Nghiệp Ác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
34

❊ ❊ ❊

The lies don’t count, the whispers do.Dối trá đâu là gì, thầm thì mới gớm ghê

Blue Öyster Cult,

The Vigil

Tối hôm đó Strike ngồi một mình ở bàn bếp trong căn hộ áp mái. Cái ghế không hề thoải mái, đầu gối chân cụt nhức nhối sau hàng tiếng đồng hồ theo dõi Bố Già Chập Mạch, hôm nay ông ta nghỉ làm để bám theo cậu con trai nhỏ đến Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên. Ông ta có công ty riêng, chứ không hẳn đã bị đuổi việc vì cứ trốn làm đi dọa con cái. Còn Bạch Kim thì chẳng được ai theo dõi hay chụp hình. Khi biết tối hôm đó mẹ Robin sẽ ghé thăm, Strike đã khăng khăng buộc Robin nghỉ phép ba ngày, không nhưng nhị gì cả. Hắn đã tiễn cô ra trạm tàu và nhắc đi nhắc lại nhớ nhắn tin cho hắn khi về đến nhà an toàn.

Strike thèm ngủ, nhưng mệt mỏi đến nỗi không muốn đứng dậy đi vào giường. Thực lòng bưu phẩm thứ hai từ thủ phạm khiến hắn cảm thấy bất an hơn nhiều nhưng hắn không muốn Robin biết. Vụ cái chân đúng là khủng khiếp thật. Đến giờ hắn phải thừa nhận với chính mình rằng hắn đã hi vọng chuyện bưu kiện gởi thẳng cho Robin, mặc dù màu mè ác ôn, cũng chỉ là một trò thêm thắt. Bưu kiện thứ hai, chưa kể đến cú đá xoáy đến Strike (‘She’s As Beautiful As a Foot’), đã nói chắc với hắn rằng, người đàn ông này, có là đi nữa, rõ đang nhắm đến Robin. Ngay cả cái tên của bức tranh trên tấm thiệp mà y đã chọn – hình ảnh cô gái tóc vàng chân thon ngồi một mình cũng đầy ẩn ý: In Thoughts of YouNghĩ về nàng.

Cơn cuồng nộ sôi lên trong Strike đang ngồi bất động, khiến hắn không còn thấy mệt mỏi. Hắn nhớ lại gương mặt trắng bệch của Robin và biết rằng hắn đã chứng kiến cái chết của hi vọng mong manh nơi cô, rằng vụ cái chân chỉ là hành động ngẫu nhiên của một gã điên loạn. Vậy mà, cô đã nằng nặc không chịu nghỉ làm, chỉ ra rằng hai vụ kiếm ăn của văn phòng thường xuyên cấn lịch với nhau: Strike không thể đảm đương được cả hai và sẽ phải quyết định bám theo Bạch Kim hay Bố Già Chập Mạch mỗi ngày. Hắn đã phải vô cùng cương quyết: cô chỉ được trở lại làm việc khi mẹ cô trở về Yorkshire.

Kẻ thủ ác đã được toại nguyện, giờ Strike chỉ còn mỗi hai khách hàng. Hắn vừa phải chịu trận cảnh sát viếng thăm lần thứ hai. Strike còn lo rằng báo chí sẽ đánh hơi ra vụ việc, ngay cả khi Wardle hứa hẹn sẽ không công bố vụ tấm thiệp và ngón chân. Wardle đồng ý với Strike rằng một trong những mục đích của tên sát nhân là muốn tập trung sự chú ý của báo chí và cảnh sát lên tay thám tử, nên đánh động báo chí lúc này thì khác gì rơi vào bẫy của y.

Điện thoại của hắn đổ chuông lớn tiếng trong căn bếp nhỏ. Liếc nhìn đồng hồ, hắn thấy đã mười giờ hai mươi. Hắn chụp lấy điện thoại, không kịp đọc tên người gọi đến là Wardle khi đưa lên tai, vì tâm trí vẫn còn nghĩ đến Robin.

“Tin tốt,” Wardle nói. “À, cũng coi như tốt. Y chưa giết thêm một phụ nữ nào khác. Ngón chân đó của Kelsey. Từ cái chân còn lại. Đúng là tận dụng triệt để hả?”

Strike, không có tâm trạng đùa giỡn, chỉ đáp lại cộc lốc. Sau khi Wardle dập máy, hắn ngồi tiếp ở bàn bếp, nghĩ ngợi mông lung trong tiếng xe cộ gầm gào qua phố Charing Cross bên dưới. Chỉ khi nhớ lại rằng hắn phải đi Finchley sáng hôm sau để gặp chị của Kelsey, hắn mới có động lực đứng dậy, bắt đầu thủ tục tháo chân nhọc nhằn trước khi đi ngủ.

