There’s a time for discussion and a time for a fight.Có lúc cần bàn cãi, có khi phải đấu tranh.
Blue Öyster Cult,
Madness to the Method
Strike không ưa ý tưởng này chút nào, nhưng hắn đành thừa nhận rằng kế hoạch của Robin khá là hay, và nguy cơ Holly đánh động cho Noel đúng là cao hơn rủi ro tiềm tàng với chính cô. Theo đó, khi Holly rời chỗ làm với một đồng nghiệp lúc năm giờ, Strike sẽ đi bộ bám đuôi, kín đáo không để cô ta phát hiện ra. Trong lúc đó Robin sẽ lái xe tới một quãng đường vắng cạnh bãi đầm lầy bỏ hoang, lấy túi đi đường trong cốp xe ra, thay quần jeans và mặc đồ đạo mạo hơn, mặc dù hơi nhăn nhúm.
Cô đang lái xe băng qua cầu về phía trung tầm Barrow thì Strike gọi điện báo rằng Holly không về nhà, mà đi thẳng ra tửu quán ở cuối đường.
“Tuyệt, thế thì sẽ dễ hơn,” Robin hét về phía chiếc điện thoại di động đang nằm trên ghế trước, mở loa ngoài. Chiếc Land Rover rung bần bật, lắc lư quanh cô.
“Gì kia?”
“Tôi nói là, tôi nghĩ… mà thôi, tôi gần tới đó rồi!”
Strike đang đợi ở bên ngoài bãi xe quán Crow’s Nest. Hắn vừa mở cửa xe thì Robin hấp tấp thì thào:
“Cúi xuống, cúi xuống!”
Holly đứng ngay ở cửa quán, tay cầm một vại bia. Cô ta cao hơn Robin, to cũng gấp đôi, mặc áo thun đen cúp vai và quần jeans. Châm điếu thuốc, cô ta nheo mắt nhìn cảnh tượng hẳn đã quá quen thuộc, cặp mắt hí thoáng dừng lại ở chiếc Land Rover lạ lẫm.
Strike cố chui vào ghế trước, cúi đầu xuống. Robin đạp ga, phóng xe rời ngay.
“Cô ta đâu có để ý gì khi bị tôi bám đuôi,” Strike nói, ngồi thẳng dậy.
“Anh cứ tránh mặt là hơn,” Robin lên giọng, “nhỡ cô ấy nhận ra anh, rồi nhớ lại bị theo dõi thì sao.”
“Xin lỗi, quên mất cô là Học Viên Xuất Sắc,” Strike nói.
“Dẹp đi,” Robin đáp, thoáng tức tối. Strike thấy ngạc nhiên.
“Tôi đùa mà.”
Robin rẽ vào một chỗ đậu xe ở xa xa cuối đường, khuất tầm nhìn từ cửa quán Crow’s Nest, rồi kiểm tra gói đồ nho nhỏ trong túi xách đã mua lúc chiều.
“Anh đợi ở đây.”
“Còn lâu. Tôi sẽ ở trong bãi xe, canh chừng Brockbank. Đưa chìa khóa đây.”
Cô vùng vằng đưa chìa khóa cho hắn rồi bỏ đi. Strike dõi theo Robin bước về phía tửu quán, bâng khuâng tự hỏi vụ cáu tiết này là cớ làm sao. Có lẽ, hắn nghĩ thầm, Matthew đã từng châm chích thành tích học tập mà anh ta cho là chẳng đáng gì của cô.
Quán Crow’s Nest nằm giữa khúc giao nhau của hai con đường Ferry và Stanley, làm thành một vòng cung: một tòa nhà đồ sộ xây gạch đỏ tựa như cái trống. Holly vẫn đứng ở bệ cửa, vừa hút thuốc vừa uống bia. Robin thấy nao nao trong lòng. Chính cô tình nguyện làm vụ này: giờ đây một mình cô chịu trách nhiệm điều tra xem Brockbank ở đâu. Vụ hớ hênh với cảnh sát lúc nãy khiến cô thấy hồi hộp, câu đùa không đúng lúc của Strike khiến cô nhớ đến những lời châm chích khéo léo của Matthew về khóa đào tạo chống theo dõi mà cô đã theo học. Sau khi nghiêm chỉnh chúc mừng cô đã đạt điểm tối đa, Matthew đã cạnh khóe rằng thực ra những thứ cô vừa học là chuyện ai cũng biết.
Điện thoại di động của Robin đổ chuông trong túi áo khoác. Để ý cặp mắt Holly đang chú ý tới mình khi cô tới gần, Robin rút điện thoại ra xem ai gọi. Là mẹ cô. Giờ mà thẳng tay tắt máy luôn thì hơi có vẻ không bình thường, cô liền đưa máy lên tai nghe.
“Robin?” giọng bà Linda vang lên khi Robin đi qua Holly ở bệ cửa, không nhìn cô ta. “Con đang ở Barrow-in-Furness à?”
