Nghiệp Ác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

…the writings done in blood.Dòng chữ viết bằng máu.

Blue Öyster Cult,

OD’d on Life Itself

Lắm kẻ sẽ nghĩ rằng nhận tiền đi theo dõi một em tóc vàng ngon mắt quanh London hẳn dễ chịu phết, nhưng Strike đã ngán tận cổ trò bám đuôi Bạch Kim. Sau hàng tiếng đồng hồ lảng vảng quanh phố Houghton, nơi cầu vượt bằng kính và thép của trường LSE hiện lên cô vũ nữ khiêu dâm bán thời gian trên đường đến thư viện, Strike bám theo cô ta đến Spearmint Rhino vào ca 4 giờ chiều. Tới nơi, hắn rời đi: Quạ Đen sẽ gọi nếu Bạch Kim làm gì không phải phép, và hắn đã có hẹn gặp Wardle lúc sáu giờ.

Hắn ăn bánh mì kẹp ở một hàng gần tửu quán điểm hẹn. Điện thoại hắn đổ chuông một lần, nhưng khi thấy tên em gái, hắn cho cuộc gọi vào thẳng hộp thư thoại.

Hắn mang máng nhớ gần đến sinh nhật thằng cháu Jack, mà hắn thì không muốn đi tiệc sinh nhật nó nữa, nhất là sau lần tiệc năm ngoái. Hắn vẫn còn nhớ hội các mẹ lắm chuyện bạn của Lucy và tiếng trẻ con gào thét điếc tai, khi thì hưng phấn, lúc lại mè nheo.

Quán The Old Blue Last nằm đầu phố Great Eastern ở Shoreditch, một tòa nhà xây gạch ba tầng đồ sộ, nhô ra như cái mũi hếch, mặt tiền uốn tựa mũi tàu. Trong trí nhớ của Strike, chỗ này từng là nhà thổ kiêm hộp đêm khiêu dâm: một thằng bạn học cũ của hắn và Nick nghe đâu từng bị mất trinh tại đây, kẻ thủ ác là một bà sồn sồn ngang tuổi mẹ nó.

Biển hiệu ngay bên trong cửa long trọng tuyên bố quán The Old Blue Last nay đã tái sinh thành tụ điểm ca nhạc. Từ tám giờ tối đêm đó, Strike đọc tiếp, hắn sẽ được thưởng thức nhạc sống của các ban Islington Boys’ Club, Red Drapes, In Golden Tears và Neon Index. Hắn nhếch mép cười khẩy khi bước vào phòng bar sàn gỗ màu tối, đằng sau quầy bar có tấm gương khủng kiểu đồ cổ khắc chữ vàng quảng cáo món bia pale ale thời xưa. Những quả đèn tròn bằng thủy tinh treo từ trần cao, chiếu sáng đám đông thanh niên nam nữ, nhiều người trông như sinh viên, hầu hết ăn mặc kiểu sành điệu mà hắn không cảm nổi.

Mặc dù là fan ruột của các ban nhạc biểu diễn ở sân vận động, mẹ Strike vẫn từng dẫn hắn đến nhiều tụ điểm như vậy, thường mấy ban có bạn bè của bà xí được một hai suất diễn rồi chí chóe tan rã, rồi tái hợp và ba tháng sau lại xuất hiện tại một tửu quán khác. Strike thấy vụ Wardle chọn quán The Old Blue Last hơi lạ, vì trước giờ tay cảnh sát chỉ uống với Strike trong quán Feathers, ngay cạnh trụ sở Scotland Yard của cảnh sát thủ đô. Lý do trở nên rõ ràng khi Strike đến chỗ Wardle đang cầm vại bia đứng một mình ở quầy bar.

“Bà xã thích Islington Boys’ Club. Hẹn gặp nhau ở đây sau khi tan sở.”

