… oh Debbie Denise was true to me,
She’d wait by the window, so patiently.… Debbie Denise yêu ta thật lòng,
Nàng sẽ đứng bên cửa sổ, chờ trông
Blue Öyster Cult,
Debbie Denise
Lời: Patti Smith
“Đi chuyến này phí công toàn tập. Không phải Brittany. Không thể là Brockbank.”
Strike thấy nhẹ cả người. Màu sắc trên phố Adam và Eve dường như bỗng dưng tươi mới ra, những kẻ qua đường cũng sáng sủa, dễ mến hơn trước khi hắn nhận cuộc gọi. Brittany ắt hẳn vẫn còn sống ở đâu đó. Không phải là lỗi của hắn. Không phải chân của Brittany.
Robin không nói gì. Cô nghe được sự phấn chấn trong giọng Strike, cảm nhận gánh nặng mà hắn vừa trút được. Đương nhiên cô chưa bao giờ gặp hay nhìn thấy Brittany Brockbank, và mặc dù cô mừng là Brittany vẫn an toàn, Robin không thể quên rằng có một cô gái khác đã chết trong hoàn cảnh vô cùng khủng khiếp. Cảm giác tội lỗi vừa rời khỏi Strike dường như chuyển sang Robin, khiến cô thấy lòng nặng trĩu. Chính Robin là người đã đọc lướt qua lá thư của Kelsey và tiện tay xếp nó vào ngăn kéo thư chập mạch mà không hồi âm. Liệu sự việc đã khác đi không, Robin tự hỏi, nếu cô đã liên lạc với Kelsey và khuyên cô ta đi khám bệnh? Hay nếu Strike đã gọi và nói rằng thực ra hắn đã mất chân trên chiến trường, rằng câu chuyện về thương tích của hắn mà Kelsey đã nghe được chỉ là dối trá? Ruột gan Robin nhức nhối vì hối tiếc.
“Anh có chắc không?” cô nói thành tiếng, sau khi cả hai người đều im lặng, đuổi theo suy nghĩ riêng.
“Chắc gì kia?” Strike hỏi, quay lại nhìn cô.
“Chắc rằng thủ phạm không thể là Brockbank.”
“Nếu nạn nhân không phải là Brittany…” Strike mở lời.
“Anh vừa kể với tôi là cái cô hồi nãy…”
“Ingrid hả?”
“Ừ, Ingrid,” Robin tiếp, thoáng sốt ruột, “cô đó. Anh vừa kể là cô ta nói Brockbank bị ám ảnh chuyện anh. Hắn nghĩ vì anh mà hắn chấn thương sọ não, gia đình tan nát.”
Strike nhìn Robin, nhướng mày, nghĩ ngợi.
“Như hôm qua tôi có nói, thủ phạm muốn lăng mạ anh, bỉ bôi thành tích – tất cả những điều đó đều rất khớp với những chuyện ta biết về Brockbank,” Robin tiếp, “mà anh không nghĩ biết đâu Brockbank đã gặp cô Kelsey này, rồi có lẽ thấy vết sẹo trên chân cô ta giống như sẹo của Brittany, hoặc nghe chuyện cô ta muốn bỏ chân… tôi cũng không biết nữa, nhưng biết đâu nghe chuyện đó khiến hắn nảy sinh ý định? Ý tôi là,” Robin lần chần, “ta không biết vụ chấn thương sọ não…”
“Chấn thương cái con khỉ,” Strike nạt. “Hắn vờ vịt trong bệnh viện. Tôi biết tỏng.”
Robin không nói gì, chỉ ngồi sau vô lăng, ngắm người đi mua sắm ngược xuôi phố Adam and Eve. Cô thấy ganh tị với họ. Có bận lòng chuyện gì đi nữa, hẳn họ cũng không phải nghĩ đến những vụ giết người phanh thây.
“Cô nói cũng có lý,” cuối cùng Strike lên tiếng. Robin thấy mình đã khiến hắn dè dặt hơn. Hắn kiểm tra đồng hồ. “Đi thôi, muốn tới Corby ngay trong hôm nay thì phải đi ngay giờ.”
Xe nhanh chóng vượt qua mười hai dặm giữa hai thị trấn. Nhìn vẻ mặt cáu kỉnh của Strike, Robin đoán rằng hắn đang nghĩ đến câu chuyện hai người vừa nói về Brockbank. Đường đi đều đều tẻ nhạt, khung cảnh đồng quê chung quanh phẳng lặng, bờ dậu chạy dọc hai bên đường, thi thoảng có cây cối.
