Nghiệp Ác

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

So grab your rose and ringside seat,

We’re back home at Conry’s barHãy cám lấy đóa hồng và tìm ghế ngồi xem,

Giờ đây ta đã về nhà trong quán Conry

Blue Öyster Cult,

Before the KissTrước nụ hôn

Một tấm khăn vải giăng sau mặt kính cửa hàng trên phố. Tấm khăn in hình vẽ những địa điểm nổi tiếng ở địa phương bằng mực đen, nhưng thứ khiến Strike chú ý là những đóa hồng vàng cách điệu, y hệt như hình xăm trên cánh tay bạo lực của Donald Laing mà hắn còn nhớ. Hắn dừng lại đọc mấy câu thơ ở giữa:

It’s oor air toon

It’s the best toon

That ever there be

Here’s tae Melrose

Gem o’ Scotland

The toon o’ the freeẤy là xứ quê ta này

Ấy là xứ tuyệt hay

Từ xưa đến nay

Ôi Melrose,

Bảo ngọc Scotland

Ấy là xứ tự do

Hắn đậu chiếc Mini ở bãi xe cạnh tu viện, nơi có cổng vòm đỏ thẫm in lên trời xanh nhạt. Xa xa, về phía đông nam là ba đỉnh của dãy Eildon Hill, như lúc nãy hắn đã thấy trên bản đồ, khiến đường chân trời càng thêm nổi bật và kịch tính. Sau khi nuốt bánh mì kẹp thịt muối mua ở hàng cà phê gần đó và ăn ở bàn đặt ngoài trời, thêm điếu thuốc và tách trà đậm thứ hai trong ngày, Strike bắt đầu thả bộ đi tìm khu phố Wynd, nơi có địa chỉ nhà riêng Laing đã khai khi nhập ngũ mười sáu năm trước. Hắn không chắc phải phát âm từ này ra sao. Là âm i như trong từ wind- ngọn gió, hay âm ai như trong wind – động tác lên dây đồng hồ?

Dưới nắng mai, thị trấn nhỏ trông có vẻ sung túc. Strike bước trên con phố dốc đứng tiến về quảng trường trung tâm, nơi có cây cột dựng giữa bồn hoa, trên đỉnh cột có tượng con ngựa thần. Một phiến đá tròn trên vỉa hè ghi tên La Mã cũ của thị trấn, Trimontium, hẳn là ý nói đến ba đỉnh đồi gần đó, Strike nghĩ thầm.

Dường như hắn đã đi khỏi phố Wynd mà không hay, vì theo như bản đồ trên điện thoại, con phố ấy rẽ xuống từ phố chính. Hắn quay lui lại, thấy một lối hẹp xuyên tường về bên tay phải, chỉ đủ cho một người đi bộ, dẫn ra khoảng sân trong hơi tối. Nhà cũ của Laing có cửa trước màu xanh lam sáng sủa, nằm trên một bậc tam cấp.

Strike gõ cửa, ngay lập tức có người ra mở. Một phụ nữ xinh xắn, tóc đen, quá trẻ để có thể là mẹ Laing. Khi Strike giải thích lý do, chị ta thỏ thẻ đáp, hắn thấy giọng ấy là khá quyến rũ.

“Bà Laing? Hơn mười năm ni có ở đây mô.”

Nhưng trước khi hắn kịp nhụt chí, chị ta nói thêm:

“Ở trên phố Dingleton đó.”

“Phố Dingleton? Có xa không?”

“Trên tê tề.” Chị ta chỉ ra sau lưng, về phía tay phải. “Tui nỏ biết số nhà, vô phép chú.”

“Không sao. Cảm ơn chị.”