Strike chưa bao giờ gặp vợ của Wardle, và mặc dù không quan tâm lắm, nếu phải đoán, hắn đã đoán có lẽ cô này là một sự pha trộn giữa Bạch Kim (vì mắt Wardle thường dõi theo những làn da rám nhuộm và áo quần kiệm vải) và bà vợ cảnh sát duy nhất mà hắn biết, chính là Helly, người chỉ quan tâm đến con cái, nhà cửa và những chuyện ngồi lê mách lẻo giật gân. Chuyện vợ Wardle thích một ban nhạc indie mà Strike chưa từng nghe tên, mặc dù hắn đã nghĩ sẵn trong đầu chắc là thể loại hát hò vớ vẩn, vẫn khiến hắn cho rằng cô này chắc hay ho hơn mình đã tưởng nhiều.

“Anh tìm ra cái gì rồi?” Strike hỏi Wardle, sau khi mua được bia từ tay nhân viên quầy bar luôn tay luôn chân. Hai người cùng rời quầy bar, ra hai chỗ còn trống cuối cùng trong quán.

“Bên pháp y đang làm cái chân,” Wardle đáp khi cả hai ngồi xuống. “Họ nói nạn nhân là nữ, trong khoảng mười lăm đến hai lăm tuổi, đã chết khi bị cắt chân – nhưng chưa chết lâu, dựa trên mức đông máu – cái chân được giữ trong tủ đông từ khi cắt lìa đến lúc giao cho Robin bạn anh.”

Mười lăm đến hai lăm tuổi: Strike nhẩm tính, Brittany Brockbank bây giờ chừng hai mươi mốt tuổi.

“Họ không đoán tuổi cụ thể hơn được sao?”

Wardle lắc đầu.

“Chỉ đoán được tới chừng đó thôi. Mà sao kia?”

“Tôi đã nói với anh rồi: Vợ Brockbank có con gái riêng.”

“Brockbank,” Wardle lặp lại, giọng thờ ơ, chứng tỏ không nhớ gì cả.

“Một trong những đứa tôi nghi ngờ,” Strike nói, không giấu nổi sự sốt ruột. “Cựu Chuột Sa Mạc. To con tóc đen, lỗ tai sưng vếu…”

“Ờ, được rồi,” Wardle đáp, ngay lập tức thấy khó chịu. “Tôi ngày nào chẳng được đưa đủ thứ tên tuổi. Brockbank – có hình xăm trên cánh tay chứ gì…”

“Đó là Laing,” Strike đáp. “Là tay người Scot bị tôi cho xộ khám mười năm. Brockbank là tay đổ thừa bị tôi đánh chấn thương sọ não.”

“À đúng rồi.”

“Con riêng của vợ hắn, Brittany, cũng có sẹo trên chân. Tôi đã nói với anh rồi.”

“À à nhớ rồi.”

Strike nhấp bia, cố kìm lại, không đốp chát chua ngoa. Nếu người ngồi đối diện hắn là Graham Hardacre đồng nghiệp SIB cũ, hắn hẳn sẽ thấy tin tưởng hơn nhiều, tin tưởng rằng những nghi vấn của hắn được điều tra tới nơi tới chốn. Mối quan hệ giữa Strike và Wardle ngay từ đầu đã vướng nghi ngại, rồi sau đó lại có chút ganh đua. Hắn đánh giá năng lực điều tra của Wardle cao hơn vài tay cảnh sát thủ đô khác đã từng gặp, nhưng Wardle vẫn cưng giả thuyết của chính mình hơn của Strike.

“Vậy họ có nói gì về vết sẹo trên bắp chân không?”

“Là sẹo cũ. Từ rất lâu trước khi chết.”

“Bỏ mẹ,” Strike nói.

Vết sẹo cũ có lẽ không làm bên pháp y bận tâm, nhưng với Strike lại vô cùng quan trọng. Đây chính là điều mà hắn đã sợ. Ngay cả Wardle, vốn luôn tranh thủ cà khịa Strike mọi lúc có thể, dường như cũng đang đồng cảm với mối lo của hắn.

“Ê bồ,” tay cảnh sát thân mật (vụ này cũng hơi bị mới), “không phải Brockbank đâu. Là Malley đó.”

