản án đó, Mashenka còn ở tù thêm ba tháng nữa. Tôi đến thăm cô ta, và vì lòng từ bi của người Cơ Đốc, tôi mang cho cô ta chút trà và đường. Nhưng ngay khi nhìn thấy tôi, cô ta bắt đầu run lên bần bật, vặn vẹo đôi tay và lẩm bẩm: 'Đi đi! đi đi!' Còn Kuzka thì cô ta ôm chặt như sợ tôi cướp mất. 'Thấy chưa,' tôi nói, 'cô đã đi đến bước đường này! Ôi, Masha, Masha! Cô đã không nghe lời tôi khi tôi cho cô lời khuyên tốt, và giờ đây cô phải ăn năn. Cô tự chuốc lấy thôi,' tôi nói; 'tự trách mình đi!' Tôi đang cho cô ta lời khuyên tốt, nhưng cô ta cứ: 'Đi đi, đi đi!' co rúm người cùng Kuzka vào góc tường, và run rẩy toàn thân."

"Khi họ đưa cô ta đến tỉnh lị, tôi đi theo đoàn hộ tống đến tận ga và nhét một đồng rúp vào bọc đồ của cô ta để cứu rỗi linh hồn mình. Nhưng cô ta không bao giờ đến được Siberia... Cô ta bị sốt và chết trong tù."

"Sống như con chó thì phải chết như một con chó thôi," Dyudya nói.

"Kuzka được gửi trả về nhà... Tôi suy nghĩ rồi nhận nuôi nó. Suy cho cùng—dù là con của một phạm nhân—nhưng nó vẫn là một linh hồn sống, một người Cơ Đốc... Tôi thấy tội nghiệp cho thằng bé. Tôi sẽ biến nó thành thư ký của mình, và nếu tôi không có con riêng, tôi sẽ cho nó làm thương gia. Giờ đây đi đâu tôi cũng mang nó theo; để nó học nghề."

Trong suốt thời gian Matvey Savitch kể chuyện, Kuzka ngồi trên một tảng đá nhỏ gần cổng. Đầu chống bằng hai tay, cậu bé nhìn lên bầu trời, và từ xa trông cậu trong bóng tối như một gốc cây cụt.

"Kuzka, đi ngủ đi," Matvey Savitch quát lên.

"Vâng, đến giờ rồi," Dyudya nói, đứng dậy; ông ngáp một cái thật to và nói thêm:

"Người ta ai rồi cũng đi con đường của mình, và hậu quả là thế đấy."

Trên sân nhà, vầng trăng giờ đây đang trôi giữa bầu trời; nó di chuyển một hướng, trong khi những đám mây bên dưới di chuyển theo hướng khác; những đám mây tan biến vào bóng tối, nhưng vầng trăng vẫn hiện rõ cao phía trên sân nhà.

Matvey Savitch cầu nguyện, hướng về phía nhà thờ, và nói lời chúc ngủ ngon, anh ta nằm xuống đất gần chiếc xe bò của mình. Kuzka cũng cầu nguyện, nằm xuống xe bò, và đắp chiếc áo khoác ngoài nhỏ xíu lên người; cậu bé tự làm một cái hốc nhỏ trong đống cỏ khô cho thoải mái, và cuộn tròn lại đến nỗi hai khuỷu tay trông như hai đầu gối. Từ ngoài sân có thể thấy Dyudya đang thắp nến trong căn phòng tầng dưới, đeo kính và đứng trong góc phòng với một cuốn sách. Ông đọc và làm dấu thánh giá một hồi lâu.

Những người khách lữ hành chìm vào giấc ngủ. Afanasyevna và Sofya tiến lại gần chiếc xe bò và bắt đầu nhìn Kuzka.

"Thằng bé mồ côi ngủ rồi," bà lão nói. "Nó gầy gò ốm yếu, chỉ toàn xương là xương. Không mẹ, không ai chăm sóc tử tế."

"Thằng Grishutka của con chắc lớn hơn nó hai tuổi," Sofya nói. "Ở trên nhà máy, nó sống như nô lệ mà không có mẹ. Chắc gã quản đốc đánh nó suốt. Khi nhìn thấy đứa trẻ tội nghiệp này lúc nãy, con lại nghĩ đến thằng Grishutka của mình, và tim con lạnh giá."