Nhờ có người mẹ rày đây mai đó mà kiến thức của Strike về London khá rộng và chi tiết, nhưng vẫn có chỗ trống, Finchley là một trong số đó. Hắn chỉ biết rằng nơi đó từng là khu vực bầu cử của Margaret Thatcher hồi những năm 1980, lúc hắn, Leda và Lucy vẫn còn lang bạt qua những xóm tạm chiếm ở những nơi như Whitechapel và Brixton. Finchley khi đó quá xa khu trung tâm, không hợp với một gia đình hoàn toàn phụ thuộc vào giao thông công cộng và thức ăn nhanh, quá đắt đỏ với một người đàn bà thường xuyên hết tiền xu để bỏ vào đồng hồ điện: Finchley là nơi sống của những gia đình đàng hoàng, như có lần Lucy từng nói trong thèm muốn. Cưới một tay kỹ sư định giá và sinh ba đứa con trai khôi ngô, Lucy đã đạt được ước ao thời thơ ấu, một cuộc sống nề nếp, trật tự và yên ổn.

Strike lấy tàu đến ga West Finchley và chịu trận cuốc đi bộ dằng dặc đến Summers Lane thay vì gọi taxi, vì hầu bao dạo này quá hẻo. Hơi đổ mồ hôi giữa trời mát, hắn di chuyển qua những con đường với những dãy nhà độc lập, thầm rủa sao chỗ này toàn cây cối yên tĩnh, không hề có gì đánh dấu. Cuối cùng, ba mươi phút sau khi rời khỏi trạm tàu, hắn tìm ra nhà của Kelsey Platt, nhỏ hơn nhiều nhà quanh đó, với tường ngoài sơn trắng và cổng sắt uốn.

Hắn nhấn chuông, ngay lập tức nghe tiếng người qua những tấm cửa kính mờ như cửa văn phòng riêng của hắn.

“Chắc là tay thám tử đấy, cưng à,” giọng Geordie vang lên.

“Anh ra mở cửa đi!” một giọng nữ the thé đáp.

Một khối lớn hiện ra sau tấm kính. Cửa mở vào sảnh. Đứng choáng gần hết lối đi là một người đàn ông bệ vệ, đi chân không, mặc áo choàng tắm màu đỏ rực. Ông ta hói đầu, nhưng bộ râu rậm đã bạc, cộng với áo choàng đỏ rực, đã có thể khiến người ta nghĩ ngay đến Ông già Noel, nếu mặt mày tươi tỉnh hơn. Nhưng ông ta liên tục chùi ống tay áo lên mặt. Đôi mắt đằng sau cặp kính đã sưng lên thành hai rãnh như ong chích còn hai má đỏ ửng thì lấp lánh nước mắt.

“Xin lỗi,” ông ta ngắn gọn, rồi đứng qua một bên cho Strike vào. “Tôi làm ca đêm,” ông ta nói thêm, giải thích vụ tại sao đang ban ngày mà mặc đồ ngủ.

Strike se sẽ bước vào. Người đàn ông sực nức mùi xà bông Old Spice và long não. Hai phụ nữ trung niên đang ôm chặt lấy nhau ở chân cầu thang, một tóc vàng, một tóc đen, cả hai đang sụt sùi thổn thức. Hai người buông nhau ra khi Strike đứng nhìn, rồi cùng lau mặt.

“Xin lỗi,” người phụ nữ tóc đen hổn hển. “Sheryl đây là hàng xóm nhà tôi. Chị ấy vừa đi Magaluf về, chỉ mới kịp nghe tin Kelsey.”

“Xin lỗi,” Sheryl lặp lại, mắt đỏ au. “Để tôi về cho chị nghỉ, Hazel à. Cần bất cứ gì cứ nói, nhé. Bất kỳ thứ gì, Ray nhé.”

Sheryl chen qua mặt Strike… xin lỗi… rồi ôm Ray. Cả hai đung đưa trong giây lát, hai kẻ to lớn, bụng phệ ép vào nhau, cánh tay duỗi ôm quanh cổ nhau. Ray lại bắt đầu nức nở, úp mặt vào bờ vai rộng của bà hàng xóm.

“Mời vào,” Hazel nấc cụt, vừa chặm mắt vừa dẫn đường vào phòng khác. Chị ta có gương mặt của một nông dân trong tranh Bruegel, hai má tròn, cằm nhô ra và mũi bạnh. Cặp chân mày dày, rậm rạp như hai con sâu róm nằm trên đôi mắt sưng húp. “Cả tuần nay cứ vậy thôi. Người ta nghe tin, đến thăm rồi… xin lỗi anh,” chị ta dứt lời, thở hắt ra.

Trong vòng hai phút hắn đã được xin lỗi chừng sáu lần. Những nền văn hóa khác hẳn đã phải thấy xấu hổ vì không khóc thương người đã khuất cho hết nước mắt; còn ở Finchley tĩnh lặng này, người ta lại thấy hổ thẹn khi hắn phải chứng kiến cảnh đó.

