Meliton Shishkin, một viên quản lý nông trại từ đồn điền Dementyev, sau khi rã rời vì cái nóng oi ả của rừng linh sam và người đầy mạng nhện cùng lá thông khô, đã tìm đường vác súng ra bìa rừng. Damka - con chó lai giữa giống chó săn và chó giữ nhà của lão, một con chó cái gầy trơ xương đang chửa vượt mặt - lầm lũi theo sau chủ, cái đuôi ướt sũng kẹp giữa hai chân, cố hết sức để tránh va quệt mũi. Đó là một buổi sáng buồn tẻ, u ám. Những giọt nước lớn nhỏ xuống từ đám dương xỉ và từ những cái cây đang bao phủ trong lớp sương mù nhàn nhạt; không khí nồng nặc mùi mục rữa bốc lên từ sự ẩm ướt của cánh rừng.
Phía trước lão, nơi cánh rừng kết thúc, là những thân cây bạch dương, và qua những cành nhánh của chúng, lão có thể nhìn thấy khoảng xa xăm mịt mù sương khói. Phía bên kia rừng bạch dương, ai đó đang thổi một chiếc sáo mục đồng thô sơ. Người thổi chỉ tạo ra năm sáu nốt nhạc, kéo dài chúng một cách uể oải mà chẳng hề cố gắng tạo thành một giai điệu nào, thế nhưng lại có cái gì đó khắc nghiệt và cực kỳ thê lương trong âm thanh tiếng sáo ấy.
Khi cánh rừng thưa dần và những cây thông xen lẫn với đám bạch dương non, Meliton nhìn thấy một đàn gia súc. Những con ngựa bị buộc chân, bò và cừu đang lang thang giữa những bụi cây; chúng vừa gặm cỏ, vừa bẻ gãy những cành khô, mũi hít hà đám cỏ dại trong rừng. Một lão chăn cừu già gầy gò, đầu trần, mặc chiếc áo khoác xám rách rưới, đứng tựa người vào thân cây bạch dương ướt đẫm. Lão đăm đăm nhìn xuống đất, suy tư điều gì đó, và thổi sáo một cách dường như rất vô thức.
“Chào cụ! Chúc cụ một ngày tốt lành!” Meliton cất tiếng chào bằng giọng nói mỏng, khàn đục, nghe chẳng hề hợp với dáng vóc to lớn và khuôn mặt đầy đặn, thịt thà của lão chút nào. “Cụ thổi sáo khéo thật đấy! Cụ đang chăn đàn gia súc của nhà nào thế?”
“Nhà Artamonov,” lão chăn cừu miễn cưỡng đáp, rồi đút vội cây sáo vào trong ngực áo.
“Vậy ra khu rừng này cũng là của nhà Artamonov sao?” Meliton vừa hỏi vừa nhìn quanh. “Đúng là nhà Artamonov rồi; nghĩ mà xem... Tôi đã lạc lối hoàn toàn. Mặt mũi thì bị gai cào rách cả ra.”
Lão ngồi xuống mặt đất ẩm ướt, bắt đầu cuộn một mẩu giấy báo để làm điếu thuốc.
Giống như giọng nói của mình, mọi thứ trên người Meliton đều nhỏ bé và không cân xứng với chiều cao, bề ngang và khuôn mặt phúng phính của lão: từ nụ cười, đôi mắt, những chiếc khuy áo, cho đến cái mũ tí hon khó lòng mà đội vững trên cái đầu to cạo trọc của lão. Khi lão nói và cười, có cái gì đó rất đàn bà, rụt rè và nhu mì trên khuôn mặt cạo nhẵn, sưng húp và toàn bộ vóc dáng của lão.
“Thời tiết thế này đây! Chúa phù hộ chúng ta!” Lão nói và quay đầu nhìn ngó xung quanh. “Người ta còn chưa kịp thu hoạch yến mạch mà trời đã đổ mưa như thể cứ thế trút xuống mãi không thôi, lạy Chúa ban phước.”
Lão chăn cừu nhìn lên bầu trời, nơi những hạt mưa phùn đang rơi xuống, nhìn cánh rừng, nhìn quần áo ướt sũng của viên quản lý, lão trầm ngâm rồi không nói gì.
“Cả mùa hè đều thế cả,” Meliton thở dài. “Nông dân thì mất mùa, còn tầng lớp thượng lưu thì chẳng được hưởng thú vui gì.”