Một phút trôi qua trong im lặng.

"Chắc nó không nhớ mẹ đâu nhỉ," bà lão nói.

"Làm sao mà nhớ được?"

Và những giọt nước mắt lớn bắt đầu lăn dài từ đôi mắt Sofya.

"Nó cuộn tròn như một con mèo," cô nói, vừa nức nở vừa cười trong sự dịu dàng và đau xót... "Đứa trẻ tội nghiệp không mẹ!"

Kuzka giật mình mở mắt. Cậu thấy trước mặt mình một khuôn mặt xấu xí, nhăn nheo, đẫm nước mắt, và bên cạnh là một khuôn mặt khác, già nua, móm mém, với chiếc cằm nhọn và cái mũi khoằm, và cao phía trên họ là bầu trời vô tận với những đám mây đang bay và vầng trăng. Cậu bé thét lên vì sợ hãi, và Sofya cũng thốt lên một tiếng kêu; cả hai tiếng kêu đều vọng lại, và một sự xao động khẽ khàng lướt qua bầu không khí ngột ngạt; một người canh gác gõ gậy đâu đó gần đấy, một con chó sủa lên. Matvey Savitch lầm bầm điều gì đó trong giấc mơ và xoay người sang phía bên kia.

Đêm khuya, khi Dyudya, bà lão và người canh gác gần đó đều đã ngủ say, Sofya đi ra cổng và ngồi xuống băng ghế. Cô cảm thấy ngột ngạt và đau đầu vì khóc. Con đường rộng và dài; nó trải dài gần hai dặm về bên phải và cũng ngần ấy về bên trái, không thấy điểm dừng. Mặt trăng giờ không còn ở trên sân nữa, mà đã khuất sau nhà thờ. Một bên đường ngập trong ánh trăng, trong khi bên kia nằm trong bóng tối đen kịt. Những cái bóng dài của hàng cây dương và những chiếc tổ chim sáo trải dài khắp con đường, còn nhà thờ đổ một cái bóng rộng, đen ngòm và đáng sợ bao trùm lấy cổng nhà Dyudya và một nửa ngôi nhà. Con phố tĩnh lặng và vắng vẻ. Thỉnh thoảng, những tiếng nhạc lại vang lên nhè nhẹ từ cuối con phố—có lẽ là Alyoshka, đang chơi đàn concertina.

Ai đó chuyển động trong bóng tối gần khuôn viên nhà thờ, và Sofya không thể phân biệt được đó là người hay bò, hoặc có lẽ chỉ là một con chim lớn đang xào xạc trong tán lá. Nhưng rồi một bóng người bước ra khỏi bóng tối, dừng lại, và nói điều gì đó bằng giọng đàn ông, rồi biến mất vào khúc ngoặt cạnh nhà thờ. Một lát sau, cách cổng không đầy ba mét, một bóng người nữa xuất hiện; nó đi thẳng từ nhà thờ đến cổng và dừng lại đột ngột khi nhìn thấy Sofya trên băng ghế.

"Varvara, là cô đấy à?" Sofya nói.

"Thì đã sao nào?"

Đó là Varvara. Cô đứng yên một phút, rồi tiến lại gần băng ghế và ngồi xuống.

"Cô đã đi đâu vậy?" Sofya hỏi.

Varvara không trả lời.

"Cô nên cẩn thận kẻo rước họa vào thân với mấy trò đó đấy, cô gái ạ," Sofya nói. "Cô có nghe Mashenka bị đá và quất bằng dây cương thế nào không? Cô nên coi chừng, không thì họ cũng đối xử với cô y như vậy thôi."

"Thì kệ họ!"

Varvara cười vào chiếc khăn choàng và thì thầm:

"Tôi vừa đi với con trai linh mục đấy."

"Nói dối!"

"Thật mà!"

"Đó là tội lỗi!" Sofya thì thầm.