“Không ai biết phải nói gì,” Hazel thầm thì, đưa tay quẹt nước mắt khi ra dấu cho hắn ngồi xuống xô-pha. “Đâu phải như nó bị xe tông hay ốm đau gì. Họ không biết phải nói gì khi có người bị…” Chị ta ngập ngừng, nghẹn cả lời, câu nói kết thúc bằng cái khịt mũi ra trò.

“Tôi rất tiếc,” Strike lên tiếng, đến lượt hắn ngỏ lời. “Tôi biết đây là lúc vô cùng khó khăn với anh chị.”

Căn phòng khách tinh tươm nhưng có gì đó lạnh lùng, có lẽ vì tông màu lạnh. Một bộ xô-pha ba ghế bọc vải sọc bạc xám, tường trắng với sọc mảnh màu xám, gối tựa đặt dựng đứng trên góc đỉnh, thảm trang trí trên bệ lò sưởi đối xứng hoàn hảo. Màn hình ti-vi không chút bụi bám lấp lánh ánh nắng phản chiếu từ cửa sổ.

Bóng Sheryl mờ nhạt lướt qua phía bên kia rèm cửa, vừa đi vừa lau nước mắt. Ray sột soạt đi vào qua cửa phòng khách, vẫn chân không, chặm mắt dưới kính bằng đuôi thắt lưng áo choàng tắm, hai vai gù xuống. Như thể đọc được suy nghĩ của Strike, Hazel giải thích.

“Ray bị gãy lưng khi cố đưa một gia đình ra khỏi nhà trọ đang bốc cháy. Tường bị sập, thang đổ. Ba tầng.”

“Lạy Chúa,” Strike nói.

Đôi môi và tay Hazel run rẩy. Strike nhớ lời Wardle: rằng phía cảnh sát đã tiếp cận Hazel hơi quá tay. Thái độ nghi ngờ hay hỏi cung quá đà với Ray của chị ta hẳn đã bị cho là ác ôn tàn nhẫn, nhất là khi Hazel đang ở tâm trạng sốc như thế này. Hẳn chị ta đã thấy đó là một động thái vô duyên vô cớ, khiến thảm cảnh kinh hoàng của hai người càng tồi tệ hơn. Strike biết khá rõ việc công quyền có thể xâm phạm thô bạo như thế nào đến bất hạnh riêng tư. Hắn đã từng ở cả hai phía.

“Có ai uống trà không?” Ray khàn giọng gọi từ căn phòng mà Strike đoán là bếp.

“Đi nằm đi!” Hazel gọi lại, tay nắm chặt một cục khăn giấy ướt đẫm. “Em pha được! Anh đi nằm đi!”

“Em chắc không?”

“Đi nằm đi, ba giờ em sẽ gọi anh dậy!”

Hazel lau cả khuôn mặt với tờ khăn giấy mới, như thể nó là khăn lau mặt.

“Ảnh đâu có ưa nhận tiền trợ cấp này kia, nhưng có ai muốn thuê ảnh làm gì tử tế đâu,” chị ta khẽ kể với Strike khi Ray loay hoay, sụt sùi bước ra khỏi cửa. “Lưng vậy, tuổi tác vậy rồi phổi cũng không ra gì. Toàn làm việc nhận tiền tươi… làm theo ca…”

Giọng chị ta yếu dần đi, khuôn miệng run rẩy, và lần đầu tiên, chị ta nhìn thẳng vào mắt Strike.

“Tôi thực không biết tại sao mình lại nhờ anh đến,” chị ta thú thật. “Đầu óc tôi giờ rối reng lắm. Người ta nói nó có viết thư cho anh nhưng anh không bao giờ hồi âm và rồi anh nhận được… nhận được…”

“Hẳn chuyện vô cùng sốc với chị,” Strike nói, ý thức rõ rằng bất kỳ thứ gì hắn nói ra cũng sẽ không thỏa đáng.

“Thực là…” chị ta nói như đang sốt “… khủng khiếp. Khủng khiếp. Tụi tôi không biết gì, có biết gì đâu. Tụi tôi cứ tưởng nó đi thực tập với trường. Khi cảnh sát tới nhà… nó nói là đi thực tập với trường, tôi tin nó, thực tập nội trú mà. Nghe cũng có lý… Tôi có ngờ đâu… nhưng nó nói dối như cuội. Hở cái là nói dối. Ba năm nó sống với tôi mà tôi vẫn chưa… ý tôi là, tôi không thể dạy dỗ nó được.”

“Cô ấy hay nói dối việc gì?” Strike hỏi.

“Lúc nào cũng nói dối được,” Hazel đáp, tay vung hơi quá. “Thứ Ba thì nói thành thứ Tư. Nhiều khi chẳng lý do gì cũng nói dối. Tôi không biết tại sao. Tôi chịu.”

“Tại sao cô ấy lại sống với chị?” Strike hỏi.