“Vâng,” Robin đáp. Đối mặt với hai cánh cửa ở bên trong, cô chọn cửa bên trái, mở ra một phòng bar trần cao, rộng rãi và tối tăm. Hai người đàn ông mặc đồ bảo hộ màu xanh giờ đã quen mắt với Robin đang chơi bi-da ở bàn ngay sau cửa. Robin không tận mắt thấy nhưng có cảm giác vài cái đầu vừa ngoái lại nhìn kẻ lạ mặt. Né mọi ánh mắt, cô dạt về phía quầy bar, tiếp tục cuộc gọi.
“Con làm gì trên đó vậy?” bà Linda hỏi, rồi không đợi cô trả lời, tiếp, “Cảnh sát vừa gọi cho ba mẹ, kiểm tra xem có đúng là ba cho con mượn xe không!”
“Chỉ là hiểu lầm thôi mẹ.” Robin đáp. “Giờ con bận rồi.”
Cửa mở sau lưng cô, Holly bước qua, cánh tay đầy hình xăm khuỳnh lại, liếc xéo Robin dò xét lẫn ác ý, cô có cảm giác thế. Ngoài nữ nhân viên quầy bar tóc ngắn, Robin và Holly là hai người phụ nữ còn lại trong quán.
“Ba mẹ vừa gọi về nhà con,” mẹ cô tiếp tục nói, không để ý lời Robin, “Matthew nói con đã đi với Cormoran.”
“Đúng vậy,” Robin đáp.
“Rồi khi mẹ hỏi nó hai đứa có rảnh ghé qua nhà ăn trưa cuối tuần này không…”
“Tại sao con lại ở Masham cuối tuần này?” Robin hỏi, bối rối. Cô thoáng thấy Holly ngồi xuống ghế trước quầy bar, nói chuyện với mấy người đàn ông mặc đồng phục bảo hộ màu xanh của nhà máy BAE.
“Sinh nhật ba của Matthew,” mẹ cô đáp.
“À, đúng rồi,” Robin nói. Cô đã quên bẵng vụ này. Tiệc mừng đã được định sẵn. Tiệc được ghi chú trên lịch từ rất lâu rồi, cô nhìn lịch mãi, quen mất rồi quên luôn là cuối tuần này hai người đã định về Masham.
“Robin, mọi việc ổn hết chứ?”
“Con nói rồi, giờ con bận lắm, không nói chuyện được,” Robin tiếp.
“Con không sao chứ?”
“Không sao mà,” Robin nôn nóng đáp. “Con ổn hết. Con sẽ điện cho mẹ sau.”
Cô tắt máy rồi quay về phía quầy bar. Nữ nhân viên quầy bar đứng đợi cô gọi đồ uống nãy giờ cũng có vẻ mặt dò xét như bà hàng xóm ở phố Stanley. Ở đây dường như người ta khá dè dặt, nhưng đến giờ thì Robin đã hiểu, rằng sự dè dặt đó không phải là thói kỳ thị gây sự với người xứ khác. Mà thực ra là kiểu đề phòng của những người kín kẽ. Tim đập hơi nhanh hơn bình thường, Robin cất giọng, cố ra vẻ tự tin:
“Không biết chị giúp tôi vụ này được không. Tôi đang tìm Holly Brockbank. Người ta nói chị ấy có thể đang ở đây.”
Nữ nhân viên quầy bar nghĩ ngợi một lúc rồi nói, mặt nghiêm:
“Đang đứng dưới kia kia. Cô uống gì không?”
“Cho một ly vang trắng,” Robin đáp.
Người phụ nữ mà Robin đang nhập vai hẳn sẽ uống vang, cô biết chứ. Cô này hẳn không hề nao núng trước vẻ ngờ vực trong mắt cô nhân viên quầy bar, hay trước phản xạ hung hăng của Holly, hay những ánh mắt tăm tia của đám chơi bi-da. Vai mà Robin đang đóng là một người đầu óc lạnh lùng, tỉnh táo, đầy tham vọng.
Robin trả tiền đồ uống rồi đi thẳng về phía Holly và ba người đàn ông ở quầy bar. Tò mò nhưng dè dặt, cả đám im bặt khi nhận ra Robin đang tiến về phía mình.
“Chào chị,” Robin lên tiếng, mỉm cười. “Chị là Holly Brockbank?”
“Đúng vậy,” Holly đáp, mặt mày cau có. “Cô là ai?”
“Xin lỗi?”
Ý thức được mấy cặp mắt đang thích chí nhìn mình, Robin vận hết mười phần công lực, giữ nụ cười trên môi.
“Cô- là – ai – ấy – nhảy?” Holly hỏi, làm bộ giả giọng London.
“Tên tôi là Venetia Hall.”
“Quớ làng, tên với tuổi,” Holly đáp, cười hềnh hệch với gã công nhân đứng gần nhất, gã này cũng cười khẩy theo.
