Nghiệp Ác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

… you ain’t seen the last of me yet, I’ll find you, baby, on that you can bet.… ngươi chưa thoát được ta đâu Ta sẽ tìm ngươi, đừng quên đấy.

Blue Öyster Cult,

ShowtimeGiờ diễn

Tám rưỡi tối Chủ Nhật, Strike đứng bên ngoài ga Euston, hút điếu cuối cùng trước khi lên tàu chín tiếng đi Edinburgh.

Elin đã thất vọng khi biết hắn sẽ không đi dự hòa nhạc đêm đó, thế nên hai người dành gần trọn buổi chiều trên giường, một lựa chọn mà Strike thấy có lý quá xá. Xinh đẹp, tự chủ, hơi lạnh lùng bên ngoài phòng ngủ, nhưng ở bên trong thì Elin cởi mở hơn hắn. Ký ức của những hình ảnh và âm thanh gợi cảm – làn da mịn như sứ hơi ướt át dưới miệng hắn, bờ môi nhạt mở to trong cơn rên – khiến vị nicotine gắt nồng thêm đậm đà. Hắn không được phép hút thuốc trong căn hộ hoành tráng của Elin trên phố Clarence Terrace vì con gái của cô bị hen suyễn. Vậy là lúc tàn cuộc, thay vì tận hưởng một điếu như thường lệ, hắn chỉ biết cố chống lại cơn buồn ngủ khi cô cho hắn xem băng ghi hình cô nói về các nhà soạn nhạc thời kỳ Lãng Mạn trên ti-vi trong phòng ngủ.

“Đằng ấy biết không, trông đằng ấy rất giống Beethoven,” cô nói, vẻ suy tư, khi máy quay tập trung vào một bức tượng bán thân bằng đá của nhà soạn nhạc.

“Beethoven bị dập mũi,” Strike nói. Đã có người nói thế với hắn.

“Mà tại sao đằng ấy lại đi Scotland?” Elin hỏi khi hắn gắn lại chân giả, vẫn ngồi trên giường trong phòng ngủ - một căn phòng sơn trắng và kem nhưng lại không có cái vẻ khắc khổ buồn buồn như căn phòng dư cho khách ở nhà Ilsa và Nick.

“Lần theo một manh mối,” Strike đáp, hắn biết rõ mình đang nói quá. Mối liên hệ giữa Donald Laing và Noel Brockbank với cái chân bị cắt lìa chẳng có gì hơn là sự nghi ngờ của chính hắn. Tuy vậy, và mặc dù vẫn âm thầm tiếc rẻ gần ba trăm bảng cho chuyến đi khứ hồi, hắn không hối tiếc quyết định đó.

Dụi tàn thuốc dưới gót chân giả, hắn tiến vào nhà ga, mua một túi thức ăn ở siêu thị rồi leo lên chuyến tàu đêm.

Phòng đơn trên tàu với bồn rửa gấp lại được và giường hẹp có lẽ vô cùng chật chội, nhưng binh nghiệp đã đưa hắn đến nhiều nơi còn khiêm tốn hơn thế. Hắn thấy mừng là giường đủ dài cho thân hình mét chín của mình. Thực ra sau khi tháo chân giả thì nơi càng chật chội lại càng dễ xoay trở hơn. Strike chỉ bực mỗi chuyện khoang tàu quá nóng: căn hộ áp mái của hắn luôn được giữ ở nhiệt độ mà hết thảy phụ nữ hắn quen sẽ cho là lạnh như nước đá, nhưng cũng có cô nào từng ngủ ở đó đâu. Elin chưa bao giờ bước vào; Lucy em gái hắn thì chưa bao giờ được mời vào, nhỡ khi vỡ mộng, biết chuyện ông anh chẳng hề giàu nứt đố đổ vách thì toi. Giờ nghĩ lại hắn nhận ra Robin là người phụ nữ duy nhất từng đặt chân vào nhà mình.