Quay bước từ trong ngõ tăm tối ra quảng trường ngập nắng, hắn tự dưng nghĩ ra một chuyện. Đó là trừ những thứ tục tĩu mà tay lính trẻ đã lẩm bẩm vào tai hắn trên võ đài, hắn chưa từng nghe Donald Laing nói. Khi vẫn còn hoạt động ngầm phá án ma túy, Strike phải tránh không để bị bắt gặp ra vào Tổng Hành Dinh trong bộ dạng râu ria, thế nên phần tra hỏi Laing được giao cho sĩ quan khác. Sau đó, khi đã phá thành công chuyên án ma túy và cạo râu sạch sẽ, Strike ra tòa cung cấp bằng chứng chống lại Laing. Nhưng đến lúc Laing đứng dậy phủ nhận chuyện đã trói và tra tấn vợ thì Strike đã ngồi trên máy bay rời đảo. Khi ngang qua quảng trường Market Square, Strike tự hỏi liệu có phải chất giọng Borders là một lý do khiến người ta dễ thấy tin tưởng Donnie Laing, dễ tha thứ, dễ có cảm tình với gã hay không. Tay thám tử nhớ có đọc đâu đó rằng những mẩu quảng cáo dùng giọng Scotland thường tạo cảm giác người nói thật thà, trung thực.

Tửu quán duy nhất mà hắn thấy từ sáng giờ cách đó không xa, dọc theo một con phố trên đường ra phố Dingleton. Thị trấn Melrose có vẻ chuộng màu vàng: mặc dù tường màu trắng, cửa chính và cửa sổ của quán lại sơn vàng chanh và đen. Là dân xứ biển Cornwall, Strike thấy ngồ ngộ khi giữa thị trấn nằm sâu trong đất liền lại có tửu quán tên Ship Inn – Quán Con Tàu. Hắn bước xuống phố Dingleton, con phố chạy vòng vèo dưới một cây cầu, dốc đứng lên rồi biến khỏi tầm mắt.

Hai tiếng không xa chỉ có nghĩa tương đối, nhất là kể từ khi Strike bị mất một chân. Sau mười phút leo dốc, hắn bắt đầu ân hận, ước gì mình đã quay lại bãi xe tu viện lấy chiếc Mini. Hắn dừng lại hai lần, hỏi phụ nữ qua đường xem họ có biết bà Laing sống ở đâu không, cả hai đều lịch sự và thân thiện nhưng chẳng ai trả lời hắn được. Hắn nhọc nhằn lê bước, mồ hôi bắt đầu túa ra, qua một dãy nhà trệt sơn trắng, cho đến khi gặp một ông cụ đi ngược lại. Ông cụ đội mũ nồi xứ Scotland bằng vải tweed, dẫn theo một con chó Border collie hai màu trắng đen.

“Xin lỗi cụ,” Strike lên tiếng. “Cụ có biết nhà bà Laing ở đâu không? Cháu quên mất số nhà.”

“Bà Laing hả?” ông cụ dẫn chó đáp, nhìn Strike dưới cặp chân mày rậm đã muối tiêu. “À, hàng xóm nhà tui mà.”

Tạ ơn Chúa.

“Cách ba căn,” người đàn ông tiếp, đưa tay chỉ, “nhà có cái giếng đá kiểu đằng trước tề.”

“Cảm ơn cụ,” Strike đáp.

Khi đến trước nhà bà Laing hắn nhác thấy ông cụ vẫn còn đứng nguyên tại chỗ, dõi theo hắn, mặc con collie cố kéo ông chủ xuống dốc.

Nhà trệt của bà Laing trông sạch sẽ, tươm tất. Những tượng thú bằng đá xinh xắn kiểu Disney điểm xuyết trên bãi cỏ, lấp ló trong bồn hoa. Cửa trước nằm bên hông, khuất bóng. Mãi đến khi đưa tay với nắm đấm cửa, Strike mới chợt nghĩ rằng biết đâu chỉ trong vài giây, hắn sẽ đối mặt với Donald Laing.

Gần một phút sau khi hắn gõ cửa, vẫn không có gì xảy ra, trừ chuyện ông già dắt chó đã ngược bước trở lại, đứng ngay trước cổng nhà bà Laing, nhìn hắn chằm chằm không chút bối rối. Strike đoán hẳn ông cụ vừa ân hận đã khai địa chỉ nhà hàng xóm, giờ chắc đang xem chừng cái gã lạ mặt lớn xác kia có ý đồ xấu xa gì không, nhưng hắn đã nhầm.