Robin rút ra một tấm danh thiếp từ túi xách tay, mới in ngay chiều hôm đó ở trung tâm mua sắm, trong lúc Strike ở lại xe theo dõi Holly tại lò bánh. Chính Strike gợi ý cô lấy tên đệm làm tên giả. (“Nghe giống kiểu dân miền Nam chảnh chọe.”)
Robin đưa tấm danh thiếp, mạnh dạn nhìn thẳng vào cặp mắt kẻ viền đen đậm của Holly và lặp lại: “Venetia Hall. Luật sư.”
Vẻ cười cợt của Holly bốc hơi tại chỗ. Nhăn nhó, cô ta đọc tấm danh thiếp, một trong số hai trăm tấm mà Robin đã in ra với giá 4.5 bảng.
Hardacre và Hall
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ CHUYÊN TRÁCH
BỒI THƯỜNG THƯƠNG TỔN CÁ NHÂN
VENETIA HALL
Thành viên cao cấp
Điện thoại: 0888 789654
Fax: 0888 465877
Email: venetia@legalcouk
“Tôi đang tìm anh trai Noel của chị,” Robin nói. “Chúng tôi…”
“Cơn cớ chi mà biết tui ở đây?”
Trong trạng thái đề phòng cao độ, Holly như con mèo đang xù lông dọa dẫm. “Hàng xóm nói có thể chị tới đây.”
Đám bạn đồng phục xanh của Holly nhếch mép.
“Chúng tôi có tin vui cho anh của chị,” Robin bạo gan làm tới. “Chúng tôi đang cố tìm anh ấy.”
“Đếch biết ổng ở đâu, mà cũng đếch quan tâm.”
Hai người công nhân lỉnh đi khỏi quầy bar, tiến về một cái bàn, chỉ còn một người ở lại, tay này thoáng mỉm cười khi quan sát vẻ lúng túng lạc lõng của Robin. Holly nốc cạn bia, thảy một tờ năm bảng qua phía gã, sai đi mua giùm một vại bia nữa, rồi cô ta nhấc mông khỏi ghế, sải bước về phía nhà vệ sinh nữ, hai cánh tay đưa ra cứng nhắc như đàn ông.
“Anh em nhà đó cạch mặt nhau lâu rồi,” nhân viên quầy bar lên tiếng, cô này nãy giờ đã kịp dạt lại gần để hóng chuyện. Dường như cô ta thấy tội nghiệp Robin sao đó.
“Cô không biết Noel ở đâu đó sao?” Robin hỏi, thấy vô vọng.
“Hơn năm rồi không về đây,” cô ta bâng quơ. “Biết thằng chả ở đâu không, Kev?”
Bạn của Holly trả lời bằng cái nhún vai rồi gọi bia cho Holly. Nghe giọng tay này thì rõ là người Glasgow.
“Thật đáng tiếc,” Robin đáp, giọng rõ ràng, bình tĩnh, mặc dù trống ngực đang đánh thình thịch. Cô không muốn nghĩ tới chuyện phải đi tay không về báo cáo với Strike. “Tiếc quá, người thân của anh ấy có thể được nhận một khoản bồi thường lớn, giá mà tôi tìm được anh ấy.”
Cô quay lưng, chuẩn bị ra về.
“Người thân được, hay thằng chả được?” tay người Glasgow sắc sảo hỏi lại.
“Còn tùy,” Robin lạnh lùng đáp, quay đầu lại. Cô không nghĩ Venetia Hall sẽ hạ cố làm thân với những người không liên quan đến hồ sơ vụ án mình đang theo. “Nếu người thân đã từng phải đảm nhận vai trò chăm sóc – nhưng tôi cần biết chi tiết mới đánh giá được. Đã có một số trường hợp,” Robin phịa, “người thân được bồi thường rất đáng kể.”
Holly đang quay lại. Vẻ mặt cô ta đầy sấm sét khi thấy Robin nói chuyện với Kevin. Robin bước ra nhà vệ sinh nữ, trống ngực vẫn đánh thình thịch, tự hỏi lời nói dối vừa rồi có ích gì không. Nhìn mặt Holly khi đi ngang qua, Robin nghĩ có khả năng là mình sẽ bị Holly dồn vào bồn rửa mặt tẩn cho một trận.
Tuy nhiên, khi ra khỏi nhà vệ sinh, Robin thấy Holly và Kevin đang chụm đầu vào nhau ở quầy bar. Robin biết lúc này không nên cố nữa: hoặc Holly sẽ dính câu, hoặc không. Cô cột thắt lưng áo khoác chặt lại rồi bước đi, thủng thẳng nhưng dứt dạc, qua mặt hai người, tiến ra phía cửa.
“Ê!”
“Vâng?” Robin đáp, vẫn hơi lạnh lùng, vì Holly đã có thái độ thô lỗ còn Venetia Hall vốn quen với phép tắc nhất định.