“Vậy, tay Laing này,” Robin mở lời, cố gắng lay Strike khỏi cơn mơ khó chịu đó. “Anh nói là…”
“À, Laing…” Strike chậm rãi đáp.
Cô đã đúng khi đoán rằng hắn còn mải nghĩ về Brockbank. Giờ đây hắn cố quay lại câu chuyện với Robin, cố tập trung.
“À, tay Laing này trói vợ lại, dùng dao tấn công cô ấy; hai lần bị tố hiếp dâm – theo như tôi biết, nhưng được tha cả hai vụ – rồi đã từng cố cắn nát mặt tôi trên võ đài. Cơ bản là, một thằng khốn nạn bạo lực quỷ quyệt,” Strike nói, “thế nhưng, như tôi đã nói với cô, mẹ vợ của hắn nói khi ra tù hắn ốm yếu lắm. Bà ấy nói hắn đi xuống Gateshead, nhưng rõ là không thể ở đó quá lâu nếu năm 2008 lại sống ở Corby với một người đàn bà khác,” Strike vừa kể vừa dò bản đồ tìm con đường nơi Lorraine MacNaughton sống. “Cùng độ tuổi, cùng khung thời gian… để xem sao. Nếu Lorraine không có nhà, ta sẽ quay lại sau năm giờ chiều.”
Theo chỉ dẫn của Strike, Robin lái xe qua trung tâm thị trấn Corby, đầy nhà cửa bê tông và gạch, với trung tâm mua sắm nổi bật. Một tòa nhà cỡ khủng, toàn văn phòng hành chính, bên trên lởm chởm ăng ten như rong rêu bằng sắt, sừng sững ở đường chân trời. Không có quảng trường trung tâm, không có nhà thờ cổ và chắc chắn là không có trường chuyên kiến trúc nhà sàn gỗ. Corby từng được quy hoạch làm khu nhà ở cho những đợt lao động nhập cư bùng nổ vào những năm 1940, 1950; nhà cửa ở đây toát lên vẻ thực dụng, lạnh lùng.
“Một nửa tên đường đặc chất Scotland,” Robin nói khi xe qua phố Argyll và Montrose.
“Trước kia còn gọi là Tiểu Scotland, phải thế không?” Strike nói, để ý thấy bảng hiệu của Tòa nhà Edinburgh House. Hắn đã từng nghe rằng vào thời công nghiệp thịnh vượng, Corby là nơi tập trung nhiều dân Scotland nhất ở phía nam biên giới. Cờ chữ thập chéo, cờ sư tử Scotland giương vuốt tung bay trên các ban-công căn hộ. “Có thể thấy tại sao Laing thấy ở đây thoải mái hơn Gateshead. Biết đâu còn có người quen nữa.”
Năm phút sau cả hai đến khu phố cổ, nơi những căn nhà đá xinh xinh vẫn còn lưu dấu vết của ngôi làng Corby ngày xưa, trước khi nhà máy thép xuất hiện. Chẳng mấy chốc xe đã đến phố Weldon, nơi Lorraine MacNaughton cư ngụ.
Nhà cửa ở đây xây từng cụm sáu căn, mỗi cặp lại đối xứng với nhau, hai cửa trước đặt cạnh nhau còn bố trí cửa sổ thì ngược lại. Mỗi rầm cửa đều có khắc tên.
“Nhà chị ta kia,” Strike nói, chỉ về căn Summerfield, đứng cặp với căn Northfield.
Vườn trước của Summerfield rải đầy sỏi nhỏ. Bãi cỏ của Northfield um tùm, khiến Robin nghĩ đến căn hộ của mình ở London.
“Tôi nghĩ tốt hơn là mình cùng đi vào.” Strike nói, tháo dây an toàn. “Có lẽ chị ta sẽ thấy thoải mái hơn nếu có cô.”
Chuông cửa dường như đã hỏng. Strike gõ đốt ngón tay rầm rầm lên cửa. Có tiếng chó sủa dữ dội, cho thấy căn nhà có ít nhất một cư dân còn sống. Rồi có tiếng phụ nữ, vừa giận dữ vừa yếu ớt.
“Suỵt! Im đi! Nín! Suỵt! Thôi!”