“Nó là em… em cùng mẹ khác cha với tôi. Cha tôi mất hồi tôi hai mươi tuổi. Mẹ đi bước nữa với một ông làm cùng rồi sinh Kelsey. Hai chị em cách nhau hai mươi bốn năm – khi đó tôi dọn ra riêng rồi – với nó, tôi giống như dì hơn là chị. Rồi mẹ và Malcom bị tai nạn xe hơi ở Tây Ban Nha ba năm trước. Lái xe say rượu. Malcom chết ngay tại chỗ, Mẹ bất tỉnh bốn ngày rồi cũng đi luôn. Đâu còn bà con thân thích gì, vậy là tôi nuôi Kelsey.”

Sự ngăn nắp đến cực đoan chung quanh, gối tựa dựng góc đỉnh, mọi bề mặt trống trơn và đánh bóng kỹ, khiến Strike băn khoăn nghĩ một thiếu niên mới lớn hòa nhập ở đây kiểu gì.

“Tôi với Kelsey không vui vẻ gì,” Hazel nói, lần nữa như đọc được suy nghĩ của Strike. Nước mắt lại chảy ra khi chị ta chỉ lên lầu, nơi Ray vừa đi nằm. “Ảnh kiên nhẫn hơn, chịu thói đỏng đảnh hờn lẫy của nó hơn tôi. Ảnh có con trai đã lớn, đang làm việc ở nước ngoài. Ảnh chịu trẻ con giỏi hơn tôi. Rồi cảnh sát ầm ầm tới đây,” chị ta kể tiếp, giọng đổi sang giận sôi, “rồi nói là nó đã bị… họ tra hỏi Ray như thể ảnh… như thể ảnh từng… có mà trời sập, tôi đã nói vậy với ảnh, cứ như ác mộng. Mình cứ xem tin tức này kia, thấy người ta kêu gọi con cái về nhà, người ta bị xử oan… có bao giờ mình nghĩ… có bao giờ… nhưng tụi tôi đâu hề biết nó mất tích. Nếu biết tụi tôi đã đi tìm. Nhưng có biết gì đâu. Cảnh sát tra hỏi Ray – khi đó ở đâu… tôi chịu…”

“Họ có nói với tôi là anh ấy vô can,” Strike nói.

“Ừ, giờ thì họ tin rồi đó,” Hazel nói qua làn nước mắt giận dữ, “sau khi có ba người chứng rằng ảnh ở cùng họ trong suốt dịp cuối tuần ăn tiệc độc thân, còn đưa hình hiếc làm chứng nữa…”

Hazel không hề thấy chuyện tra hỏi người từng sống chung một nhà với Kelsey về cái chết của cô ta là hợp lý. Đã từng nghe lời khai của Brittany Brockbank và Rhona Laing cùng nhiều nạn nhân khác, Strike biết rõ rằng phần lớn tội phạm hiếp dâm và giết người không phải là những kẻ lạ mặt đeo mặt nạ nấp sẵn trong bóng tối dưới chân cầu thang. Chúng là người cha, người chồng, bạn trai của mẹ hay chị gái…

Hazel chùi lia lịa nước mắt vừa rơi xuống má, rồi đột ngột hỏi:

“Mà anh làm gì với mấy cái lá thư vớ vẩn của nó vậy?”

“Trợ lý của tôi cất trong một ngăn kéo riêng, chuyên đựng thư từ khác thường,” Strike nói.

“Cảnh sát nói anh chưa bao giờ hồi âm cho nó. Nói là mấy lá thư họ tìm được toàn đồ giả.”

“Đúng vậy,” Strike nói.

“Vậy kẻ nào làm chuyện đó hẳn biết nó quan tâm tới anh.”

“Vâng,” Strike nói.

Hazel cật lực hỉ mũi, rồi hỏi:

“Anh uống trà không?”

Hắn nhận lời chỉ vì cho rằng chị ta muốn có cơ hội bình tĩnh lại. Đợi Hazel ra khỏi phòng Strike đưa mắt nhìn quanh quất. Tấm hình duy nhất trong phòng đặt trên mấy cái bàn con lồng nhau nơi góc phòng cạnh chỗ hắn ngồi. Hình chụp một phụ nữ tươi cười, chừng sáu mươi mấy tuổi, đội mũ lát. Hắn đoán đây hẳn là mẹ của Hazel và Kelsey. Một đường sọc màu hơi sẫm trên mặt bàn cạnh tấm hình đó gợi ý rằng đã từng có một tấm nữa đặt cạnh đó, khiến dấu vết trên mặt gỗ rẻ tiền không bị nắng chiếu phai. Strike đoán đây hẳn là tấm hình nữ sinh của Kelsey, tấm hình mà hết thảy báo chí đã in lại.

Hazel trở lại mang theo một khay đựng hai tách trà và một đĩa bánh qui. Đợi Hazel cẩn thận đặt tách của hắn lên miếng lót cạnh tấm hình của mẹ cô ta xong, Strike nói:

“Tôi nghe nói Kelsey có bạn trai.”

“Nhảm nhí,” Hazel bật lại, thả người xuống ghế tựa.

“Lại bịa nữa.”

“Điều gì khiến chị…?”