Con tàu bắt đầu chuyển bánh. Những chiếc ghế băng và cột nhà lướt qua cửa sổ. Strike ngồi thụp xuống giường, mở ổ bánh mì thịt muối đầu tiên, ngoạm một miếng thật lớn, tự nhiên nhớ lại cảnh Robin ngồi ở bàn bếp trong nhà hắn, mặt trắng bệch và run rẩy. Hắn yên lòng khi nghĩ giờ này cô đang ở nhà trên Masham, tránh xa hiểm họa: ít ra hắn cũng đỡ đi một mối lo.

Hoàn cảnh hiện tại của hắn vô cùng quen thuộc. Như thể hắn đã tái nhập ngũ, đang đi dọc suốt chiều dài nước Anh bằng phương cách rẻ nhất để đến trình diện ở đơn vị SIB trên Edinburgh. Hắn chưa bao giờ đóng quân ở đó. Văn phòng đơn vị theo như hắn biết, đóng ở lâu đài trên đỉnh dốc đá cheo leo giữa thành phố.

Đến khuya, sau khi đã loạng choạng dọc hành lang tàu để đi tè, hắn cởi bỏ áo quần chỉ còn xà lỏn, rồi nằm ngủ trên tấm chăn mỏng, hay đúng ra chỉ gà gật. Con tàu lắc lư khá nhịp nhàng dễ chịu, nhưng cái nóng trong toa và tốc độ tàu hay thay đổi khiến hắn cứ chập chờn. Kể từ vụ nổ chiếc xe tăng Viking, lấy đi hai đồng đội và nửa cái chân, Strike thấy khó ở khi phải ngồi xe do người khác lái. Giờ đây hắn phát hiện ra cảm giác sờ sợ đó còn lấn sang cả khi đi tàu. Tiếng còi hụ của con tàu đi ngược chiều đánh thức hắn đến ba lần. Khi chạy qua một khúc quanh, thân tàu nghiêng nhẹ khiến hắn mường tượng ra khung cảnh khủng khiếp khi cỗ xe sắt tròng trành, lăn lóc, đâm sầm rồi vỡ tung…

Tàu vào ga Edinburgh Waverley lúc năm giờ mười lăm sáng, nhưng mãi đến sáu giờ mới dọn bữa sáng. Strike thức dậy trong tiếng nhân viên phục vụ đi dọc toa, mang theo khay thức ăn. Khi hắn mở cửa, giữ thăng bằng trên một chân, người thanh niên mặc đồng phục vô ý nấc lên một tiếng hoảng hốt khi thấy cái chân giả đang nằm trên sàn nhà.

“Vô phép anh,” cậu ta nói bằng giọng Glasgow khá nặng khi đưa mắt từ cái chân giả về phía chân Strike, hoàn hồn nhận ra ông này đi chân giả, chứ không phải vừa hứng lên chặt phăng chân để đó. “Tui thiệt ốt dột quá chừng!”

Thấy buồn cười, Strike đón cái khay rồi đóng cửa lại. Sau một đêm mất ngủ, hắn thèm thuốc hơn là bánh sừng trâu dai nhách vừa mới được hâm nóng, vậy là hắn bắt đầu gắn chân giả, mặc áo quần, vừa làm vừa uống cà phê và trở thành một trong những hành khách đầu tiên bước vào buổi sáng sớm lạnh lẽo ở Scotland.

Vị trí nhà ga khiến người ta có cảm giác kỳ quặc như đang ở dưới đáy vực. Qua trần kính xếp Strike nhận ra hình dạng của những tòa nhà Gothic tối màu trùng trùng điệp điệp trên đầu mình. Hắn tìm được chỗ gần bãi đỗ taxi đã hẹn trước với Hardacre, ngồi xuống một ghế băng thép lạnh lẽo rồi châm thuốc, ba lô đặt dưới chân.