Lão chăn cừu lại nhìn lên bầu trời, nghĩ ngợi một lát rồi từ tốn nói, như thể đang nhai từng chữ một:
“Mọi thứ đều đi theo cái đà đó cả thôi... Chẳng có gì tốt đẹp để mà mong chờ nữa.”
“Ở quanh đây tình hình thế nào?” Meliton hỏi, vừa châm điếu thuốc. “Cụ có thấy đàn gà gô nào trong khu đất trống nhà Artamonov không?”
Lão chăn cừu không trả lời ngay. Lão lại nhìn lên bầu trời, nhìn sang phải rồi sang trái, suy nghĩ một chút, chớp mắt... Dường như lão coi trọng lời nói của mình lắm, và để tăng thêm giá trị cho chúng, lão cố gắng phát âm một cách chậm rãi và đầy vẻ trang trọng. Biểu cảm trên khuôn mặt lão mang sự sắc sảo và điềm tĩnh của tuổi già, và việc chiếc mũi của lão có một nếp lõm hình yên ngựa ở giữa cùng hai lỗ mũi hếch lên khiến lão trông thật láu lỉnh và mỉa mai.
“Không, tôi nghĩ là không,” lão đáp. “Thợ săn Eryomka nhà chúng tôi bảo rằng vào ngày lễ Thánh Elijah, hắn có thấy một đàn ở gần Pustoshye, nhưng tôi dám chắc là hắn nói dối. Chim chóc giờ ít lắm.”
“Phải đấy, người anh em ạ, rất ít... Ở đâu cũng rất ít! Việc săn bắn ở đây, nếu nhìn bằng con mắt thông thường, thì chẳng ra làm sao cả và không đáng để bận tâm. Chẳng có con thú nào cả, mà nếu có thì cũng chẳng đáng để nhúng tay vào - chúng còn chưa trưởng thành. Đồ tồi đến mức trông vào cũng thấy xấu hổ.”
Meliton cười và xua tay.
“Thế gian này chuyện gì cũng kỳ quặc, thật chỉ biết cười trừ thôi. Chim chóc ngày nay cũng trở nên thật khó hiểu: chúng đẻ trứng muộn, thậm chí tôi dám chắc có những con còn chưa ấp xong trứng cho đến tận ngày lễ Thánh Peter!”
“Tất cả đều thế cả,” lão chăn cừu nói, ngửa mặt lên trời. “Năm ngoái đã ít thú, năm nay chim chóc còn ít hơn, và trong năm năm nữa, cứ đánh dấu lời tôi đây, sẽ chẳng còn con nào cả. Theo những gì tôi thấy thì chẳng mấy chốc không chỉ không có thú săn, mà chim chóc cũng chẳng còn.”
“Đúng thế,” Meliton đồng tình sau một lát suy nghĩ. “Thật đúng là như vậy.”
Lão chăn cừu nở nụ cười cay đắng và lắc đầu.
“Thật kỳ lạ,” lão nói, “không biết chúng đã đi đâu hết cả rồi! Tôi nhớ hai mươi năm trước, ở đây từng có ngỗng, sếu, vịt và gà gô - nhiều như mây vậy! Các quý ông thường tụ tập đi săn, và chỉ nghe thấy tiếng pằng-pằng-pằng! pằng-pằng-pằng! Chim dẽ, chim nhát, chim mòng két nhiều vô kể, còn chim dẽ nước thì phổ biến như chim sáo, hay cứ cho là như chim sẻ đi - nhiều nhan nhản! Thế mà giờ chúng đi đâu hết cả rồi? Ngay cả chim săn mồi chúng ta cũng không thấy nữa. Đại bàng, diều hâu, cú vọ đều đã biến mất... Đủ loại thú hoang cũng ít đi. Ngày nay, người anh em ạ, ngay cả sói và cáo cũng trở nên hiếm hoi, đừng nói chi đến gấu hay rái cá. Và anh biết không, ngày xưa thậm chí còn có cả nai sừng tấm nữa! Suốt bốn mươi năm nay, tôi đã quan sát các công trình của Chúa năm này qua năm khác, và theo ý kiến của tôi thì mọi thứ đều đang đi theo một chiều hướng cả.”
“Chiều hướng nào?”