“Bà nớ có nhà,” ông cụ gọi với, Strike vẫn đang phân vân xem có nên gõ tiếp không. “Nhưng mà bà lơ ngơ rồi té.”

“Bà sao kia?” Strike hỏi với lại, tay gõ lần thứ hai.

“Lơ ngơ. Lác ngác.”

Ông cụ dắt chó bước thêm vài bước trên lối đi về phía Strike.

“Lú lẫn đãng trí,” ông ta chuyển từ cho gã người Anh dễ nghe.

“À ra vậy,” Strike đáp.

Cánh cửa mở, một bà cụ nhỏ thó, nhăn nheo, mặt mày nhợt nhạt trong áo choàng tắm màu xanh đậm hiện ra. Bà ngước nhìn Strike, cái nhìn lơ đãng đầy hiềm khích. Dưới cằm bà đã lún phún mấy cọng lông cứng.

“Bà Laing?”

Bà không nói gì, chỉ đưa mắt nhìn hắn, cặp mắt đỏ ngầu, mệt mỏi, nhưng hắn biết khi còn trẻ hẳn cặp mắt ấy cũng xoay xoáy, tinh anh như mắt chồn.

“Bà Laing, tôi đến tìm anh Donald con bà.”

“Không,” bà ta đáp, bất ngờ giận dữ. “Không.”

Bà ta lùi lại, đóng sầm cửa.

“Khỉ thật,” Strike lẩm bẩm, rồi nghĩ đến Robin. Nếu có ở đây, cô đã lấy lòng bà ngon ơ. Hắn chậm rãi quay bước, tự hỏi không biết còn ai ở Melrose có thể giúp mình chăng – hắn đã tìm thấy những người tên Laing khác trên trang 192.com – rồi đột nhiên hắn đối mặt với ông cụ dắt chó. Ông cụ đã tiến tới chỗ hắn, trông vừa phấn khởi hồ hởi vừa dè dặt.

“Anh là tay thám tử đó,” ông cụ nói. “Anh là cái tay thám tử đã cho con bà nớ đi tù.”

Strike thấy kinh ngạc. Hắn không thể tưởng tượng ra một ông cụ người Scotland không quen biết lại có thể nhận ra hắn. Cái thứ gọi là tiếng tăm của hắn khá khiêm tốn, không phải kiểu ai cũng biết mặt. Hắn đi khắp đường sá London hàng ngày mà chẳng ai thèm quan tâm, và trừ khi gặp trực tiếp hay nói chuyện điều tra nọ kia, thì người ta rất hiếm khi nhìn hắn mà liên tưởng đến những bài báo về chiến công phá án.

“À, đúng rứa rồi,” ông cụ tiếp, càng phấn khích hơn. “Vợ chồng tui là bạn của nhà Margaret Bunyan.” Thấy hắn vẫn ngơ ngác, ông cụ diễn giải: “Mẹ của Rhona.”

Phải mắt vài giây trí nhớ siêu phàm của Strike mới xử lý được thông tin rằng Rhona là tên của vợ của Laing, thiếu phụ mà hắn đã phát hiện trong tư thế bị cột vào giường với tấm trải đẫm máu phủ lên người.

“Khi Margaret thấy anh lên báo, bà nói với tụi tui, ‘Anh nớ là người đã cứu Rhona nhà tui!’ Anh chừ ăn nên làm ra quá hỉ? Nín đi, Wullie!” ông cụ mắng con chó collie xớn xác, vẫn đang kéo dây xích trở ngược ra đường. “Ờ, Margaret dõi theo mọi việc anh làm, biết hết mấy chuyện trên báo. Anh tìm ra ai giết cô người mẫu – rồi ông nhà văn nớ nữa! Margaret không bao giờ quên việc anh đã làm cho con gái mình, không bao giờ.”