Hai mươi phút sau Hardacre mới tới nơi, và khi gã tới, Strike thấy ngại kinh khủng. Hắn đã thấy vô cùng cảm kích khi khỏi phải thuê xe, nên đã không dám bố láo hỏi Hardacre xem gã lái xe gì.

Xe Mini. Mi với chẳng ni…

“Oggy!”

Hai người vồn vã nửa ôm, nửa bắt tay kiểu Mỹ, kiểu chào hỏi ấy đã lây đến tận quân ngũ. Hardacre chỉ cao hơn mét bảy, một thanh tra thân thiện, tóc màu lông chuột đang hói dần. Strike biết rõ sau vẻ ngoài không có gì nổi bật đó là một bộ óc điều tra sắc bén. Hai người từng kề vai sát cánh trong vụ bắt giữ Brockbank, chỉ chừng đó cũng đủ gắn kết họ, chưa kể những rắc rối sau đó.

Chỉ khi nhìn bạn cũ chui vào chiếc Mini, Hardacre mới sực nghĩ đáng ra gã nên nói trước với Strike mình lái xe gì.

“Tao quên mất mày lớn xác ra sao,” gã bình luận. “Mày chạy cái này ô kê không?”

“Ừ, được chứ,” Strike đáp, đẩy ghế ra sau hết cỡ. “Cảm ơn mày đã cho mượn xe, Hardy.”

Ít ra nó cũng là xe số tự động.

Chiếc xe nhỏ bé len lỏi ra khỏi nhà ga, tiến lên đồi, qua những tòa nhà đen như muội than mà lúc sáng hắn thấy qua trần kính. Buổi sáng sớm xám một màu lành lạnh.

“Nghe đâu lát nữa trời đẹp lắm,” Hardacre lẩm bẩm khi xe chạy dọc dãy phố Royal Mile dốc đứng lát sỏi, qua những cửa hàng bán vải tartan và cờ sư tử của Scotland, qua nhà hàng và quán cà phê, biển quảng cáo các tour ma và những con hẻm hẹp, thi thoảng lấp ló khung cảnh thành phố trải dài bên dưới về phía tay phải.

Lên đến đỉnh đồi thì lâu đài hiện ra: một màu tối uy nghiêm trên nền trời, bao quanh là những bức tường đá cao, uốn cong. Hardacre rẽ phải, xa khỏi cánh cổng gắn phù hiệu nơi có khách du lịch lượn lờ chực sẵn để xếp hàng mua vé. Xe dừng ở một bốt gỗ, gã đưa tên tuổi, trình thẻ rồi lái tiếp, hướng thẳng đến lối vào khoét trong lòng đá núi lửa, dẫn ra một đường hầm có đèn pha chiếu sáng, tường trong hầm chằng chịt dây cáp điện. Ra khỏi đường hầm, hai người thấy mình ở trên cao nhìn xuống thành phố, những khẩu đại bác xếp hàng dọc theo thành trì gần đó. Một khung cảnh mờ sương nhạt nhòa của những đỉnh tháp và mái nhà hai màu đen vàng trải dài ra cửa sông Firth of Forth xa xa.

“Đẹp đó,” Strike nói, tiến lại gần khẩu đại bác xem cho kỹ.

“Không tệ,” Hardacre đồng ý, bình thản liếc mắt xuống thủ phủ xứ Scotland bên dưới. “Lại đây, Oggy.”

Hai người tiến vào lâu đài qua cửa gỗ bên hông. Strike bước theo Hardacre dọc một hành lang hẹp lót đá lạnh lẽo, rồi leo lên vài dãy cầu thang hơi khó đi với đầu gối chân phải của Strike. Những bức tranh in hình quân nhân thời Victoria mặc lễ phục treo trên tường cách khoảng không đều nhau.