“Vụ này là sao hở?”
Mặc dù Kevin có vẻ hăng hái góp chuyện, nhưng rõ là anh ta không thân thiết với Holly đến mức được cho phép ghé tai vào những chuyện tiền nong riêng tư. Anh ta dạt ra phía máy đánh bạc, mặt mày bất mãn.
“Mình qua bên kia nói chuyện đi,” Holly nói với Robin, cầm theo vại bia mới rồi chỉ tay về chiếc bàn trong góc cạnh đàn dương cầm.
Bệ cửa sổ trong tửu quán đầy những chai lọ có mô hình tàu thuyền bên trong, những thứ mong manh dễ vỡ, tương phản với những tàu thuyền thực sự, đồ sộ hoành tráng như những con quái vật đang được lắp ghép phía bên kia bức tường chắn cao sừng sững. Thảm lót sàn ken dày hoa văn, dễ dàng ngụy trang cáu bẩn; những chậu cây đằng sau rèm cửa trông có vẻ ủ rũ não nề, thế nhưng những món trang trí lộn xộn và các thể loại cúp thể thao khiến căn phòng rộng lớn có một vẻ thân thiện như nhà riêng, những chiếc áo bảo hộ màu xanh rực của khách hàng tạo một ấn tượng gắn bó lẫn nhau giữa họ.
“Hardacre và Hall đang đại diện cho một nhóm quân nhân, những người từng chịu các thương tổn trầm trọng có thể ngăn ngừa được bên ngoài chiến trường,” Robin nói, rành rọt bài đã luyện sẵn. “Chúng tôi biết đến trường hợp của anh Brockbank khi nghiên cứu hồ sơ. Đương nhiên phải nói chuyện với anh ấy thì chúng tôi mới chắc được, nhưng chúng tôi rất hoan nghênh anh ấy cùng tham gia vào nhóm nguyên đơn. Hồ sơ của anh ấy đúng kiểu chúng tôi kỳ vọng sẽ thắng kiện. Nếu được anh ấy cùng tham gia, ta sẽ tạo được áp lực bồi thường mạnh hơn với phía quân đội. Càng nhiều nguyên đơn thì càng tốt. Đương nhiên anh Brockbank sẽ không phải chịu chi phí gì cả. Không thắng kiện,” cô tiếp, bắt chước quảng cáo trên ti-vi, “không tốn phí.”
Holly không nói gì. Gương mặt nhợt nhạt của cô ta thô cứng, dữ dằn. Mỗi ngón tay, trừ ngón áp út đều đeo nhẫn vàng rẻ tiền.
“Kevin có nói người nhà cũng được thường tiền.”
“À đúng vậy,” Robin tỉnh bơ đáp. “Nếu thương tích của Noel đã từng ảnh hưởng đến chị, với tư cách là người nhà…”
“Còn không ảnh hưởng nữa chớ…” Holly dằn giọng.
“Như thế nào kìa?” Robin hỏi, rút sổ ghi chép trong túi ra, cầm sẵn cây viết, chờ đợi.
Cô thấy rõ bia rượu và nỗi ấm ức ở Holly sẽ là những đồng minh mạnh mẽ nhất của mình trong công cuộc khai thác thông tin, cô ta dường như cũng thấy bắt đầu có thể trút bầu tâm sự với vị luật sư có vẻ sốt sắng này.
Đầu tiên Holly cố giảm bớt ấn tượng ban đầu rằng cô ta căm ghét ông anh bị thương của mình. Cô ta tường tận kể cho Robin nghe chuyện mười sáu tuổi Noel đã nhập ngũ. Anh đã cống hiến hết mình: quân đội là cuộc đời của anh. Đúng vậy đó, người ta thường không nhận ra những hi sinh của người lính… mà Robin có biết Noel là anh sinh đôi của cô ta không? Đúng vậy, sinh vào ngày Giáng Sinh… nên mới có tên là Noel và Holly…
Kể lại câu chuyện đã được tỉa tót về ông anh cũng có nghĩa là tự nâng chính cô ta lên. Con người đã từng nằm trong bụng mẹ cùng lúc với cô ta đã bước ra thế giới, đã đi đây đó, đã chiến đấu, đã thăng tiến qua các cấp bậc trong Quân đội Anh quốc. Sự quả cảm và chí phiêu lưu của anh ta khiến Holly, kẻ ở lại Barrow cũng được thơm lây.
“… rồi ổng lấy một con mẻ tên Irene. Chết chóng. Có hai đứa con riêng. Quớ làng. Đúng là làm ơn mắc oán mà, phải người ta hay nói vậy sao?”
“Ý chị là sao?” Venetia Hall lịch sự hỏi lại, tay cầm ly còn chút rượu âm ấm chua như giấm.