Strike đã từng sợ điều này, sợ rằng chỉ cần nhắc đến tên Malley cũng sẽ khiến Wardle chăm chăm vào gã này mà bỏ qua các nghi can còn lại, Wardle vô cùng phấn chấn trước viễn cảnh lập chiến công bắt một tay trùm xã hội đen khét tiếng như vậy.

“Bằng chứng?” Strike hỏi cụt ngủn.

“Băng Harringay chuyên chở mấy em Đông Âu quanh London và trên Manchester. Tôi có nói chuyện với bên Đội Chống Tệ Nạn. Bên đó vừa phá một nhà thổ đầu đường hồi tuần rồi, cứu ra được hai em người Ukraine.” Wardle tiếp tục hạ giọng. “Tụi tôi cho nữ sĩ quan làm việc với hai ẻm. Khai là có một đứa bạn, tưởng qua Anh làm người mẫu, rồi tới khi biết ra thì không chịu làm gái, bị đánh nhừ tử cũng không làm. Digger túm tóc em này lôi ra khỏi nhà hai tuần trước, sau đó không thấy ẻm ở đâu. Cũng không thấy Digger luôn.”

“‘Tóm lại là chuyện thường ngày với Digger,” Strike nói. “Đâu nhất thiết là chân cô này. Có ai từng nghe hắn nhắc đến tôi không?”

“Có,” Wardle hí hửng đáp.

Strike hạ ly bia vừa định uống xuống. Hắn không nghĩ Wardle sẽ đáp như vậy.

“Vậy sao?”

“Một trong hai ẻm nói là có nghe Digger nhắc tới anh cách đây không lâu.”

“Nhắc vụ gì?”

Wardle thốt ra một từ đa âm tiết: tên họ của một tay chủ sòng bạc người Nga giàu có, Strike đúng là có làm ít việc cho tay này hồi cuối năm ngoái. Strike nhướng mày. Theo hắn nhận định, chuyện Digger biết hắn đã làm việc cho tay chủ sòng không có nghĩa rằng Digger đã biết nhờ bằng chứng của hắn mà mình phải xộ khám. Thông tin mới nhận này chỉ khiến Strike nghĩ rằng thân chủ người Nga của hắn đúng là toàn chơi với thú dữ, mà thực ra chuyện này hắn đã biết ít nhiều.

“Chuyện tôi nhận xu của Arzamastsev thì mắc míu gì đến Digger?”

“À, vậy anh muốn bắt đầu từ đâu?” Wardle đáp, mơ hồ nhưng giả vờ như đang nói chuyện vĩ mô. “Băng này mâm nào cũng có mặt. Cơ bản là, ở đây ta có một tay bị anh chọc tức, có tiền sử gởi tay chân lòng mề cho người ta, rồi biến mất với gái trước khi anh nhận được chân gái.”

“Anh nói vậy nghe cũng có lý,” Strike đáp, thực ra hắn chẳng thấy có lý tí nào. “Vậy anh có đụng gì tới Laing, Brockbank và Whittaker không?”

“Có chứ,” Wardle nói. “Đã cho người định vị hết cả đám.”

Strike hi vọng rằng anh ta nói thật, nhưng cố không hỏi lại, ngại sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ thân thiện với Wardle.

“Tụi tôi có băng ghi hình người chuyển hàng từ camera an ninh nữa,” Wardle nói.

“Sao?”

“Đồng nghiệp của anh đúng là nhân chứng xịn,” Wardle nói. “Đúng là xe Honda. Biển số giả. Áo quần chính xác như cổ mô tả. Y lái xe về hướng tây nam - về phía kho bưu phẩm thật sự hẳn hoi. Hình cuối cùng ghi được là ở Wimbledon. Sau đó không có hình ảnh gì của người hay xe, nhưng như tôi đã nói, biển số giả. Nên có thể ở bất kỳ đâu.”

“Biển số giả,” Strike lặp lại. “Tính toán kinh thật.”