“Nó nói thằng đó tên là Niall. Niall. Thật hết biết.”

Mắt chị ta lại tiếp tục đổ lệ. Strike không hiểu tại sao bạn trai Kelsey lại không thể tên là Niall, mặt mày hắn ngơ ngác.

“One Direction,” chị ta nói, tay vẫn chặm khăn giấy.

“Xin lỗi,” Strike đáp, hoàn toàn chới với. “Tôi không…”

“Ban nhạc đó. Đó là ban nhạc đứng thứ ba trên chương trình The X Factor. Nó mê như điên – mê lắm luôn, Niall là thành viên nó mê nhất. Vậy là khi nó kể đã gặp được một đứa tên Niall, mười tám tuổi, có xe máy, thực tình, anh thấy tụi tôi phải nghĩ sao?”

“À, tôi hiểu.”

“Nó kể là gặp ở chỗ bác sĩ tâm lý. Nó cũng đang đi tư vấn tâm lý, anh biết đó. Nói là gặp Niall trong phòng chờ, rằng thằng nhỏ ở đó vì cha mẹ đã chết, cũng như nó vậy. Tụi tôi chưa bao giờ thấy bóng dáng cậu này. Tôi nói với Ray, ‘Nó lại nói dối nữa rồi, lại bịa rồi,’ Ray bảo tôi, ‘Thôi chấp gì, cứ để nó vui,’ nhưng tôi không thích chuyện nó nói dối,” Hazel kể, mắt long lên. “Lúc nào cũng nói dối, đi học về tay có dán băng, nói là bị đứt tay, hóa ra là hình xăm One Direction. Anh thấy nó nói đi thực tập đó, thấy chưa… cứ dối hoài dối mãi rồi cuối cùng ra vậy đó!”

Rõ là cố hết sức chị ta mới nén được thêm một lần òa khóc nữa, Hazel mím môi rung bần bật, chặm khăn giấy thật mạnh lên mắt. Hít một hơi sâu, chị ta nói:

“Ray có nghĩ đến một chuyện. Ảnh muốn báo cảnh sát, nhưng họ có quan tâm gì, họ chỉ muốn biết ảnh ở đâu khi nó… nhưng Ray có một người bạn tên là Ritchie, thi thoảng hay nhờ ảnh làm vườn, rồi Kelsey gặp Ritchie…”

Giả thuyết được nêu ra cùng với vô số chi tiết dư thừa, lặp đi lặp lại. Vốn đã quá quen với kiểu ăn nói dông dài của những nhân chứng không tập trước, Strike lắng nghe thật chăm chú và lịch sự.

Một tấm hình được rút ra từ ngăn kéo tủ trang trí, chứng tỏ cho Strike thấy rằng Ray đã ở cùng với ba người bạn vào dịp tiệc độc thân cuối tuần ở Shoreham-by-Sea khi Kelsey bị giết, đồng thời để lộ thương tật của anh chàng Ritchie trẻ tuổi. Ritchie và Ray ngồi trên bãi biển đầy sỏi, cạnh một bụi nhựa ruồi biển, cười nhe răng, cầm bia và nheo mắt trong ánh nắng mặt trời. Mồ hôi lấp lánh trên trán hói của Ray, làm sáng rõ gương mặt sưng vù của Ritchie, những mũi khâu và vết bầm tím. Chân anh chàng vẫn còn băng bó.

“… à đó, Ritchie ghé qua ngay sau khi bị tai nạn, Ray nghĩ nó thấy vậy nên nảy ra ý kia. Ảnh nghĩ nó đang tính làm gì với cái chân, rồi giả vờ là bị tai nạn giao thông.”

“Ritchie không phải là cậu bạn trai đó chứ?” Strike hỏi.

“Làm gì có! Ritchie tồ lắm. Nếu có đã nói với tụi tôi rồi. Với lại, nó gần như đâu quen biết gì Ritchie. Toàn hoang tưởng. Tôi nghĩ Ray nói đúng. Nó lại tính làm gì đó với cái chân, rồi giả vờ là bị ngã xe máy của thằng nhóc nào đó.”

Một giả thuyết xuất sắc, Strike nghĩ thầm, nếu đã có chuyện Kelsey nhập viện, giả vờ đã bị tai nạn xe máy rồi từ chối không khai gì để bảo vệ một cậu bạn trai tưởng tượng. Hắn đồng ý với Ray ở chỗ đó đúng là kiểu kế hoạch của một đứa mười sáu tuổi, vừa hoành tráng lại vừa thiển cận, rất nguy hiểm. Tuy vậy, điều đó không quan trọng nữa. Mặc cho Kelsey có lên kế hoạch tạo dựng một vụ tai nạn xe máy hay không, thì chứng cứ cho thấy rằng cô ta đã hủy kế hoạch đó và đổi sang phương án hỏi Strike cách bỏ chân.