Cửa mở. Robin chỉ vừa kịp thấy gương mặt nhọc nhằn của một phụ nữ chừng năm mươi tuổi thì một con Jack Russell xù xì nhảy vọt ra, gầm gừ, sủa hăng tiết rồi cắm răng vào mắt cá chân Strike. May thay cho Strike, nhưng xui thay cho con Jack Russell, bộ răng phập ngay ống thép chân giả. Con chó kêu ăng ẳng, Robin tranh thủ lúc nó còn sốc, bước ngay tới, chụp cổ nó nhấc lên. Tự dưng bị treo lủng lẳng, con chó ngớ cả ra, không dám ngọ nguậy nữa.
“Không được cắn,” Robin la.
Dường như nể nang Robin vì đã có gan nhấc bổng nó lên, con chó để cô giữ chặt hơn, quay một vòng trên không rồi cố liếm bàn tay cô.
“Xin lỗi,” người phụ nữ lên tiếng. “Chó của mẹ tôi. Phá như giặc. Nhưng mà nó khoái cô. Đúng lạ đời.”
Chị ta để tóc ngang vai, màu nâu, lộ ra chân tóc bạc. Cặp môi mỏng, hai bên khóe môi đã có nếp nhăn trễ xuống. Chị ta đứng dựa vào gậy chống, một bên cổ chân sưng vù, băng bó, bàn chân bọc trong giày xăng-đan, để lộ móng chân vàng ố.
Strike tự giới thiệu, rồi đưa bằng lái xe và danh thiếp cho Lorraine xem.
“Chị có phải là Lorraine MacNaughton không?”
“Đúng rồi,” chị ta ngập ngừng đáp. Mắt Lorraine khẽ liếc về phía Robin, cô mỉm cười hiền lành trên đầu con chó Jack Russell. “Anh là gì… anh nói gì kia?”
“Thám tử tư,” Strike đáp, “tôi muốn hỏi chị thông tin về Donald Laing. Theo danh bạ thì ông ta sống ở đây với chị chừng hai năm trước.”
Ừ phải chị ta chậm rãi đáp.
“Ông ta còn ở đây không?” Strike hỏi, mặc dù đã biết trước câu trả lời.
“Không.”
Strike nhìn về phía Robin.
“Chị có thể cho tôi và đồng nghiệp tôi đây vào nhà, hỏi vài câu không? Tụi tôi đang cố tìm ông Laing.”
Im lặng một lúc. Lorraine bặm môi, nhướng mày. Robin ẵm con Jack Russell, giờ đây đang hăng hái liếm ngón tay cô, hẳn là vì vẫn còn tàn tích của bánh ngọt Danish pastry. Gió khẽ luồn qua ống quần rách của Strike.
“Thôi được, vô nhà đi,” Lorraine nói, rồi chống nạng lùi lại nhường đường cho hai người.
Căn phòng luộm thuộm nồng nặc mùi khói thuốc lá cũ. Nhìn đâu cũng thấy những điểm nhấn kiểu trang trí của mấy bà già: tấm vỏ đan móc bọc hộp khăn giấy, gối tựa tua rua rẻ tiền, một hàng gấu bông mặc đồ màu mè sắp trên tủ chạn sáng bóng. Một bên tường treo tranh vẽ đứa bé mắt tròn xoe, mặc đồ chú hề. Strike không hình dung nổi Donald Laing sống ở đây, thật khác gì bò tót nhốt trong góc nhà.
Vào trong nhà, con chó Jack Russell lật đật bò xuống từ tay Robin, rồi nhìn Strike sủa tiếp.
“Thôi, im đi,” Lorraine làu bàu. Thả người xuống chiếc xô-pha nhung nâu đã bạc, chị ta dùng cả hai cánh tay nhấc cổ chân băng bó đặt lên ghế đầu bọc da, rồi với tay ra bên cạnh lấy bao thuốc Superkings, châm lửa.
“Bác sĩ dặn phải nhấc chân cao,” chị ta giải thích, vừa ngoe nguẩy điếu thuốc trên miệng, vừa nhặt cái gạt tàn thủy tinh đặt lên đùi. “Y tá quận tới đây mỗi ngày để thay băng. Ngồi xuống đi.”
“Chị bị sao vậy?” Robin hỏi, rón rén đi qua bàn nước ngồi xuống cạnh Lorraine trên chiếc xô-pha. Con Jack Russel ngay lập tức tót lên bên cạnh cô, ngừng sủa.