Quán bắt đầu đông dần lên. Nghe đâu ban nhạc sẽ chơi trên lầu: người ta bắt đầu chen chúc ra phía cửa dẫn lên tầng một, Strike nghe có tiếng rít quen thuộc khi thử micro.

“Tôi có cái này cho anh,” Strike nói, không mặn mà gì. “Tôi hứa với Robin sẽ đưa cho anh.”

Sáng sớm hôm đó hắn đã về văn phòng. Bọn phóng viên đã chán, không thèm đón đường hắn nữa, nhưng một người quen ở hiệu đàn guitar đối diện có nhắn hắn rằng đến tối hôm trước ở đó vẫn có thợ săn ảnh chầu chực.

Wardle đón lấy bản sao hai lá thư, vẻ hơi tò mò.

“Cả hai được gởi đến trong vòng hai tháng rồi,” Strike nói. “Robin nghĩ anh nên xem qua. Uống nữa không?” hắn hỏi, ra dấu về phía ly bia gần cạn của Wardle.

Wardle đọc thư khi Strike đi mua thêm hai vại bia nữa. Khi hắn trở về, Wardle vẫn còn cầm lá thư ký tên RL. Strike cầm lá còn lại lên, rồi đọc, chữ viết rõ ràng, tròn trịa như chữ nữ sinh:

… tôi chỉ có thể thực sự là chính mình, thật sự hoàn thiện khi cái chân không còn nữa. Không ai hiểu rằng nó chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là một phần của tôi. Gia đình tôi rất khó chấp nhận nhu cầu được cắt chân của tôi, họ cứ nghĩ tôi tưởng tượng ra, nhưng anh hiểu…

Hiểu con khỉ khô, Strike nghĩ thầm, thả tờ bản sao xuống bàn và ngay lập tức nhận ra cô ta đã viết địa chỉ nhà ở Shepherd’s Bush rất rõ ràng sạch sẽ, để đảm bảo thư không bị lạc nếu hắn chịu hồi âm chỉ dạy cách chặt chân. Ký tên Kelsey, không có họ.

Wardle, vẫn còn mải mê đọc lá thư thứ hai, hừ mũi một tiếng, vừa buồn cười vừa ghê tởm.

“Vãi lúa, anh đọc cái này chưa?”

“Chưa,” Strike đáp.

Đám thanh niên tiếp tục chen vào quầy bar, càng lúc càng đông. Hắn và Wardle không phải là những kẻ tuổi băm duy nhất, nhưng rõ là thuộc loại dừ ở đây. Hắn ngắm một cô gái da trắng, xinh xinh, trang điểm như ngôi sao thời những năm bốn mươi: chân mày đen kẻ chỉ, son môi đỏ thẫm, tóc nhuộm xanh da trời nhạt uốn lọn thả, nhìn quanh quất tìm bạn. “Robin đọc mấy cái thư chập mạch rồi kể tóm tắt lại với tôi nếu cần.”

“‘Tôi muốn xoa bóp mỏm chân anh’,” Wardle đọc to. “‘Tôi muốn anh dựa vào tôi như cây nạng sống, tôi muốn…’ Ôi mẹ ơi. Còn hơn là…”

Anh ta lật bức thư lại.

“RL, anh đọc ra địa chỉ đó không?”

“Không,” Strike nói, nheo mắt nhìn. Chữ viết tay sin sít, rất khó đọc. Từ duy nhất đọc được trong chỗ địa chỉ lít nhít đó, khi mới nhìn qua, là Walthamstow.

“‘Anh sẽ đợi ở quầy bar’ kiểu gì vậy Eric?”

Cô gái có tóc xanh da trời nhạt và son môi đỏ thẫm tiến tới bàn cạnh họ, cầm theo đồ uống. Cô mặc áo khoác da, bên trong là áo đầm mùa hè phong cách những năm bốn mươi.

“Xin lỗi cưng, cà kê nãy giờ,” Wardle đáp, tỉnh bơ. “April, Cormoran Strike. Bà xã tôi,” Wardle thêm.