"Thì cứ là tội lỗi đi... Tôi quan tâm làm gì? Nếu là tội lỗi thì cứ là tội lỗi, nhưng thà bị sét đánh chết còn hơn sống thế này. Tôi còn trẻ, còn khỏe, mà lại có một gã chồng gù lưng tởm lợm, còn tệ hơn cả lão Dyudya, chết tiệt thật! Ngày con gái, tôi chẳng có cơm ăn, chẳng có giày đi, và để thoát khỏi cái cảnh khốn cùng ấy, tôi đã bị cám dỗ bởi tiền bạc của Alyoshka, và mắc kẹt như con cá trong lưới, thà tôi ngủ với một con rắn độc còn hơn với gã Alyoshka bệnh hoạn đó. Còn cuộc đời cô thì sao? Nhìn cô mà tôi thấy phát ốm. Fyodor của cô tống cổ cô khỏi nhà máy và cặp kè với người phụ nữ khác. Họ cướp đi đứa con trai của cô và biến nó thành nô lệ. Cô làm việc như trâu ngựa, mà chẳng bao giờ được nghe một lời tử tế. Thà tôi chịu ế suốt đời, thà tôi lấy nửa rúp từ con trai linh mục, thà tôi đi ăn xin, hay gieo mình xuống giếng còn hơn..."

"Đó là tội lỗi!" Sofya lại thì thầm.

"Thì kệ nó chứ."

Đâu đó sau nhà thờ, cùng ba giọng hát đó, hai giọng nam cao và một giọng nam trầm, lại bắt đầu hát một bài hát bi ai. Và một lần nữa, những ca từ không thể phân biệt được.

"Họ chẳng chịu ngủ sớm đâu," Varvara nói, cười khúc khích.

Và cô bắt đầu thì thầm kể về những chuyến đi đêm với con trai linh mục, về những câu chuyện anh ta kể cho cô, về bạn bè anh ta, và về những trò vui cô có với những người khách trọ trong nhà. Bài hát bi ai khơi dậy niềm khao khát sống và tự do. Sofya bắt đầu cười; cô thấy điều đó thật tội lỗi, thật khủng khiếp nhưng cũng thật ngọt ngào, và cô cảm thấy ghen tị và tiếc nuối vì mình cũng đã không dám làm một kẻ tội đồ khi còn trẻ và xinh đẹp.

Trong nghĩa trang nhà thờ, họ nghe thấy mười hai tiếng gõ trên tấm bảng của người canh gác.

"Đến lúc phải ngủ rồi," Sofya nói, đứng dậy, "không thì, có khi chúng ta lại bị lão Dyudya mắng cho ra trò."

Cả hai khẽ khàng đi vào sân.

"Tôi bỏ đi khi ông ta chưa kể hết đoạn Mashenka," Varvara nói, trải chỗ nằm dưới cửa sổ.

"Ông ta nói cô ấy chết trong tù. Cô ấy đã đầu độc chồng mình."

Varvara nằm xuống cạnh Sofya một lúc, rồi nói khẽ:

"Tôi mà là tôi giết quách lão Alyoshka của tôi, chẳng hối hận gì đâu."

"Cô nói nhảm gì thế; Chúa tha tội cho cô."

Khi Sofya vừa chìm vào giấc ngủ, Varvara, tiến lại gần, thì thầm vào tai cô:

"Để chúng ta tống khứ lão Dyudya và Alyoshka đi!"

Sofya giật mình và không nói gì. Sau đó cô mở mắt và nhìn chằm chằm vào bầu trời một lúc lâu.

"Người ta sẽ phát hiện ra mất," cô nói.

"Không đâu, không ai phát hiện ra đâu. Dyudya là lão già rồi, đến lúc lão phải chết thôi; còn Alyoshka thì người ta sẽ bảo nó chết vì rượu."

"Tôi sợ... Chúa sẽ trừng phạt chúng ta."

"Thì kệ Ngài..."

Cả hai nằm suy nghĩ trong im lặng.

"Lạnh quá," Sofya nói, bắt đầu run rẩy toàn thân. "Sắp sáng rồi... Cô ngủ chưa?"

"Chưa... Đừng để bụng những gì tôi nói nhé, cưng," Varvara thì thầm; "tôi phát điên lên với lũ súc vật khốn kiếp đó, tôi chẳng biết mình nói gì nữa. Ngủ đi, kẻo trời sáng mất bây giờ... Ngủ đi."

Cả hai im lặng và chẳng mấy chốc chìm vào giấc ngủ.