Cánh cửa ở tầng một mở ra hành lang giữa hai dãy văn phòng, sàn lót thảm màu hồng đậm cũ kỹ, tường màu xanh lục như bệnh viện. Mặc dù chưa tới đây lần nào, Strike ngay lập tức có cảm giác quen thuộc, khác xa hoàn toàn với xóm tạm chiếm ở phố Fulborne. Đây từng là cuộc sống của hắn: tưởng như hắn có thể ngồi xuống một bàn trống và mười phút sau đã làm lại việc cũ.

Tường dán nhiều áp phích, có áp phích nhắc nhở điều tra viên về tầm quan trọng và các quy trình liên quan đến Giờ Vàng - tức một tiếng đồng hồ ngay sau khi gây án, lúc manh mối và thông tin vẫn còn nhiều nhất và dễ thu thập nhất – một áp phích khác dán ảnh các loại ma túy. Trong phòng có bảng trắng đính đầy thông tin cập nhật và nhắc nhở hạn chót cho các vụ án hiện thời – đang chờ phân tích ADN và điện thoại, “cần mẫu đơn SPA 3”- và hộp kim loại đựng những bộ dụng cụ lấy vân tay. Cửa ra phòng thí nghiệm mở sẵn. Trên một chiếc bàn cao bằng kim loại có một cái gối bọc trong túi ni lông bằng chứng, đẫm máu khô nâu sẫm. Cạnh đó là thùng cạc-tông đựng mấy chai rượu mạnh. Hễ có đổ máu là có rượu. Một chai whisky Bell’s đã cạn đứng ở góc phòng, chụp cái mũ quân phục màu đỏ – chính là món quân trang làm nên biệt danh của đơn vị.

Một phụ nữ tóc vàng cắt ngắn mặc com-lê vải sọc kim đi ngược lại.

“Strike.”

Hắn không nhận ra ai ngay.

“Emma Daniels. Catterick, 2002,” cô ta vừa cười vừa nói. “Anh từng gọi Trung sĩ Tham mưu của tụi tôi là đồ đểu cáng vô trách nhiệm.”

“À nhớ rồi,” hắn đáp, Hardacre cười khẩy. “Đúng vậy còn gì. Cô đã cắt tóc.”

“Còn anh đã có tiếng tăm.”

“Cô nói quá,” Strike đáp.

Một thanh niên xanh xao mặc áo sơ mi ló đầu ra từ phòng cuối dãy, tò mò hóng chuyện.

“Xin lỗi Emma, giờ tụi này bận rồi,” Hardacre nói vội. “Biết ngay tụi nó sẽ hóng nếu thấy mày,” gã nói với Strike, sau khi đã kéo tên thám tử vào văn phòng riêng rồi đóng cửa lại.

Căn phòng hơi tối, chủ yếu là do cửa sổ nhìn thẳng ra mặt đá lởm chởm. Ảnh con cái của Hardacre và các loại cốc bia truyền thống tiếp sinh khí cho căn phòng lót thảm hồng cũ kỹ và tường xanh y hệt hành lang bên ngoài.

“Được rồi, Oggy,” Hardacre nói, gõ phím máy tính, rồi đứng lùi lại nhường chỗ ở bàn cho Strike. “Chính hắn đây.”

Cục điều tra đặc biệt SIB có thể tiếp cận hồ sơ từ cả ba ngạch. Trên màn hình là ảnh thẻ của Noel Campbell Brockbank. Ảnh chụp từ trước khi Strike gặp y, trước khi Brockbank nhận đòn vào mặt, sụp một hốc mắt và bẹp một bên tai. Tóc đinh, gương mặt dài, hẹp, quanh cằm có vết bầm và trán cao khác thường: khi gặp y lần đầu tiên Strike đã nghĩ cái đầu dài và gương mặt lệch đỏ trông như thể Brockbank từng bị kẹp đầu trong mỏ cặp.

“Tao không cho mày in được, Oggy à,” Hardacre nói lúc Strike ngồi xuống ghế gắn bánh xe, “nhưng mày có thể chụp lại màn hình. Uống cà phê không?”