“Hướng tồi tệ, chàng trai trẻ ạ. Hướng diệt vong, ta phải cho là thế... Thời gian để thế giới của Chúa biến mất đã điểm rồi.”
Ông lão đội mũ lên và bắt đầu đăm đăm nhìn bầu trời.
“Đáng tiếc thật,” lão thở dài sau một thoáng im lặng. “Lạy Chúa, thật đáng tiếc! Tất nhiên đó là ý Chúa; thế giới không phải do chúng ta tạo ra, nhưng dù sao vẫn thấy tiếc, người anh em ạ. Nếu một cái cây héo úa, hay giả như một con bò chết đi, người ta cũng thấy đau lòng, huống chi là nếu cả thế giới này biến thành cát bụi, hỡi người bạn tốt? Biết bao phúc lành, lạy Chúa Jesus! Mặt trời, bầu trời, rừng cây, sông ngòi và muôn loài - tất cả những thứ này đã được tạo ra, thích nghi và điều chỉnh cho phù hợp với nhau. Mỗi thứ đều được giao một nhiệm vụ đã định và biết vị trí của riêng mình. Vậy mà tất cả đều phải tan biến.”
Một nụ cười buồn bã thoáng hiện trên khuôn mặt lão chăn cừu, và mi mắt lão rung rung.
“Cụ nói - thế giới đang diệt vong,” Meliton trầm tư nói. “Có thể ngày tận thế đã gần kề, nhưng không thể đánh giá qua loài chim được. Tôi không nghĩ chim chóc có thể coi là điềm báo.”
“Không chỉ loài chim đâu,” lão chăn cừu nói. “Cả thú hoang, gia súc, ong mật và cá nữa... Nếu không tin tôi, anh cứ hỏi mấy người già xem; bất kỳ ông già nào cũng sẽ nói với anh rằng cá không còn được như trước nữa. Dưới biển, trong hồ, và trên những con sông, số lượng cá cứ ít dần đi theo từng năm. Ở con sông Pestchanka của chúng ta, tôi nhớ ngày xưa cá chó đánh bắt được dài cả thước, rồi còn có cá lăng, cá diếc, cá tráp, con nào trông cũng ra dáng con nấy; còn ngày nay, nếu anh bắt được một con cá chó hay cá rô nhỏ xíu tội nghiệp dài chừng sáu inch thì cũng phải cảm tạ trời đất rồi. Cá bống còn chẳng đáng để nhắc tới. Mỗi năm lại càng tồi tệ hơn, và chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn con cá nào cả. Và hãy nhìn những con sông xem... sông đang cạn dần, chắc chắn là vậy.”
“Đúng thế; chúng đang cạn dần.”
“Chắc chắn rồi, đó là điều tôi nói đấy. Mỗi năm nước lại càng nông hơn, không còn những hố nước sâu như ngày xưa nữa. Anh có nhìn thấy mấy bụi cây đằng kia không?” ông lão hỏi, chỉ tay về một hướng. “Phía sau chúng là một lòng sông cũ; người ta gọi đó là vũng chết. Thời cha tôi, sông Pestchanka từng chảy qua đó, nhưng giờ anh nhìn xem; lũ quỷ đã mang nó đi đâu mất rồi? Nó thay đổi dòng chảy, và này anh, nó sẽ cứ thay đổi cho đến khi cạn kiệt hoàn toàn. Xưa kia từng có những đầm lầy và ao hồ phía bên kia Kurgasovo, giờ chúng đâu rồi? Còn những dòng suối thì sao? Ngay trong khu rừng này ngày trước từng có một dòng suối chảy qua, một dòng suối mà nông dân thường đặt lờ bắt được cá chó; vịt hoang thường trú đông ở đó, còn ngày nay thì chẳng còn giọt nước nào đáng kể, ngay cả vào những đợt lũ xuân. Phải đấy, người anh em ạ, nhìn đâu cũng thấy tồi tệ. Ở đâu cũng vậy!”
Một sự im lặng bao trùm. Meliton chìm vào suy nghĩ, đôi mắt dán chặt vào một điểm. Lão muốn nghĩ về một phần nào đó của tự nhiên vẫn chưa bị sự tàn phá bao trùm. Những vệt sáng lấp lánh trên làn sương mù và những vệt mưa chéo rồi vụt tắt như trên mặt kính đục - đó là mặt trời đang lên cố gắng xuyên qua những đám mây để nhìn ngó thế gian.