“Tôi bị dầu mỡ chiên khoai đổ lên người,” Lorraine nói. “Ở chỗ làm.”
“Trời đất,” Strike nói, hạ người xuống ghế tựa. “Chắc phải đau lắm.”
“Ừ, đau lắm. Họ nói tôi phải ngồi nhà ít nhất một tháng. Cũng may cấp cứu ngay gần đó.”
Hóa ra Lorraine làm trong căn-tin bệnh viện địa phương.
“Vậy Donnie đã làm gì?” Lorraine lẩm bẩm, phì phèo thuốc lá, sau khi đã kể hết vụ thương tích của mình. “Lại ăn cướp nữa hả?”
“Tại sao chị nói vậy?” Strike cẩn thận dò hỏi.
“Cướp đồ của tôi,” chị ta đáp.
Giờ đây Robin nhận ra vẻ cộc cằn bỗ bã của Lorraine chỉ là bình phong. Điếu thuốc dài trên tay run rẩy khi chị ta nói ra điều đó.
“Khi nào vậy?” Strike hỏi.
“Khi bỏ đi. Lấy hết nữ trang. Nhẫn cưới của mẹ tôi, vét sạch. Ấy là biết rõ cái nhẫn đó có ý nghĩa sao với tôi. Mẹ tôi chết chưa giáp năm nữa. Ờ, vậy đó, một ngày kia bỏ đi thẳng một mạch. Tôi gọi cảnh sát. Tôi tưởng thằng chả bị tai nạn. Rồi tôi phát hiện ví tiền trống trơn, trang sức mất hết.”
Lorraine vẫn chưa quên nỗi tủi hổ. Cặp má trũng sâu ửng đỏ khi chị ta kể lại.
Strike lần mò trong túi áo khoác.
“Tôi muốn chắc chắn là tìm đúng người. Chị thấy người này có quen không?”
Hắn đưa ra một trong những tấm hình mà mẹ vợ cũ của Laing đã cho hắn ở Melrose. To cao bệ vệ, mặc váy kiểu lễ phục hai màu xanh vàng, cặp mắt đen như mắt chồn, tóc hung đỏ cắt sát – trong hình Laing đang đứng bên ngoài phòng đăng ký kết hôn. Rhona bám chặt vào cánh tay hắn, người chỉ bằng một nửa, mặc áo cưới trông có vẻ là đồ si-đa, không hề vừa vặn.
Lorraine nhìn tấm hình một hồi thật lâu. Cuối cùng chị ta nói:
“Tôi nghĩ đúng rồi. Có thể lắm.”
“Chị không thể thấy trong hình này, nhưng anh ta có một hình xăm hoa hồng vàng lớn trên cánh tay trái,” Strike tả.
“Đúng rồi,” Lorraine nhọc nhằn đáp. “Đúng thằng chả.” Chị ta tiếp tục hút thuốc, nhìn chăm chăm vào bức hình. “Đã vợ con rồi sao?” Lorraine hỏi, giọng hơi run.
“Anh ta không nói với chị sao?” Robin hỏi.
“Không. Nói chưa vợ con gì ráo.”
“Chị gặp anh ta sao?” Robin hỏi.
“Gặp ngoài quán,” Lorraine nói. “Hồi gặp không giống vậy lắm.”
Chị ta trở người về phía tủ kệ đằng sau lưng, hờ hững nhổm đứng dậy.
“Để tôi giúp nhé?” Robin hỏi.
“Ngăn giữa. Có mấy tấm hình ở đó.”
Con chó Jack Russell lại ăng ẳng sủa khi Robin mở ngăn tủ đựng đầy khoen cài khăn ăn, tấm lót bình hoa đan móc, muỗng trà lưu niệm, tăm xỉa răng và mấy tấm hình rời rạc. Robin cố lấy thật nhiều hình, đem lại chỗ Lorraine.
“Hắn đó,” Lorraine nói, sau khi soạn một loạt hình, đa số chụp một bà cụ già mà Robin đoán là mẹ của Lorraine. Lorraine đưa thẳng tấm hình cho Strike.