Strike lẩm bẩm không thành tiếng, hi vọng là mình đã tỏ ra lễ độ phải phép trước tấm thịnh tình của Margaret.

“Anh tìm gặp bà Laing làm chi? Đừng nói thằng Donnie làm chi quấy nữa hở?”

“Cháu đang đi tìm anh ta,” Strike lảng tránh. “Cụ biết liệu anh ta có về lại Melrose không?”

“Không, tui không nghĩ rứa. Hắn về thăm bà mẹ mấy năm trước, nhưng tui chẳng biết từ nớ tới chừ có về nữa không. Chỗ ni nhỏ lắm: Donnie Laing mà về thì ai cũng biết chớ?”

“Cụ nghĩ bà… Bunyan, lúc nãy cụ nói thế phải không? Liệu bà ấy có tin gì…?”

“Bà nớ mong gặp anh lắm,” ông cụ phấn khởi. “Thôi đi, Wullie,” ông cụ tiếp tục mắng con Border collie đang rên ư ử, có kéo ông cụ trở ra ngõ. “Để tui gọi bà nớ, hỉ? Bà nớ ở dưới Darnick. Làng ngay đây. Để tui gọi hỉ?”

“Dạ, được vậy thì hay quá.”

Thế là Strike đi theo ông cụ về nhà bên, ngồi đợi trong phòng khách nhỏ sạch sẽ khi ông cụ hồ hởi nói chuyện điện thoại trong tiếng chó rên ư ử càng lúc càng cáu tiết.

“Bà qua đây chừ,” ông cụ nói, một tay bịt ống nghe. “Anh có muốn gặp bà ở đây không? Anh cứ tự nhiên. Bà nhà tui sẽ pha trà…”

“Cảm ơn cụ, nhưng cháu còn vài việc phải làm,” Strike nói dối, hắn không nghĩ một cuộc phỏng vấn trước mặt vị nhân chứng nhiều chuyện này lại là ý hay. “Phiền cụ hỏi xem liệu bà ấy có thể ghé ăn trưa ở quán Ship Inn được không? Chừng một giờ nữa?”

Con chó collie khăng khăng đòi đi dạo khiến tình thế xoay chuyển theo đúng ý Strike. Hai người đàn ông rời khỏi nhà, cùng bước xuống con dốc một lúc, con collie cứ kéo dây suốt khiến Strike phải đi quá nhanh trên dốc đứng. Hắn thấy nhẹ nhõm khi chào tạm biệt ông cụ người quen tốt bụng ở quảng trường Market Square. Vẫy tay hồ hởi, ông cụ đi về phía sông Tweed. Strike, giờ đây hơi cà nhắc, đi xuống phố chính, tà tà giết thời gian cho đến khi trở lại quán.

Ở cuối đường, đập vào mắt hắn là hai màu vàng chanh và đen chói lói, khiến Strike nhận ra tại sao quán Ship Inn lại có màu như thế. Một lần nữa hắn thấy đóa hồng vàng trên bảng hiệu long trọng của CÂU LẠC BỘ RUGBY MELROSE. Strike dừng lại, tay đút túi, ngó nghiêng qua bức tường thấp, nhìn bãi cỏ xanh mượt như nhung với cây cối bao quanh, cột khung thành màu vàng lấp lánh trong nắng, khán đài về bên phải và xa xa là dãy đồi uốn lượn nhấp nhô. Sân bóng được giữ gìn cẩn thận như điện thờ, thật là một cơ sở vật chất đáng nể với một trấn nhỏ như vậy.

Đưa mắt về phía bãi cỏ nhung, Strike chợt nhớ đến Whittaker, hôi hám bốc mùi và phì phèo thuốc lá trong góc nhà, Leda nằm cạnh, há hốc miệng nghe kể chuyện cuộc đời khó nhọc của gã – ngây thơ và háo hức như chim non chờ mớm mồi. Đến giờ Strike mới nhận ra sức mê hoặc của Whittaker với mẹ hắn. Với Leda khi đó, trường tư Gordonstoun chẳng khác gì nhà tù Alcatraz: thật kinh khủng làm sao, thi sĩ gầy gò của bà đã từng bị ép dầm mình trong mùa đông khắc nghiệt xứ Scotland, chịu đủ món đánh đấm trong bùn đất, trong mưa gió.