“Phải, cả những cánh rừng nữa...” Meliton lẩm bẩm.
“Cả những cánh rừng nữa,” lão chăn cừu lặp lại. “Người ta đốn hạ, rồi chúng bắt lửa, rồi chúng héo tàn, và chẳng có cây mới nào mọc lên cả. Thứ gì vừa mọc lên là bị chặt ngay; hôm nay vừa nhú lên thì ngày mai đã bị hạ - cứ thế không dứt cho đến khi chẳng còn gì. Tôi đã chăn đàn gia súc của công xã từ thời Tự Do, người bạn ạ; trước thời Tự Do tôi là người chăn đàn gia súc của chủ. Tôi đã trông coi chúng ngay tại chính nơi này, và cả đời tôi chẳng nhớ nổi một ngày hè nào mà tôi không ở đây. Và suốt thời gian đó tôi đã quan sát các công trình của Chúa. Tôi đã nhìn chúng đủ lâu để hiểu tường tận, và ý kiến của tôi là mọi sinh vật đang tăng trưởng đều đang lụi tàn. Dù anh có nhìn vào lúa mạch đen, rau củ hay bất kỳ loài hoa nào, tất cả đều đi theo cái đà đó cả thôi.”
“Nhưng con người đã trở nên tốt đẹp hơn,” viên quản lý nhận xét.
“Tốt hơn ở chỗ nào?”
“Khôn ngoan hơn.”
“Khôn ngoan hơn, có thể là vậy, đúng thế đấy, chàng trai trẻ ạ; nhưng khôn ngoan để làm gì cơ chứ? Sự khôn ngoan có ích lợi gì trần thế nào cho con người khi đang đứng bên bờ vực diệt vong? Người ta vẫn có thể diệt vong mà chẳng cần sự khôn ngoan. Một thợ săn thì cần khôn ngoan làm gì nếu chẳng có thú săn? Điều tôi nghĩ là Chúa đã ban cho con người trí tuệ nhưng lại lấy đi sức mạnh của họ. Con người đã trở nên yếu đuối, cực kỳ yếu đuối. Lấy tôi làm ví dụ xem... tôi chẳng đáng giá nửa xu, tôi là kẻ bần nông thấp kém nhất cả làng, nhưng chàng trai trẻ ạ, tôi vẫn có sức lực. Anh biết không, tôi đã ngoài bảy mươi, ngày qua ngày tôi vẫn lùa đàn gia súc, rồi còn canh đêm nữa, với hai mươi kopeck, vậy mà tôi không ngủ, không thấy lạnh; con trai tôi khôn ngoan hơn tôi, nhưng nếu đặt nó vào vị trí của tôi, ngày hôm sau nó đã đòi tăng lương, hoặc là đi tìm bác sĩ rồi. Chuyện là vậy đấy. Tôi chẳng ăn gì ngoài bánh mì, vì ‘Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,’ cha tôi cũng chỉ ăn bánh mì, ông nội tôi cũng thế; còn nông dân ngày nay phải có trà, có rượu vodka và bánh mì trắng, phải ngủ từ lúc mặt trời lặn đến lúc bình minh, rồi còn chạy chữa bác sĩ và nuông chiều bản thân đủ kiểu. Và tại sao lại thế? Vì họ đã trở nên yếu đuối; họ không đủ sức chịu đựng. Nếu muốn thức, mắt họ lại díp lại - chẳng làm được tích sự gì cả.”
“Đúng thế,” Meliton đồng ý; “nông dân ngày nay chẳng được việc gì.”
“Chẳng việc gì phải giấu giếm cái sai cả; chúng ta cứ ngày một tệ đi. Và nếu xét đến tầng lớp thượng lưu, họ còn yếu đuối hơn cả nông dân nữa. Quý ông ngày nay đã nắm được mọi thứ; họ biết những điều lẽ ra không nên biết, và điều đó có ý nghĩa gì chứ? Nhìn họ thấy thật đáng thương... Họ là những gã ốm yếu, nhỏ thó như mấy gã Hungary hay Pháp; chẳng có chút uy nghiêm hay phong thái nào; chỉ là cái danh quý ông thôi. Chẳng có chỗ nào cho họ cả, tội nghiệp quá, cũng chẳng có việc gì để họ làm, và chẳng hiểu họ muốn gì nữa. Hoặc là họ ngồi câu cá, hoặc là nằm ngửa ra đọc sách, hoặc chạy lăng xăng giữa đám nông dân nói những điều trên trời dưới biển, và những kẻ đói khổ thì đi làm thư lại. Thế là họ phí hoài cả cuộc đời. Và họ chẳng có khái niệm gì về việc làm điều gì đó thực sự và hữu ích. Quý tộc ngày xưa một nửa là tướng lĩnh, còn ngày nay thì - thật là lũ người tồi tệ.”