Nếu tình cờ gặp Laing bây giờ hẳn Strike sẽ không nhận ra nổi. Tay cựu võ sĩ đấm bốc giờ đây phục phịch hẳn ra, nhất là gương mặt. Cổ đã lún sâu, da căng, nét mặt méo mó hẳn. Một cánh tay choàng qua vai Lorraine đang mỉm cười, vẫn thấy được hình xăm hoa hồng vàng, nhưng một phần đã bị che khuất dưới những mảng da tấy đỏ lan ra khắp cánh tay.
“Da của ông ta bị sao hả?”
“Viêm khớp vẩy nến,” Lorraine nói. “Nặng lắm. Vậy mới ở nhà ăn trợ cấp. Đâu làm ăn gì được.”
“Vậy sao?” Strike hỏi. “Trước đó ông ta làm gì?”
“Xuống đây làm quản lý cho một công ty xây dựng lớn,” chị ta trả lời, “nhưng rồi trở bệnh, không làm ăn gì được. Từng có công ty xây dựng riêng trên Melrose. Là giám đốc điều hành.”
“Thật sao?” Strike hỏi.
“Ừ, công ty gia đình,” Lorraine trả lời, tìm trong đám hình. “Thằng chả thừa kế của ông già. Hình nữa nè, đây.”
Trong hình hai người đang nắm tay nhau, có vẻ như chụp ở một quán bia vườn. Lorraine mỉm cười rạng rỡ, Laing mặt mày lạnh tanh, bộ mặt phục phịch khiến cặp mắt chỉ còn đường rãnh. Trông Laing rất giống kiểu bệnh nhân xài steroid. Mái tóc màu lông cáo vẫn thế, như Strike dường như không thể nhận ra gương mặt của võ sĩ quyền anh trẻ tuổi lực lưỡng ngày nào từng cắn mặt hắn.
“Hai người ở với nhau bao lâu?”
“Mười tháng, tôi gặp thằng chả ngay sau khi mẹ tôi mất. Bà thọ chín mươi hai tuổi – ngày trước sống ở đây với tôi. Tôi cũng hay qua lại đỡ cho bà Williams nhà kế bên; bà đó tám mươi bảy tuổi. Đãng trí. Con trai ở Mỹ. Donnie tốt với bả lắm. Giúp cắt cỏ, đi chợ này kia.”
Thằng khốn đúng là giỏi tính toán, Strike nghĩ thầm. Với một kẻ đau ốm, thất nghiệp, cháy túi như Laing lúc đó thì gặp được một phụ nữ trung niên cô đơn, không con cái, biết nấu nướng, có nhà riêng, lại vừa mới thừa kế tiền từ mẹ thì hẳn là trúng mánh đậm. Hẳn cũng đáng bỏ công giả vờ tử tế để cố chen vào nhà này. Khi cần, Laing cũng có thể tỏ ra khả ái.
“Hồi mới gặp thì cũng được lắm,” Lorraine rầu rĩ kể. “Lo cho tôi lắm. Mà có khỏe mạnh gì đâu. Xương khớp sưng hết. Phải chích thuốc này kia… Sau này thì hơi khó chịu, nhưng tôi cứ nghĩ là do sức khỏe thôi. Người đau ốm làm sao lúc nào cũng vui vẻ được, phải không? Không phải ai cũng như mẹ tôi. Bà tốt lắm, đau yếu nhưng lúc nào cũng mỉm cười rồi… rồi…”
“Để tôi lấy khăn giấy cho chị,” Robin nói, chầm chậm rướn người về phía cái hộp bọc khăn đan móc, cố không động đến con chó đang để đầu lên đùi cô.
“Chị có báo cảnh sát vụ mất nữ trang không?” Strike hỏi, sau khi Lorraine đã cầm khăn giấy chăm lia lịa giữa những hơi thuốc Superkings.
“Không,” chị ta dằn dỗi. “Để làm gì kia? Làm sao họ tìm được.”
Robin đoán rằng Lorraine không muốn cảnh sát chú ý tới cảnh nhục nhã của mình, cô hiểu vì sao.
“Ông ấy có bao giờ tỏ ra bạo lực với chị không?” Robin nhẹ nhàng hỏi.
Lorraine ngạc nhiên.
“Không. Có phải vì vậy mà hai người tới đây không? Thằng chả đánh ai sao?”
“Tụi tôi không biết,” Strike nói.
“Tôi không nghĩ thằng chả ra tay được với ai,” chị ta nói. “Không phải kiểu đàn ông đó. Tôi đã nói vậy với cảnh sát.”