“Lấy mẻ đó, đẻ một thằng cu. Dễ thương lắm… Ryan… Ta nói dễ thương. Đã sáu năm rồi chưa gặp nó ha? Bảy năm chứ? Con mẻ chó cái. Y chang, Irene cuốn gói ra đi ngay bữa ổng đi bác sĩ. Đem đám con cái theo – với Noel thằng cu là tất cả, thiệt tình. Tất cả – vậy mà hứa hẹn, thề thốt khi đau ốm cũng như khi mạnh khỏe, khỏe các con c*c? Vợ con như c*c. Ngay lúc ổng cần nhứt nữa. Cái đồ đĩ.”
Vậy là Noel và Brittany đã đường ai nấy đi từ lâu. Hay gã đã cố tìm cho ra đứa con riêng của vợ, kẻ mà gã xếp ngang hàng với Strike – những thủ phạm gây nên thương tích khiến đời gã bầm dập? Robin cố giữ vẻ mặt bình tĩnh, mặc dù tim đập thình thịch. Cô ước gì mình có thể nhắn tin ngay cho Strike lúc này.
Sau khi vợ bỏ đi, Noel mò về nhà cũ, ngôi nhà cấp bốn nhỏ xíu trên phố Stanley, chính là nơi Holly đã sống cả đời, sau khi cha dượng chết thì một mình ở đó.
“Tui cho ổng vô ở,” Holly nói, ngồi thẳng lưng. “Dù chi cũng là người nhà.”
Không hề nhắc đến vụ Brittany. Holly đang đóng vai người thân lo lắng, cô em gái thương anh, và mặc dù đóng dở tệ, Robin giờ đây cũng đủ kinh nghiệm để biết rằng lẫn trong những lời nhăng cuội vớ vẩn vẫn có thể lọc ra được chút ít sự thật.
Cô tự hỏi không biết Holly có biết vụ anh mình bị tố cáo xâm hại trẻ em: dù sao chuyện đã xảy ra ở Đức, mà cuối cùng gã đã trắng án. Thế nhưng nếu Brockbank quả thật đã bị chấn thương sọ não khi xuất ngũ, liệu gã có khôn khéo đến mức không hé răng về vụ xuất ngũ tai tiếng của mình không? Nếu gã vô tội và có vấn đề về tâm thần, thì hẳn đã phải luyên thuyên về sự bất công đã khiến mình điêu đứng ấy?
Robin mua cho Holly vại bia thứ ba rồi khéo léo chuyển hướng câu chuyện sang chủ đề Noel đã thay đổi ra sao sau khi bị thương.
“Ta nói không bình thường mà. Lên cơn. Co giựt. Thuốc men tùm lum. Tui vừa mới chăm ông cha dượng xong – ổng bị đột quy, thì phải chăm Noel, suốt ngày giựt kinh phong rồi…”
Holly dụi tắt phần cuối câu nói trong vại bia.
“Chị thật vất vả,” Robin đáp, vừa nói vừa viết trong sổ. “Có vấn đề hành vi gì không? Người thân thường nói đấy là những thử thách tồi tệ nhất với họ.”
“Ừa,” Holly đáp. “Ờ thì… Xưa nay cộc lắm, sau khi bị đánh bể sọ thì cũng không khá hơn. Đập bể đồ hai lần. Cứ gây sự suốt.
“Cha đó giờ nổi tiếng lắm,” Holly chợt lạnh lùng.
“Gì kia?” Robin hỏi lại, bất ngờ.
“Thằng cà chớn đánh ổng đó!”
“Ai kia…”
“Cameron Strike chết tiệt.”
“À, đúng rồi,” Robin nói. “Hình như tôi có nghe tiếng người này.”
“Còn chi nữa! Giờ thành thám tử tư đó, lên báo rần rần! Hồi đánh Noel thừa sống thiếu chết thì chỉ là quân cảnh thôi… mẹ kiếp, làm con người ta sống không bằng chết mà…”
Bài tổng sỉ vả kéo dài thêm một lúc nữa. Robin ghi chép, chờ Holly kể tại sao quân cảnh lại dính đến anh trai cô ta, nhưng hoặc là cô ta không biết, hoặc cố tình không nói. Chốt lại chỉ mỗi chuyện Noel Brockbank đã đổ hết cho Strike là kẻ gây bệnh động kinh cho mình.
Theo lời Holly, sau một năm sống dở chết dở, chỉ biết trút giận và xả tức vào em gái sinh đôi và nhà cửa, Noel lên đường đi làm bảo kê ở Manchester, nhờ có bạn cũ ở Barrow giới thiệu.
“Vậy khi đó anh ấy có đủ sức khỏe để làm việc sao?” Robin hỏi, bởi vì Holly vừa mới mô tả một người mất hết kiểm soát, đụng đâu cũng bùng nổ.
“Ờ thì tới lúc đó cũng tàm tạm, miễn là đừng uống rượu với thuốc men đầy đủ. Nghe ổng đi tui mừng lắm. Ổng ở đây tui khổ quá chừng.” Holly nói, đột nhiên nhớ ra khoản bồi thường được hứa hẹn cho những người bị ảnh hưởng từ thương tích của người thân. “Tui hay lên cơn sợ. Đi bác sĩ rồi. Có bịnh án luôn.”