Mặt khác, đây là lần đầu tiên có người chỉ ra mối quan hệ giữa Kelsey và một người đi xe mô-tô, và Strike thấy đáng chú ý ở chỗ Hazel tuyệt đối tin rằng cậu bạn trai kia hoàn toàn là sản phẩm của trí tưởng tượng.

“À thì trong lớp nó hầu như đâu có nam sinh nào,” Hazel nói, “còn nữa, nó đi đâu mà gặp được chứ? Niall. Nó chưa bao giờ có bạn trai ở trường. Nó có đi bác sĩ tâm lý, thỉnh thoảng có đi nhà thờ ở cuối phố, ở đó có nhóm sinh hoạt thanh thiếu niên, nhưng làm gì có Niall-chơi-xe-mô-tô nào,” Hazel nói. “Cảnh sát kiểm tra, hỏi bạn bè nó có biết gì không. Darrell là người phụ trách nhóm, anh ấy sốc lắm. Ray có gặp anh ấy sáng nay trên đường về nhà. Kể là vừa thấy Ray ở bên kia đường thì Darrell đã òa khóc.”

Strike muốn ghi chép, nhưng biết rõ làm vậy sẽ thay đổi bầu không khí tin tưởng mà hắn đang cố gây dựng.

“Darrell là ai vậy?”

“Anh ấy không liên quan gì đâu. Người phụ trách thanh thiếu niên ở nhà thờ. Dân Bradford,” Hazel kể, không ăn nhập gì, “với lại Ray chắc chắn rằng anh này đồng tính.”

“Vậy cô ấy có nói về…” Strike ngập ngừng, không biết phải gọi đó là gì. “Chuyện chân cẳng với người nhà không?”

“Đâu có nói với tôi,” Hazel xẵng giọng. “Tôi không thèm nghe. Tôi không muốn nghe, tôi ghét lắm. Năm mười bốn tuổi nó có kể tôi, nghe xong, tôi nghĩ sao nói vậy. Một trò gây sự chú ý, chỉ có vậy thôi.”

“Trên chân cô ấy có sẹo cũ. Làm sao…?”

“Nó gây chuyện sau khi mẹ qua đời. Như thể tôi chưa đủ việc để lo. Nó cột kẽm gai quanh chân, cố cắt đứt mạch máu.”

Vẻ mặt Hazel, Strike nhận thấy, dường như trộn lẫn giữa kinh tởm và giận dữ.

“Lúc mẹ và Malcolm mất nó cũng ở trong xe, ngồi ghế sau. Tôi phải thuê bác sĩ tâm lý này kia cho nó. Ông bác sĩ nghĩ hành động đó là một lời kêu cứu hay đại loại vậy, chuyện nó xử cái chân đó. Là đau khổ. Là cảm giác tội lỗi của người sống sót, tôi không nhớ hết. Nhưng nó nói không phải, nói là từ lâu đã muốn bỏ chân… Tôi không biết nữa,” Hazel nói, lắc đầu nguầy nguậy.

“Cô ấy có nói với ai khác về chuyện này không? Ray thì sao?”

“Cũng nói sơ sơ. Ý tôi là, ảnh biết nó là người ra sao. Khi tụi tôi mới quen nhau, khi ảnh dọn vô ở chung, nó bịa đủ thứ với ảnh – nào là cha nó là điệp viên tình báo, đó là chỉ mới một chuyện thôi, vì vậy nhà nó mới bị người ta tông xe, tôi chịu chẳng biết nó bịa gì nữa. Vậy nên ảnh biết con nhỏ ra sao, nhưng ảnh không giận gì nó. Ảnh hay tìm cách nói lảng đi, hỏi nó chuyện trường lớp này kia.”

Mặt Hazel đổi sang màu đỏ sậm xấu xí.

“Để tôi nói anh nghe nó muốn gì,” chị ta bật ra. “Muốn ngồi xe lăn, để người ta đẩy đi như em bé, để được chiều chuộng, làm trung tâm của sự chú ý. Rốt cuộc là vậy đó. Tôi tìm được một cuốn nhật ký, cỡ một năm trước. Trời đất, những thứ nó viết, nó tưởng tượng ra, bày vẽ ra… Nực cười!”

“Chẳng hạn?” Strike hỏi.

“Chẳng hạn được cắt chân, được ngồi xe lăn, được đẩy ra mép sân khấu để xem One Direction, được ban nhạc xuống chào đón sau sô diễn bởi vì nó tàn tật,” Hazel làm luôn một tràng. “Anh nghĩ xem. Thật gớm ghiếc. Có những người thực sự bị tàn phế, người ta đâu có bao giờ muốn vậy. Tôi là y tá. Tôi biết. Tôi gặp họ rồi. Với lại,” chị ta tiếp, khẽ liếc xuống chân Strike, “anh đâu cần tôi nói mấy thứ đó.”

“Không phải tự anh làm đó chứ?” chị ta hỏi đột ngột. “Không phải tự anh… tự anh…?”