“Không phải rugby chứ. Ôi tội nghiệp cưng… cưng phải chơi rugby sao!”

Và khi Strike mười-bảy-tuổi (môi vẫn còn sưng vù từ câu lạc bộ đấm bốc) khẽ phì cười, cắm mặt vào bài tập về nhà, Whittaker lảo đảo đứng dậy, la lối om sòm bằng thứ giọng London giả tạo:

“Mày cười cái mịa gì đó, thằng đầu đất?”

Whittaker không thể chịu được khi bị chế nhạo. Gã luôn cắn, luôn thèm muốn được nịnh hót; khi không được nịnh, gã có thể chấp nhận sự sợ hãi hay căm ghét của kẻ khác như bằng chứng quyền lực của mình. Nhưng kẻ nào cười nhạo gã hẳn đã tự cho mình đứng trên gã, và vì thế, khiến gã thấy không thể chịu nổi.

“Thích bỏ mịa ra, đúng không, đúng không nhãi ranh ngu ngốc? Cứ nghĩ mày là sĩ quan mịa nó rồi, phải không, coi dân rugby rúc biếc không ra gì. Bảo thằng cha lắm của gởi nó đến Gordonstoun cho khuất mắt!” Whittaker hét vào mặt Leda.

“Bình tĩnh nào cưng,” bà đáp, rồi kiên quyết hơn: “Không được, Corm!”

Strike đã đứng dậy, sẵn sàng muốn tông vào Whittaker. Đó là lần hắn xém chút nữa xuống tay, nhưng mẹ hắn đã lảo đảo tiến đến giữa hai người, đặt hai bàn tay gầy gò đầy nhẫn lên hai lồng ngực đang sôi sùng sục.

Strike nháy mắt. Sân bóng ngập nắng, nơi chốn của đam mê thể thao lành mạnh hiện ra trước mắt hắn. Hắn ngửi được mùi lá cây, mùi cỏ và cả mùi cao su ấm từ con đường bên cạnh. Chầm chậm, hắn quay bước về quán Ship Inn, thèm một ly, nhưng tiềm thức phản trắc vẫn chưa chịu buông tha.

Quang cảnh sân bóng mượt mà ấy đã khơi gợi lên một ký ức khác: Noel Brockbank mắt đen, tóc đen, chạy xồng xộc về phía hắn với vỏ chai bia vỡ trong tay. Brockbank to lớn, mạnh mẽ và nhanh nhẹn: một tiền vệ cánh. Strike còn nhớ tay hắn đưa lên cạnh vỏ chai vỡ, nắm lại ngay khi vỏ chai vừa chạm cổ hắn…

Một ca vỡ nền sọ, theo như chẩn đoán. Chảy máu từ trong tai. Chấn thương não trầm trọng.

“Khốn nạn, khốn, khốn thật,” Strike lầm rầm trong miệng, chân vẫn bước.

Laing, mày đến đây là vì hắn. Laing.

Hắn đi dưới hình chiến thuyền bằng kim loại, với những cánh buồm vàng rực treo trên cửa quán Ship Inn. Bên trong có bảng ghi QUÁN RIÊNG CỦA ĐỘI MELROSE.

Ngay lập tức, hắn thấy thật dễ chịu: màu sắc ấm áp, mặt kính và đồng sáng loáng; thảm sàn với hoa văn nhàn nhạt các sắc xanh, đỏ, nâu: những bức tường màu quả đào ấm nóng và mặt đá trần. Nhìn đâu cũng thấy tinh thần thể thao mạnh mẽ của Melrose: bảng đen ghi thông tin các trận sắp tới, vài màn hình plasma cỡ khủng và, trên bồn tiểu (đã mấy tiếng rồi hắn mới đi tè) còn có cả một ti-vi nhỏ gắn vào tường, để khách không phải nhỡ pha ghi bàn nào khi đang giải quyết nỗi buồn.