“Trà đi, nếu mày có sẵn. Cảm ơn.”

Hardacre rời phòng, cẩn thận đóng cửa. Strike rút điện thoại chụp lại màn hình. Khi yên tâm là đã chụp được hình tử tế, hắn kéo chuột xuống đọc hồ sơ đầy đủ của Brockbank, ghi chú lại ngày tháng năm sinh và các chi tiết nhân thân khác.

Brockbank bằng tuổi Strike, chào đời vào ngày Giáng Sinh. Gã khai địa chỉ nhà riêng ở Barrow-in-Furness khi nhập ngũ. Không lâu sau khi tham gia Chiến dịch Granby – mà công chúng thường biết đến với cái tên Chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất – gã cưới một góa phụ quân nhân đã có hai con gái riêng, Brittany là một trong hai đứa. Con trai gã được sinh ra khi gã đang đóng quân ở Bosnia.

Strike đọc hồ sơ, vừa đọc vừa ghi chú, cho đến chi tiết chấn thương chí mạng đã đặt dấu chấm hết cho binh nghiệp của Brockbank. Hardacre trở lại với hai tách đó uống, Strike lẩm bẩm cảm ơn, tiếp tục đọc file trên máy. Hồ sơ không hề nhắc đến tội ác mà Brockbank từng bị truy tố, cũng chính là vụ Strike và Hardacre đã điều tra. Đến giờ cả hai đều đinh ninh Brockbank là kẻ có tội. Chuyện gã trắng án là một trong những nỗi hối tiếc lớn nhất trong binh nghiệp của Strike. Ký ức sống động nhất của Strike về Brockbank là vẻ mặt của gã, cục súc hoang dại, khi xông vào Strike với chai bia đã vỡ. Gã cũng to lớn như Strike, có lẽ còn cao hơn. Tiếng Brockbank va vào tường khi bị Strike đấm, theo như Hardacre mô tả sau đó, nghe như tiếng xe tông vào những khu nhà ở quân nhân rẻ tiền.

“Hắn có lương hưu quân nhân ngon lành,” Strike lẩm bẩm, hí hoáy viết lại những địa điểm nhận lương hưu kể từ khi Brockbank xuất ngũ. Đầu tiên gã đã về quê nhà: Barrow-in-Furness. Rồi sau đó đi Manchester, ở đó gần một năm.

“À ha,” Strike khẽ thốt lên. “Vậy đúng là mày rồi, đồ chó.”

Brockbank đã rời Manchester dọn đến Market Harborough, rồi trở lại Barrow-in-Furness.

“Cái gì đây, Hardy?”

“Bệnh án tâm thần,” Hardacre đáp, gã đã ngồi xuống ghế thấp cạnh tường, đang đọc một hồ sơ khác. “Không nên cho mày đọc cái đó chút nào. Ai để ra đó thật là bất cẩn quá.”

“Quá bất cẩn,” Strike gật gù, mở ra xem.

Tuy nhiên, bệnh án tâm thần không tiết lộ thêm điều gì mà Strike chưa biết. Mãi đến khi nhập viện người ta mới biết rằng Brockbank là một kẻ nghiện rượu. Các bác sĩ cãi nhau loạn xạ triệu chứng nào do rượu, triệu chứng nào của chứng PTSD – rối loạn căng thẳng sau chấn thương tâm lý và đâu là triệu chứng do chấn thương sọ não. Strike phải tra Google một vài từ: hội chứng bất lực ngôn ngữ – khó khăn trong việc tìm từ ngữ; loạn cận ngôn – rối loạn lời nói, mất nhận cảm – khó khăn trong việc hiểu hay nhận ra cảm xúc của riêng mình.

Khi chuyện xảy ra, chứng đãng trí của Brockbank đã được tận dụng rất hiệu quả. Muốn giả những triệu chứng đó với gã thì có khó gì?