Phải chăng đó mới là lý do khiến Hazel muốn gặp hắn, Strike tự hỏi. Trong thứ tiềm thức rối reng, cố bình tâm khi bất ngờ chới với, phải chăng chị ta muốn chứng minh một điều – mặc dù đứa em gái đã ra đi và không cách gì hiểu nổi – chị ta muốn chứng minh rằng người thường không ai làm chuyện đó, nhất là trong đời thực, nơi có những chiếc gối tựa dựng đứng trên góc đỉnh, nơi người ta chỉ bị tàn tật vì tai nạn, vì tường đổ hay nổ bom dọc đường?

“Không,” hắn đáp. “Tôi bị nổ mìn.”

“Đó, thấy chưa!” chị ta nói, nước mắt lại trào ra, đắc thắng man dại. “Tôi đã có thể nói với nó như thế… tôi đã có thể nói vậy, giá mà nó… giá mà nó hỏi tôi… nhưng mà nó nói,” Hazel tiếp, nghẹn ngào, “nó nói cảm giác cái chân như cục thịt thừa. Nó nói như vậy là không được, phải cắt bỏ đi – như thể cái chân là khối u hay gì vậy. Tôi đâu có chịu nghe. Bậy bạ hết sức. Ray nói ảnh từng cố nói chuyện phải quấy với nó. Ảnh nói với nó là nó không hiểu đâu, rằng nó không hề muốn phải nằm viện như ảnh sau khi bị gãy lưng, bó bột nằm yên cả mấy tháng trời, da thịt lở loét này kia. Vậy mà ảnh không hề nồi nóng với nó. Ảnh cứ nói nó, thôi đi phụ anh làm vườn, cố làm cho nó đừng nghĩ tới chuyện đó nữa.

“Cảnh sát có kể là nó nói chuyện với mấy người như nó trên mạng. Tụi tôi có ngờ đâu. Ý tôi là, nó mười sáu tuổi rồi, làm sao mà đi kiểm tra máy tính nó được, phải không? Mà nếu có thì tôi cũng không biết phải tìm cái gì.”

“Cô ấy có bao giờ nhắc đến tôi với chị không?” Strike hỏi.

“Cảnh sát cũng hỏi câu đó. Không. Tôi không nhớ là nó có nói gì về anh, Ray cũng không nhớ nổi. Nói vô phép anh, chứ… tôi vẫn nhớ vụ Lula Landry, nhưng tôi không nhớ tên anh, cũng không nhận ra anh được. Nếu nó có nhắc đến hẳn tôi đã nhớ. Tên anh đúng là ngộ thật, nói xin lỗi anh.”

“Còn bạn bè thì sao? Cô ấy có đi chơi nhiều không?”

“Nó hầu như chẳng bạn bè gì. Có ai ưa nổi đâu. Nó hay nói dối với mấy đứa nhỏ ở trường, ai mà ưa được, đúng không? Tụi nó còn bắt nạt nó nữa. Coi nó là đứa kỳ cục. Nó hầu như chẳng đi chơi gì. Tôi chịu, không biết nó gặp cái cậu Niall tưởng tượng này khi nào.”

Cơn giận của Hazel không hề khiến Strike ngạc nhiên. Kelsey là một vấn đề phát sinh không hề định trước với gia cảnh nề nếp của chị ta. Giờ đây, trong suốt phần đời còn lại, Hazel sẽ mang nỗi day dứt, đau đớn, choáng váng và hối tiếc, vì cuộc đời em gái đã chấm dứt trước khi nó kịp lớn khôn, kịp trút bỏ những thói tật khiến chị em bất hòa.

“Tôi dùng nhà vệ sinh của chị được không?” Strike hỏi.

Đưa tay chặm mắt, chị ta gật đầu.

“Đi thẳng, ngay đầu cầu thang.”

Strike vừa đi tè, vừa đọc một tấm bằng lồng khung, chứng nhận hành vi dũng cảm đáng khen của lính cứu hỏa Ray Williams, được treo ngay trên bồn cầu. Hắn đoán hẳn Hazel đã treo ở đó, chứ không phải Ray. Ngoài chi tiết đó ra thì buồng vệ sinh không có gì nổi bật. Vẫn kiểu ý thức ngăn nắp, sạch sẽ như ở phòng khách lan tỏa vào tận bên trong tủ thuốc gia đình, nhờ đó mà Strike biết ba chuyện: Hazel vẫn còn hành kinh, hai người mua sỉ kem đánh răng, và một trong hai hoặc cả hai bị bệnh trĩ.

Hắn rời nhà vệ sinh hết sức khẽ khàng. Từ phía sau cánh cửa mở thoáng có tiếng sột soạt trở mình nhè nhẹ cho thấy Ray đã ngủ. Strike mạnh dạn tiến hai bước về bên phải, thấy mình ở ngay trong căn phòng nhỏ của Kelsey.

Mọi thứ đều tiệp màu, cùng một sắc tím nhạt: từ tường, chăn mền, chụp đèn đến rèm cửa. Strike nghĩ hẳn nề nếp đó được áp đặt lên sự hỗn loạn trong phòng, ngay cả khi hắn chưa tham quan hết căn nhà.