“Xin lỗi chị,” Robin lên tiếng, tay vuốt đầu con chó đang ngái ngủ. “Tôi tưởng chị không đi trình vụ ăn cắp?”
“Chuyện sau đó kia,” Lorraine nói. “Chừng tháng sau khi chả đi rồi. Có người đột nhập vào nhà của bà William, đánh bả bất tỉnh rồi vét sạch đồ. Cảnh sát muốn biết Donnie khi đó ở đâu. Tôi nói, ‘Đi rồi, dọn ra rồi.’ Với lại, không có chuyện đó đâu, tôi nói vậy với cảnh sát. Lúc trước tốt với bả lắm. Chả không đời nào đi đánh bà già đâu.”
Hai người từng nắm tay nhau trong vườn bia. Laing từng giúp bà cụ cắt cỏ. Chị ta từ chối tin rằng Laing có thể làm điều quấy.
“Tôi đoán hẳn hàng xóm của chị không tả lại được thủ phạm với cảnh sát hả?” Strike hỏi.
Lorraine lắc đầu.
“Sau đó bà cụ không quay lại nữa. Chết trong viện dưỡng lão. Giờ bên Northfield có một hộ khác,” Lorraine kể. “Ba đứa con nít. Ồn ào lắm – vậy mà dám càm ràm con chó nhà tôi!”
Không còn khai thác được gì nữa. Lorraine không biết Laing sau đó đi đâu. Chị ta cũng không nhớ Laing có nhắc đến bất kỳ nơi nào ngoài Melrose và chưa bao giờ gặp bạn bè gì của hắn. Khi nhận ra Laing sẽ không bao giờ quay lại, Lorraine xóa số điện thoại trên máy. Chị ta đồng ý để hai người lấy hai tấm hình của Laing, nhưng ngoài ra không thể giúp được gì hơn.
Con chó Jack Russell phản đối ầm ĩ khi Robin nhấc nó ra khỏi chỗ nằm ấm áp. Trông nó chỉ chực gây sự với Strike khi hắn đứng dậy.
“Thôi đi Tigger, Lorraine bực bội nói, chật vật giữ con chó đang vùng vằng trên ghế xô-pha.
“Tụi tôi tự đi ra được, khỏi phiền chị tiễn,” Robin lớn giọng át tiếng chó sủa nhặng xị. “Cảm ơn chị rất nhiều!”
Hai người để Lorraine ngồi lại trong căn phòng khách đầy khói thuốc, lỉnh kỉnh đồ đạc, cổ chân băng bó đặt lên cao, có lẽ là còn buồn hơn và khó ở hơn sau khi có người đến thăm. Tiếng chó sủa như điên theo họ suốt dọc lối vườn.
“Tôi thấy ít ra mình cũng nên pha cho chị ta một tách trà hay sao đó,” Robin nói, cảm giác áy náy khi hai người vào lại chiếc Land Rover.
“Chị ta không biết mình may mắn thoát nạn ra sao đâu,” Strike nói huỵch toẹt. “Nghĩ tới bà già tội nghiệp ở nhà đó thử,” hắn chỉ tay về phía nhà Northfield, “bị đánh tơi tả chỉ vì vài đồng bạc cắc.”
“Anh nghĩ Laing là thủ phạm sao?”
“Còn ai vô đây nữa,” Strike nói khi Robin khởi động xe. “Hắn đã dò trước mục tiêu khi giả bộ giúp đỡ bà cụ, chứ còn gì nữa? Cô nghĩ thử coi, đau ốm thấp khớp nọ kia tới vậy mà vẫn đẩy được máy cắt cỏ rồi hành hung mấy bà già.”
Mệt và đói, mùi khói thuốc lá khiến đầu Robin nhức nhối. Cô gật gù, nói cô cũng thấy vậy. Đúng là một cuộc phỏng vấn thảm não, viễn cảnh lái xe hai tiếng rưỡi về nhà lúc này chẳng sáng sủa gì cả.
“Mình đi luôn được không?” Strike nói, nhìn đồng hồ. Tôi có nói với Elin tối nay sẽ ghé qua.”
“Không thành vấn đề,” Robin nói.
Vậy mà không hiểu sao – có lẽ là do cơn đau đầu, có lẽ là vì người đàn bà cô đơn đang ngồi trong nhà Summerfield gặm nhấm ký ức về những người thân đã bỏ mình ra đi – Robin chỉ muốn òa khóc lần nữa.