Nghĩ đến chuyến trở về Edinburgh trong xe của Hardacre, hắn chỉ mua một nửa vại John Smith rồi ngồi xuống ghế xô-pha bọc da đối diện với quầy bar, nghiên cứu tờ thực đơn ép plastic, hi vọng Margaret Bunyan sẽ đến đúng giờ vì hắn chợt thấy đói bụng quá xá.

Chỉ năm phút sau, bà đã đến. Mặc dù hắn gần như không nhớ mặt con gái bà Bunyan, lại chưa bao giờ gặp bà, vẻ hồi hộp xen lẫn phấn khích khi bà dừng lại trên thảm chùi chân, chằm chằm nhìn hắn khiến hắn nhận ra ngay.

Strike đứng dậy, bà lật đật tiến lại, hai tay nắm chặt dây đeo xắc tay lớn màu đen.

“Đúng là anh rồi,” bà nói không ra hơi.

Bà Bunyan chừng sáu mươi tuổi, nhỏ con, trông yếu ớt, mang kính gọng thép, gương mặt căng thẳng dưới bộ tóc sáng màu uốn kỹ.

Strike đưa bàn tay lớn ra, bắt tay, tay bà hơi run, lạnh, xương mảnh dẻ.

“Cha của Rhona bữa ni đi Hawick, không tới được, tui có gọi rồi, ông nói là nhắn lại với anh tụi tui không bao giờ quên việc anh làm cho Rhona,” bà nói một hơi. Bà ngồi xuống cạnh Strike trên ghế xô-pha, tiếp tục quan sát hắn, vừa thán phục vừa dè dặt. “Tụi tui không bao giờ quên. Tụi tui đọc tin anh trên báo. Tụi tui rất buồn khi biết anh bị mất chưn. Việc anh làm cho Rhona! Việc anh làm…”

Mắt bà đột nhiên áng ậng nước.

“… tụi tui rất chi là…”

“Cháu rất mừng là khi đó cháu đã có thể…”

Tìm ra con gái bà trần truồng vấy máu trên giường? Nói chuyện với người thân của nạn nhân luôn là một trong những phần việc khó khăn nhất.

“… giúp cô ấy.”

Bà Bunyan rút khăn mùi soa từ xắc tay, sụt sùi hỉ mũi. Hắn đoán được bà thuộc thế hệ phụ nữ không bao giờ đi quán một mình và chắc chắn là sẽ không chủ động ra quầy bar nếu có đàn ông đỡ việc ấy cho mình.

“Để cháu mua gì bác uống.”

“Cho tui một ly nước cam,” bà nói không ra hơi, tay chặm mắt.

“Và mua gì ăn nữa nhé,” Strike nài nỉ, muốn gọi món cá tuyết tẩm bột rán và khoai tây cho mình.

Khi hắn đã gọi món xong và quay trở lại, bà Bunyan hỏi hắn đang làm gì ở Melrose, nỗi lo của bà ngay lập tức trở nên rõ ràng.

“Anh đừng nói nó đã trở lại chứ? Thằng Donnie? Nó về đây rồi hả?”

“Cháu không nghe nói vậy,” Strike đáp. “Cháu không biết anh ta đang ở đâu.”

“Anh nghĩ nó có liên can chi tới…?”

Bà hạ giọng, chỉ còn thì thầm.

“Tụi tui đọc báo… tụi tui biết có người gởi anh một cái… một cái…”

“Đúng vậy,” Strike nói. “Cháu không biết liệu anh ta có dính líu gì không, nhưng cháu muốn tìm anh ta. Nghe đâu từ ngày ra tù có quay lại đây thăm mẹ.”