“Ở đây họ không tính tới một chuyện,” Strike lên tiếng, hắn vốn quen thân với vài người từng bị chấn thương sọ não nghiêm trọng, “đó là ngay từ đầu hắn đã là giống đểu cáng.”

“Chính xác,” Hardacre đáp, vừa nhấp cà phê vừa làm việc.

Strike đóng hồ sơ của Brockbank và mở hồ sơ của Laing. Ảnh của gã giống hệt như ký ức của Strike về tay lính Borderer, chỉ mới hai mươi tuổi khi hai người gặp nhau lần đầu tiên: to cao, da tái, tóc mái phủ xuống trán, cặp mắt đen, nhỏ như mắt chồn.

Strike còn nhớ rõ chi tiết binh nghiệp ngắn ngủi của Laing mà hắn đã có công chấm dứt. Sau khi ghi lại địa chỉ nhà mẹ Laing ở Melrose, hắn đọc lướt qua hết hồ sơ rồi mở bệnh án tâm thần đính kèm.

Bệnh nhân tỏ ra hung dữ, có nhiều dấu hiệu cận rối loạn nhân cách… có nhiều khả năng gây nguy hiểm cho người khác…

Tiếng gõ cửa lớn khiến Strike vội đóng hồ sơ trên màn hình và đứng dậy. Hardacre vừa ra tới cửa thì một phụ nữ mặt mày lạnh tanh mặc com-lê váy xuất hiện.

“Vụ Timpson có gì báo tôi chưa?” bà ta nói như sủa vào mặt Hardacre, nhưng cùng lúc liếc Strike đầy nghi hoặc, hắn đoán hẳn bà ta đã biết hắn ở đây.

“Tôi đi bây giờ luôn, Hardy,” hắn đáp ngay lập tức. “Hôm nay gặp vậy là vui rồi.”

Hardacre giới thiệu hắn ngắn gọn với bà Chuẩn úy, kể qua loa chuyện hai người quen nhau ra sao rồi tiễn Strike ra cửa.

“Tao làm trễ,” gã nói khi cả hai bắt tay ở cửa. “Gọi cho tao khi mày biết mấy giờ trả xe được. Đi vui ha.”

Strike cẩn trọng bước xuống cầu thang đá, không khỏi suy tư rằng đáng ra hắn đã có thể ở đây, làm việc bên cạnh Hardacre, tuân thủ theo lề lối và yêu cầu công việc quen thuộc của Cục điều tra đặc biệt. Quân đội đã muốn giữ hắn lại, ngay cả khi hắn bị mất một nửa chân. Hắn chưa bao giờ hối tiếc quyết định xuất ngũ, nhưng chuyến thăm ngắn ngủi và bất ngờ này khiến hắn không khỏi nhớ nhung cảnh cũ người xưa.

Bước ra màn nắng yếu ớt chiếu len qua một khe nứt giữa những đám mây dày, hắn càng ý thức hơn bao giờ hết sự thay đổi địa vị của chính mình. Giờ đây hắn được tự do, không phải đáp ứng mệnh lệnh vô lý của thượng cấp, không phải ngồi văn phòng tù túng. Nhưng hắn cũng không còn uy lực và địa vị của quân đội Anh quốc. Hắn hoàn toàn đơn độc khi tiếp tục một cuộc săn đuổi mà rất có thể lại thành công cốc. Chỉ với một vài địa chỉ trong tay, hắn đi tìm người đàn ông đã gởi cái chân cho Robin.

òn nhìn cái chân. Giờ hắn để ý thấy bên dưới có một tờ giấy đánh máy. Vốn được đào tạo nghiệp vụ điều tra trong quân đội Anh quốc, Strike cố kìm ham muốn kéo tờ giấy ra đọc; hắn không thể can thiệp vào bằng chứng pháp y. Thay vì đó, hắn loạ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.