Mười phút sau đó tập trung vào hậu quả hành vi của Brockbank đối với cuộc sống Holly, Robin nghiêm túc gật gù, thi thoảng chen vào những câu động viên thông cảm, như “À, tôi cũng từng nghe chuyện đó từ các thân nhân khác,” rồi, “Đúng rồi, chi tiết này rất có giá trị khi giải trình trước tòa.” Robin mời Holly vại bia thứ tư, cô ta giờ đây đã ngoan như cừu.
“Để tui mời cô một ly,” Holly nói, mơ hồ làm bộ đứng dậy.
“Không, không, cái này tôi thanh toán công tác phí được,” Robin nói. Khi đứng đợi rót bia McEwan, Robin tranh thủ kiểm tra điện thoại. Thêm một tin nhắn nữa của Matthew, cô để đó, chưa đọc vội và một tin của Strike, cô mở ngay.
Ổn hết chứ?
Ừ, cô nhắn lại.
“Vậy giờ đây anh của chị đang ở Manchester sao?” cô hỏi Holly khi quay lại bàn.
“Không,” Holly đáp, sau khi làm một hơi bia McEwan.
“Bị đuổi rồi.”
“Ô, vậy sao?” Robin hỏi lại, ngừng tay viết. “Nếu anh ấy bị sa thải vì lý do sức khỏe, chúng tôi có thể giúp anh ấy làm hồ sơ kiện sa thải trái phép…”
“Không phải vì vụ đó,” Holly đáp.
Một biểu cảm lạ kỳ lướt qua trên gương mặt cau có sưng sỉa: một ánh chớp bạc lóe lên giữa những đám mây bão tố, như một điều gì đó vô cùng mạnh mẽ đang cố bứt ra ngoài.
“Ổng về lại đây,” Holly tiếp, “rồi y như cũ…”
Tiếp tục những câu chuyện bạo lực, những cơn thịnh nộ vô cớ, đồ đạc bị đập bể, cuối cùng Brockbank tìm được một việc khác, mô tả mơ hồ là nhân viên an ninh, rồi thẳng tiến về Market Harborough.
“Rồi ổng quay về lần nữa,” Holly nói, và tim Robin như đập nhanh hơn.
“Vậy anh ấy đang ở Barrow sao?” cô hỏi.
“Không,” Holly đáp. Cô ta đã say, câu trước câu sau nhịu vào nhau. “Chỉ về vài tuần thôi nhưng lần này tui nói là tui sẽ gọi cảnh sát nếu dám về nữa, vậy là đi thẳng cẳng luôn. Mắc tè quá,” Holly nói, “với phải làm điếu. Cô hút thuốc không?”
Robin lắc đầu. Holly loạng choạng đứng dậy, tiến về phía nhà vệ sinh nữ. Robin ngồi lại, rút điện thoại từ túi ra và nhắn tin cho Strike.
Nói là anh ta không có ở Barrow, không ở với người nhà. Cô ta say rồi. Vẫn đang khai thác. Cô ta chuẩn bị ra ngoài hút thuốc, nấp kỹ vào.
Ngay khi vừa bấm nút gởi cô thấy hối tiếc mấy chữ tiếng cuối cùng, nhỡ ra Strike lại giở giọng châm chọc vụ cô đi học chống theo dõi nữa thì sao, nhưng điện thoại của cô rung lên sau đó ngay lập tức, cô thấy hai từ:
Rõ rồi.
Cuối cùng Holly cũng trở lại bàn, người ngợm sặc mùi thuốc lá Rothmans, một tay cầm một ly vang trắng đẩy về phía Robin, tay kia là vại bia thứ năm.
“Cảm ơn chị nhiều,” Robin nói.
“Thiệt tình,” Holly đều đều kể tiếp, như thể câu chuyện chưa hề gián đoạn, “có ổng ở đây tui ảnh hưởng sức khỏe ghê gớm.”
“Hẳn thế rồi,” Robin nói. “Vậy anh Brockbank sống…?”
“Ổng hung hăng lắm. Tui có kể cô nghe có lần ổng túm đầu tui ấn vô tủ lạnh chưa?”
“Chị có kể.” Robin kiên nhẫn.
“Rồi ổng đánh tui bầm mắt khi tui cố cản không cho ổng đập bể chén dĩa của bà già…”
“Tệ quá. Chắc chắn chị phải được một khoản bồi thường nhất định,” Robin phịa, rồi lờ đi chút cảm giác tội lỗi, cô hạ luôn câu hỏi quan trọng nhất. “Tụi tôi nghĩ anh Brockbank còn ở Barrow vì tiền lương hưu của anh ấy được gởi về đây.”