“Họ khổ sở lắm trong thời nay,” Meliton nói.
“Họ nghèo khổ hơn vì Chúa đã lấy đi sức mạnh của họ rồi. Anh không thể đi ngược lại ý Chúa được.”
Meliton lại nhìn chằm chằm vào một điểm. Sau khi suy nghĩ một lát, lão thở dài như cách những người điềm tĩnh, biết lý lẽ vẫn thường thở dài, lắc đầu và nói:
“Và tất cả là vì sao? Chúng ta đã phạm tội quá nhiều, chúng ta đã quên mất Chúa... và có vẻ như thời điểm để tất cả kết thúc đã đến. Mà suy cho cùng, thế giới này đâu thể tồn tại mãi mãi - cũng đã đến lúc phải biết nói lời chia tay rồi.”
Lão chăn cừu thở dài và, như thể muốn cắt ngang một cuộc trò chuyện không mấy dễ chịu, lão bước xa khỏi gốc cây bạch dương và lẳng lặng bắt đầu kiểm đếm đàn bò.
“Này, này, này!” lão hét lớn. “Này, này, này! Phiền phức thật, dịch hạch bắt lấy các ngươi! Quỷ tha ma bắt các ngươi vào bụi rậm rồi. Tu-lu-lu!”
Với vẻ mặt giận dữ, lão đi vào bụi cây để gom đàn gia súc lại. Meliton đứng dậy và chậm rãi dạo bước dọc theo bìa rừng. Lão nhìn xuống mặt đất dưới chân mình và suy tư; lão vẫn muốn nghĩ về một điều gì đó chưa bị cái chết chạm đến. Những vệt sáng lại bò lên những dải mưa chéo; chúng nhảy múa trên ngọn cây rồi tắt ngấm giữa những tán lá ướt. Damka tìm thấy một con nhím dưới bụi cây, và muốn thu hút sự chú ý của chủ, nó sủa và rít lên.
“Các anh có bị nhật thực hay không thế?” lão chăn cừu gọi vọng ra từ bụi rậm.
“Có, chúng tôi có bị,” Meliton trả lời.
“À! Người ta đang phàn nàn khắp nơi về việc đó. Điều đó cho thấy ngay cả trên thiên đàng cũng đang hỗn loạn! Chẳng phải tự nhiên mà vậy đâu... Này, này, này! Này!”
Lùa đàn gia súc về phía bìa rừng, lão chăn cừu tựa người vào cây bạch dương, nhìn lên bầu trời, không vội vàng lấy cây sáo trong ngực áo ra và bắt đầu thổi. Như trước đó, lão thổi một cách máy móc và chỉ thổi năm sáu nốt; như thể cây sáo mới lần đầu trên tay lão, âm thanh phát ra không chắc chắn, không theo quy luật, chẳng hòa quyện thành giai điệu nào, nhưng đối với Meliton, kẻ đang trăn trở về sự diệt vong của thế giới, trong tiếng sáo có âm thanh của một thứ gì đó vô cùng chán nản và kinh tởm mà lão thà không nghe thấy thì hơn. Những nốt cao nhất, chói tai nhất, run rẩy và vỡ vụn, dường như đang khóc than tuyệt vọng, như thể cây sáo đang ốm yếu và sợ hãi, trong khi những nốt thấp nhất vì lý do nào đó lại làm lão nhớ đến làn sương mù, những cái cây ủ rũ, bầu trời xám xịt. Thứ âm nhạc như vậy dường như rất hợp với thời tiết, ông già này và những lời nói của lão.
Meliton muốn than phiền. Lão tiến lại gần ông già, và nhìn vào khuôn mặt đau buồn, giễu cợt cùng cây sáo của lão, lão lẩm bẩm:
“Và cuộc sống ngày càng tệ hơn, ông cụ ạ. Thật không thể sống nổi. Mất mùa, túng thiếu... Dịch bệnh gia súc liên miên, đủ loại bệnh tật... Chúng ta đang bị cái nghèo đè bẹp.”