Bà lão thức dậy sớm nhất. Bà đánh thức Sofya và họ cùng đi vào chuồng bò để vắt sữa. Gã gù Alyoshka bước vào, say khướt không còn biết trời đất gì mà không có chiếc đàn concertina; ngực và đầu gối gã dính đầy bụi và rơm rạ—chắc gã đã ngã trên đường. Loạng choạng, gã đi vào chuồng bò, và không cần cởi đồ, gã lăn vào chiếc xe trượt và bắt đầu ngáy ngay lập tức. Khi những cây thánh giá trên nhà thờ rồi đến những khung cửa sổ bắt đầu lóe sáng trong ánh mặt trời mọc, và những bóng đổ dài trên sân cỏ đẫm sương từ những cái cây và miệng giếng, Matvey Savitch bật dậy và bắt đầu vội vã:

"Kuzka! dậy đi!" anh ta quát. "Đến lúc đóng ngựa rồi! Nhanh lên!"

Sự hối hả của buổi sáng bắt đầu. Một cô gái Do Thái trẻ mặc váy màu nâu có xếp nếp dắt một con ngựa vào sân cho uống nước. Ròng rọc giếng kêu rên rỉ, chiếc xô đập vào thành giếng khi đi xuống...

Kuzka, buồn ngủ, mệt mỏi, người đầy sương, ngồi dậy trong xe bò, lười biếng mặc chiếc áo khoác ngoài vào, và lắng nghe tiếng nước nhỏ giọt từ chiếc xô xuống giếng trong khi cậu run rẩy vì lạnh.

"Cô ơi!" Matvey Savitch hét lên với Sofya, "bảo thằng bé nhà tôi nhanh chóng đánh ngựa vào xe với!"

Và cùng lúc đó Dyudya quát lên từ cửa sổ:

"Sofya, thu một farthing của con mụ Do Thái đó vì tiền cho ngựa uống nước! Lũ đó lúc nào cũng vào đây, cái lũ ghẻ lở!"

Ngoài đường, lũ cừu đang chạy qua chạy lại, kêu be be; những người phụ nữ nông dân đang hét vào mặt người chăn cừu, còn ông ta thổi sáo, quất roi, hoặc trả lời họ bằng giọng trầm đục, buồn ngủ. Ba con cừu đi lạc vào sân, và không tìm thấy lối ra, cứ húc vào hàng rào.

Varvara bị đánh thức bởi tiếng ồn, cuộn đống chăn màn vào tay, cô đi vào nhà.

"Cô cũng nên đuổi lũ cừu ra ngoài đi chứ!" bà lão quát theo sau cô, "quý bà của tôi!"

"Còn lâu nhé! Tưởng tôi là nô lệ cho lũ Herod các người à!" Varvara lầm bầm, đi vào nhà.

Dyudya từ trong nhà đi ra với sổ sách trên tay, ngồi xuống bậc thềm, và bắt đầu tính toán xem vị khách nợ ông bao nhiêu tiền trọ đêm, tiền yến mạch và tiền cho ngựa uống nước.

"Ông tính tiền yến mạch hơi đắt đấy, ông bạn tốt ạ," Matvey Savitch nói.

"Nếu thấy đắt thì đừng lấy. Chẳng ai ép buộc cả, thương gia ạ."

Khi những người khách chuẩn bị khởi hành, họ bị giữ lại một phút. Kuzka đã làm mất chiếc mũ của mình.

"Đồ lợn con, mày để nó đâu rồi?" Matvey Savitch gầm lên giận dữ. "Nó đâu rồi?"

Khuôn mặt Kuzka co rúm vì sợ hãi; cậu chạy qua chạy lại gần chiếc xe bò, không tìm thấy ở đó, bèn chạy ra cổng rồi sang nhà kho. Bà lão và Sofya giúp cậu tìm.

"Tao sẽ giật tai mày ra đấy!" Matvey Savitch gào lên. "Đồ ranh con bẩn thỉu!"

Chiếc mũ được tìm thấy dưới đáy xe.

Kuzka phủi đám cỏ khô trên mũ bằng tay áo, đội lên, và rụt rè bò lên xe, trên mặt vẫn còn vẻ sợ hãi như thể sợ một cú đòn từ phía sau.

Matvey Savitch làm dấu thánh giá. Người đánh xe giật mạnh dây cương và chiếc xe bò lăn bánh ra khỏi sân.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.