Phản ứng của Holly chậm hẳn đi sau bốn vại rưỡi bia. Lời hứa hẹn về khoản bồi thường thương tổn khiến sắc diện cô ta tươi hẳn: ngay đến nếp rãnh sâu mà cuộc đời đã vạch xuống giữa hai chân mày khiến gương mặt cô ta lúc nào cũng cau có dường như cũng mờ nhạt đi. Tuy nhiên, vụ lương hưu của Brockbank khiến cô ta xù lông tự vệ trở lại.
“Không có chuyện đó,” Holly nói.
“Theo như hồ sơ bên chỗ tôi thì đúng thế.” Robin đáp.
Máy đánh bạc phát ra tiếng nhạc hiệu rộn ràng, đèn chớp nháy trong góc; bóng bi-da chạm nhau rồi dội lại từ nền vải nỉ; giọng Barrow trộn lẫn với giọng Scot. Bất giác Robin nghĩ ra. Holly đang tranh thủ món lương hưu quân nhân của ông anh.
“Đương nhiên,” Robin tiếp, nhẹ nhàng như không, “chúng tôi biết anh Brockbank có thể không tự mình nhận lương hưu. Đôi khi người thân được ủy quyền nhận tiền cho quân nhân khuyết tật.”
“Ừa,” Holly đáp ngay lập tức. Gương mặt nhợt nhạt của cô ta thoáng ửng hồng. Trông Holly cũng có vẻ nữ tính, mặc dù xăm trổ đầy mình và xỏ lỗ đủ kiểu. “Tui đi nhận cho ổng hồi ổng mới ra tù. Khi ổng bị lên cơn đó.”
Tại sao, Robin nghĩ thầm, nếu anh ta bị tàn tật đến vậy, anh ta lại chuyển lương hưu về Manchester, rồi về Market Harborough, rồi trở về Barrow lại?
“Vậy chị gởi lương hưu cho anh ấy sao?” Robin hỏi, trống ngực đánh dồn dập. “Hay bây giờ anh ấy tự đi nhận được?”
“Cô nghe nè,” Holly lên tiếng.
Cánh tay Holly có hình xăm Hell’s Angels, một đầu lâu đội mũ bảo hiểm có cánh, hình xăm nổi gờn gợn khi cô ta nghiêng mình về phía Robin. Bia, thuốc lá và đồ ngọt khiến hơi thở Holly nồng nặc. Robin cố không chợn chạo.
“Cô nghe nè,” cô ta lặp lại, “cô giúp người ta được thường tiền nếu người ta từng bị… từng bị đánh, hay… ri kia kia nọ.”
“Đúng thế,” Robin nói.
“Nếu người ta từng bị… nếu đáng ra bên bảo trợ xã hội đã phải… phải làm gì đó thì sao?”
“Còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể nữa,” Robin đáp.
“Bà già bỏ đi hồi tụi tui chín tuổi,” Holly kể. “Để tụi tui lại với cha dượng.”
“Tôi rất tiếc,” Robin đáp. “Hẳn khó khăn lắm.”
“Hồi những năm bảy mươi,” Holly tiếp. “Có ai thèm quan tâm gì đâu. Tụi tui bị ổng vọc.”
Lòng dạ Robin như có đá đè. Hơi thở nồng nặc của Holly phả vào mặt cô, gương mặt loang lổ áp gần lại. Cô ta không hề biết rằng vị luật sư có vẻ thông cảm kia, kẻ đã đến tìm mình, hứa hẹn tiền nong, thực ra chỉ là ảo ảnh.
“Ổng vọc cả hai đứa tụi tui,” Holly nói. “Ông cha dượng đó. Noel cũng bị. Từ lúc tụi tui còn nhỏ nhít. Hồi đó tụi tui hay rủ nhau trốn dưới giường. Rồi Noel vọc tui. Nhưng mà,” cô ta tiếp, tự dưng thiết tha hẳn, “Noel cũng có lúc được lắm. Hồi nhỏ tụi tui cũng thân, hồi còn nhỏ xíu. Rồi thì,” giọng Holly để lộ nỗi ấm ức của kẻ hai lần bị phản bội, “năm mười sáu tuổi, ổng bỏ nhà đi lính.”
Robin ban đầu không hề muốn uống thêm, giờ đây cầm ly vang làm nguyên một hơi. Thủ phạm xâm hại thứ hai của Holly cũng chính là đồng minh chống lại thủ phạm đầu tiên: kẻ ít tàn độc hơn trong hai con quỷ dữ.
“Cái thứ chó đẻ,” cô ta nói, lần này Robin nhận ra là Holly đang nói về cha dượng, chứ không phải người anh song sinh đã từng xâm hại mình rồi biến ra nước ngoài.
“Nhưng mà hồi tui mười sáu tuổi ổng bị tai nạn lao động, sau đó thì có đỡ khổ hơn. Hóa chất công nghiệp. Khốn nạn. Bị vậy không làm ăn được gì hết. Suốt ngày uống thuốc giảm đau. Rồi lên cơn đột quỵ.”