Trong phòng treo một tấm bảng ghim bằng gỗ bấc, để tránh để lại dấu ghim trên tường. Kelsey phủ khắp tấm bảng với hình ảnh của năm chàng trai trẻ đẹp mà Strike đoán hẳn là nhóm One Direction. Đầu và chân các chàng thò hẳn ra ngoài khung tấm bảng. Có nhiều hình của một cậu tóc vàng. Ngoài những tấm hình One Direction, Kelsey còn đính hình chó con, hầu hết là chó xù Nhật, những từ ngẫu nhiên, và những từ viết tắt: OCCUPY, FOMO và AMAZEBALLS, cùng với rất nhiều NIALL, thường đính kèm với trái tim. Tác phẩm cắt dán luộm thuộm ngẫu nhiên đó cho thấy một tính cách hoàn toàn đối lập với chăn mền xếp gọn ngăn nắp trên giường và tấm thảm màu tím nhạt vuông vức gọn gàng nổi bật trên kệ sách hẹp là một cuốn trông mới toanh: One Direction: Forever Young – Our Official X Factor Story. Ngoài ra trên kệ có bộ Chạng Vạng, một hộp đựng trang sức, một mớ lộn xộn các món trang trí nho nhỏ mà đến cả Hazel vẫn chưa kịp sắp lại cho cân xứng, một khay nhựa phấn trang điểm rẻ tiền và vài con thú nhồi bông.

Tính toán rằng với trọng lượng của Hazel, hẳn sẽ có tiếng động nếu chị ta lên cầu thang, Strike nhanh chóng mở ngăn kéo tủ. Cảnh sát có lẽ đang mang đi mọi thứ đáng kể, đương nhiên rồi: máy tính xách tay, những mẩu ghi chép vụn vặt, bất kỳ số điện thoại hay tên tuổi gì, bất kỳ sổ nhật ký nào (nếu sau khi bị Hazel rình mò Kelsey vẫn tiếp tục viết nhật ký). Một mớ đồ tạp nham còn sót lại: hộp đựng giấy viết thư, đúng kiểu giấy cô ta đã dùng để viết cho hắn, một cái Nintendo DS cũ, một hộp móng tay giả, một hộp nhỏ đựng búp bê hộ mệnh Guatemala và, trong ngăn kéo cuối cùng ở tủ đầu giường, cất kỹ bên trong một hộp bút vải lông là mấy vỉ thuốc bọc giấy nhôm. Hắn kéo ra: thuốc hình thoi màu vàng mù tạt, nhãn Accutane. Hắn lấy một vỉ, thảy vào túi, đóng ngăn kéo và thẳng tiến tới tủ áo quần, tủ đồ lộn xộn, có mùi ngai ngái. Kelsey hẳn thích màu đen và màu hồng. Hắn lẹ làng luồn tay qua những lớp vải, lục túi áo quần nhưng không thấy gì cho đến một chiếc đầm rộng, bên trong có một mẩu ghi giấy ghi số 18 đã nhàu nát, trông như giấy rút thăm hay vé gởi áo khoác.

Hazel vẫn ngồi im một chỗ kể lúc Strike đi vệ sinh. Hắn đoán mình đã có thể nán lại lâu hơn mà chị ta vẫn không hề để ý. Khi hắn trở lại phòng, chị ta khẽ giật mình. Hazel đã lại khóc nữa.

“Cảm ơn anh đã đến,” chị ta khàn giọng, loay hoay đứng dậy. “Tôi xin lỗi, tôi…”

Rồi Hazel lại khóc, vô cùng tha thiết. Strike đặt một bàn tay lên vai chị ta và trước khi hắn kịp nhận ra, Hazel đã áp mặt vào ngực hắn, thổn thức, tay níu chặt vạt cổ áo khoác của hắn, không hề ngại ngần gì, chỉ có đau đớn tột cùng. Hắn choàng tay qua vai chị ta, cả hai đứng nguyên một chút, cho tới lúc, thở vài hơi nặng nhọc, Hazel bước ra xa và Strike buông cánh tay xuống.

Chị ta lắc đầu, không nói năng gì, tiễn hắn ra cửa.

Hắn lặp lại lời chia buồn. Chị ta gật đầu, mặt mày bơ phờ tệ hại trong ánh nắng ban ngày giờ đây đổ vào sảnh tù mù.

“Cảm ơn anh đã đến,” chị ta nghẹn ngào. “Tôi chỉ cần gặp anh. Tôi không biết tại sao. Tôi thật tình xin lỗi.”

òn nhìn cái chân. Giờ hắn để ý thấy bên dưới có một tờ giấy đánh máy. Vốn được đào tạo nghiệp vụ điều tra trong quân đội Anh quốc, Strike cố kìm ham muốn kéo tờ giấy ra đọc; hắn không thể can thiệp vào bằng chứng pháp y. Thay vì đó, hắn loạ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.