Khuôn mặt sưng húp của viên quản lý đỏ bừng và mang vẻ chán chường, ủy mị. Lão xoay xoay các ngón tay như thể đang tìm từ ngữ để diễn tả cảm xúc mơ hồ của mình và tiếp tục:
“Tám đứa con, một vợ... và mẹ tôi vẫn còn sống, vậy mà lương bổng cả thảy mười rúp một tháng còn phải tự lo ăn uống. Vợ tôi đã trở thành quỷ dữ vì nghèo túng... Bản thân tôi cũng đâm ra rượu chè. Tôi là người khôn ngoan, điềm đạm; tôi có học thức. Đáng lẽ tôi phải được ngồi yên ổn ở nhà, nhưng tôi lại phải lang thang cả ngày với khẩu súng như một con chó vì tôi không thể chịu đựng nổi nữa; ngôi nhà thật đáng ghét đối với tôi!”
Cảm thấy cái lưỡi mình đang thốt ra những điều hoàn toàn khác với những gì lão muốn nói, viên quản lý xua tay và nói một cách cay đắng:
“Nếu thế giới sắp tận thế thì tôi ước nó hãy làm cho nhanh lên. Không cần phải kéo dài ra làm khổ người ta một cách vô ích...”
Ông già bỏ cây sáo ra khỏi môi và, nheo một mắt, nhìn vào lỗ nhỏ của nó. Khuôn mặt lão buồn bã và phủ đầy những giọt nước dày đặc như những giọt lệ. Lão mỉm cười và nói:
“Thật đáng tiếc, người bạn ạ! Lạy Chúa, thật đáng tiếc! Trái đất, rừng cây, bầu trời, muôn loài thú - tất cả những thứ này đã được tạo ra, anh biết đấy, được thích nghi; tất cả chúng đều có trí tuệ. Tất cả đều sắp tan hoang. Và tôi thương nhất là thương con người.”
Trong rừng vang lên tiếng mưa nặng hạt đang đến gần. Meliton nhìn về hướng phát ra âm thanh, cài lại hết các khuy áo và nói:
“Tôi đi về làng đây. Chào tạm biệt ông cụ. Ông tên là gì?”
“Luka Kẻ Nghèo.”
“Vâng, chào tạm biệt, Luka! Cảm ơn cụ về những lời hay ý đẹp. Damka, đi thôi!”
Sau khi chia tay lão chăn cừu, Meliton rảo bước dọc bìa rừng, rồi xuống một đồng cỏ dần dần biến thành đầm lầy. Có tiếng nước lép nhép dưới chân lão, và đám cỏ lác đầm lầy màu rỉ sét, vẫn còn xanh và mọng nước, rũ xuống mặt đất như thể sợ bị giẫm nát dưới chân. Phía sau đầm lầy, trên bờ sông Pestchanka mà ông già vừa nhắc đến, đứng một hàng liễu, và phía sau những rặng liễu đó, một nhà kho trông xanh thẫm trong màn sương. Người ta có thể cảm nhận được sự tiếp cận của cái mùa khốn khổ, không thể tránh khỏi đó, khi những cánh đồng trở nên tối tăm và mặt đất bùn lầy, lạnh lẽo, khi cây liễu rũ trông càng u sầu hơn và nước mắt chảy dài xuống thân cây, và chỉ có những con sếu bay đi khỏi sự khốn cùng chung, và ngay cả chúng, như thể sợ xúc phạm thiên nhiên chán chường bằng sự hạnh phúc của mình, cũng lấp đầy không gian bằng những âm thanh buồn bã, thê lương.
Meliton nặng nề bước về phía dòng sông, và nghe thấy tiếng sáo dần dần tắt lịm phía sau lưng mình. Lão vẫn muốn than phiền. Lão nhìn quanh một cách chán chường, và cảm thấy vô cùng tội nghiệp cho bầu trời, mặt đất, mặt trời, rừng cây và cả con Damka của mình, và khi nốt cao kéo dài của tiếng sáo rung lên trong không trung, như một giọng người đang khóc, lão cảm thấy cay đắng vô cùng và oán giận sự bất hợp lý trong cách hành xử của tự nhiên.
Nốt cao rung lên, vỡ vụn, và cây sáo im bặt.