Vẻ mặt đầy ác ý của Holly đã kể lại với Robin chính xác cô ta đã chăm sóc cha dượng kiểu gì.
“Thứ chó má,” Holly khẽ rủa.
“Cô đã bao giờ đi tư vấn tâm lý chưa?” Robin nghe giọng mình hỏi.
Mình đúng là giống dân miền Nam chảnh chọe.
Holly cười khẩy.
“Mẹ kiếp, không có đâu. Cô là người đầu tiên tui kể chuyện này. Chắc cô nghe chuyện như vầy nhiều lắm rồi hả?”
“Quả có vậy,” Robin nói. Cô thấy mình nợ Holly.
“Tui có nói với Noel, lần cuối cùng ổng về đây,” Holly tiếp, sau năm vại bia, giọng đã lè nhè, “biến phức đi, đừng có vác mặt về đây nữa. Đi đi không thì tui kêu cảnh sát, khai ông đã làm gì, để coi họ nghĩ sao, nhứt là sau khi mấy đứa nít gái cứ tố bị ổng vọc.”
Mấy từ đó khiến thứ rượu âm ấm trong miệng Robin trở nên gớm ghiếc.
“Vì vậy mà mất việc ở Manchester chớ đâu. Bóp dzú một đứa mười ba tuổi. Chắc ở Market Harborough cũng vậy. Ổng đâu có chịu nói tại sao về nhà, nhưng tui lạ gì, cũng chuyện đó thôi. Học được thầy giỏi quá mà,” Holly kể. “Vậy tui có đi thưa được không?”
“Tôi nghĩ,” Robin đáp, lo rằng lời khuyên của mình sẽ tiếp tục gây hại cho người đàn bà đã chịu nhiều tổn thương đang ngồi cạnh, “chị nên đi gặp cảnh sát. Vậy anh của chị ở đâu?” cô hỏi.
“Không biết,” Holly nói. “Khi tui nói sẽ đi thưa cảnh sát ổng nổi xung lên, nhưng rồi…”
Cô ta lầm rầm lí nhí trong miệng, chỉ vừa nghe được hai tiếng lương hưu.
Brockbank đã nói cô ta có thể giữ lại lương hưu nếu không đi thưa cảnh sát.
Vậy nên cô ta ngồi đây, uống đến chết với món tiền ông anh dùng để mua sự im lặng. Holly biết chắc gã vẫn đang vọc những bé gái khác… cô ta biết gì về vụ của Brittany không? Cô ta có quan tâm không? Hay vết sẹo của chính Holly đã quá dày đến nỗi cô ta trở nên dửng dưng với nỗi đau của những bé gái khác? Cô ta vẫn còn sống trong ngôi nhà nơi chuyện đã xảy ra, ngôi nhà có cửa sổ quay ra phía hàng rào kẽm gai và tường gạch… tại sao cô ta không chạy trốn, Robin tự hỏi. Tại sao cô ta không bỏ đi, như Noel? Tại sao ở lại ngôi nhà đó mà nhìn bức tường sừng sững, trơ trọi?
“Chị không có số điện thoại hay liên lạc gì của anh ta sao?” Robin hỏi.
“Không,” Holly đáp.
“Nếu chị tìm được cách gì để liên lạc thì có khi sẽ được khoản bồi thường đáng kể,” Robin vô vọng giăng lưới, không còn giữ kẽ nữa.
“Chỗ cũ đó,” Holly lè nhè, sau vài phút nghĩ ngợi vẩn vơ và nhìn chăm chăm vào điện thoại, “dưới Market Harbrough…”
Mất một lúc lâu cô ta mới lục tìm được số điện thoại chỗ làm cuối cùng của Noel, nhưng vẫn còn hơn không có gì. Robin ghi lại, rồi lấy mười bảng trong ví ra, dúi vào tay mở sẵn của Holly.
“Chị đã giúp tôi rất nhiều. Thực sự là rất nhiều.”
“Cái giống trời đánh, như nhau hết.”
“Đúng vậy,” Robin đáp, hoàn toàn không biết mình vừa đồng ý với cái gì. “Tôi sẽ liên lạc sau. Tôi có địa chỉ của chị đây.”
Cô ta đứng dậy.
“Ờ. Bai nghe. Cái giống trời đánh, như nhau hết.”
“Ý là đàn ông đó,” cô nhân viên quầy bar góp chuyện. Cô này vừa đi tới để thu mấy cái ly đã cạn, mỉm cười nhìn vẻ bối rối của Robin. “Giống trời đánh là đàn ông đó. Ý bả nói đàn ông ai cũng như nhau.”
“À ha,” Robin đáp, gần như không biết mình đang nói gì. “Đúng quá. Cảm ơn chị nhiều. Tạm biệt, Holly… chị bảo trọng…”