“Chào cô,” Strike nói, đưa bàn tay tổ chảng ra. Hắn không bao giờ đoán được vợ của Wardle trông như thế này. Vì một số lý do mà giờ đây hắn quá mệt để phân tích, vợ của Wardle khiến hắn thích tay cảnh sát hơn.

“Ôi, là anh!” April nói, mỉm cười nhìn Strike khi Wardle trượt mấy lá thư khỏi bàn, gấp lại rồi đút túi. “Cormoran Strike! Tôi đã nghe rất nhiều về anh. Anh ở lại nghe nhạc chứ?”

“Chắc không đâu,” Strike đáp, không hề bực mình. Cô nàng xinh đáo để.

April có vẻ không muốn để hắn đi. Sẽ có thêm bạn tới nữa, cô nói, và đúng thế, mấy phút sau đó sáu người nữa nhập hội. Trong hội có hai cô còn lẻ bóng. Strike để các cô thuyết phục mình đi lên lầu, nơi có một sân khấu nhỏ và khán phòng đã chật cứng. Đáp lời hắn, April tiết lộ cô là chuyên gia tạo phong cách, hôm đó mới đi chụp ảnh cho tạp chí, rồi tỉnh bơ nói thêm, cô còn là vũ nữ burlesque bán thời gian.

“Burlesque?” Strike lớn giọng lặp lại, micro dội văng vẳng khắp căn phòng ồn ào, đầy tiếng la hét, tiếng rên rỉ phản đối. Chẳng phải là thoát y ‘nghệ thực’ đó sao? hắn tự hỏi, April tiếp tục bật mí Coco bạn mình - một cô gái tóc đỏ như cà chua, đang mỉm cười và lắc lắc ngón tay với hắn - cũng là vũ nữ burlesque.

Hội này có vẻ thân thiện, không ai trong số những người đàn ông đối xử với hắn bằng cái kiểu khó chịu mệt mỏi như Matthew. Lâu rồi hắn cũng chưa đi nghe nhạc sống. Coco be bé xinh xinh kia còn nói muốn được bế lên để mà nhìn cho rõ…

Tuy vậy, khi ban Islington Boys’ Club lên sân khấu, Strike thấy như mình bị đẩy ngược về quá khứ, những thời điểm và con người hắn từng cố không nghĩ đến. Mùi mồ hôi chua trong không khí, tiếng chỉnh dây guitar quen thuộc, tiếng rì rầm của micro: hắn đã có thể chịu đựng được tất cả, nếu như dáng bộ và vẻ ái nam ái nữ yểu điệu của ca sĩ chính không làm hắn nhớ đến Whittaker.

Được bốn nhịp, Strike biết hắn sẽ ra về. Thể loại rock indie nặng phần guitar của ban nhạc chẳng có vấn đề gì: ban chơi tốt, và mặc dù vô phước trông giống Whittaker, ca sĩ chính vẫn có chất giọng khá tử tế. Nhưng Strike đã từng phải ở những chỗ như vậy quá nhiều lần mà không thể rời đi: còn tối nay, hắn có thể tự do đi tìm sự yên tĩnh và không khí sạch sẽ, và hắn muốn tận dụng cái quyền đó.

Hắn hét chào tạm biệt Wardle, vẫy tay và mỉm cười với April - cô nháy mắt, vẫy lại. Với bộ dạng bệ vệ, hắn dễ dàng mở đường qua đám đông mồ hôi nhễ nhại đang hổn hển. Hắn ra đến cửa thì Islington Boys’ Club cũng vừa xong bài đầu tiên. Tiếng vỗ tay trên đầu nghe như tiếng mưa đá trên mái tôn bị ù đi. Một phút sau, hắn thả bước, nhẹ nhõm giữa tiếng xe cộ vun vút.

òn nhìn cái chân. Giờ hắn để ý thấy bên dưới có một tờ giấy đánh máy. Vốn được đào tạo nghiệp vụ điều tra trong quân đội Anh quốc, Strike cố kìm ham muốn kéo tờ giấy ra đọc; hắn không thể can thiệp vào bằng chứng pháp y. Thay vì đó, hắn loạ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.