“À, chừng bốn năm nằm trước tề, chắc là kỳ nớ,” Margaret Bunyan đáp. “Nó về trước nhà, đẩy cửa xông vô. Bà mẹ chừ bị Alzheimer. Bà nớ không cản nó được, nhưng hàng xóm có gọi cho mấy thằng anh, cả đám tới, tống cổ nó ra.”

“Thật vậy sao?”

“Donnie là con út. Hắn có bốn anh trai. Toàn thứ dữ dằn,” bà Bunyan kể, “đứa nào cũng vậy. Jamie ở Selkirk – chạy tới liền, tống cổ Donnie ra khỏi nhà mẹ. Người ta kể Jamie nện nó tơi tả.”

Bà run rẩy nhấp một ngụm nước cam rồi tiếp:

“Tụi tui nghe kể hết. Brian bạn tui, người anh mới gặp đó, chính ông nớ thấy anh em nhà nó đánh nhau ngoài đường. Bốn đứa đánh một, la hét om sòm. Có người kêu cảnh sát. Jamie bị cảnh cáo. Nhưng thằng nớ mà sợ chi,” bà Bunyan kể. “Mấy thằng anh không muốn nó lại gần mình, hay bà mẹ. Cả đám đuổi nó mất dạng.

“Tui sợ lắm,” bà kể tiếp. “Sợ cho Rhona. Nó đã nói sẽ tìm Rhona khi ra tù.”

“Vậy anh ta có đi tìm không?” Strike hỏi.

“À có,” Margaret Bunyan ủ rũ đáp. “Tụi tui biết là nó sẽ đi tìm. Rhona dọn xuống Glasgow, tìm được việc chỗ đại lý du lịch. Nó vẫn tìm ra. Sáu tháng ròng rã Rhona cứ sợ nó tới tìm, rồi một hôm, nó tới thiệtTới ngay nhà Rhona buổi tối, nhưng nó bị đau. Không như xưa nữa.”

“Đau?” Strike nhanh chóng hỏi lại.

“Tui không nhớ là bị chi, hình như thấp khớp chi đó. Hình như rứa, rồi Rhona nói là nó chừ mập lắm. Tối hôm đó hắn tới nhà Rhona, tìm được nhà đàng hoàng, nhưng vạn lạy ơn trên,” bà Bunyan tha thiết, “chồng chưa cưới của Rhona có nhà. Cậu nớ tên Ben,” rồi bà tiếp, phấn khích điệu đà, gò má nhợt nhạt thoáng ửng lên, “cậu nớ là cảnh sát.”

Bà nói như thể Strike hẳn sẽ rất vui khi nghe được, như thể hắn và Ben là anh em đồng môn thân thiết.

“Hai cô cậu cưới rồi,” bà Bunyan kê’ tiếp. “Không con cái chi, bởi vì… à mà anh biết vì răng rồi đó…”

Và không hề báo trước, một dòng nước mắt ứa ra, chảy dài trên gương mặt bà Bunyan sau mắt kính. Nỗi khiếp đảm mười năm trước bỗng dưng như mới nguyên, như thể một đống lòng mề vừa được vứt ra trên bàn ngay trước mặt họ.

“… Laing đâm dao sâu vô trong người Rhona,” bà Bunyan thầm thì.

Bà thổ lộ với Strike như thể hắn là bác sĩ hay cha xứ, kể với hắn thứ bí mật đeo đẳng nặng nề, thứ bí mật mà bà không thể chia sẻ với bạn bè: hắn đã biết trước. Rồi bà lại rút khăn mùi soa từ xắc đen vuông vức ra, Strike tự dưng nhớ lại mảng máu loang trên tấm trải giường, chỗ da trầy xước trên cổ tay Rhona khi chị ta cố vùng vẫy trốn thoát. Tạ ơn Chúa là bà không thể thấy được những thứ trong đầu hắn.

“Nó đâm con dao vô bên trong… người ta cố… anh biết đó… cố mà sửa…”

Bà Bunyan hít một hơi sâu, rùng mình vừa lúc hai đĩa thức ăn được đem ra.

“Nhưng mà Rhona với Ben giờ hay đi du lịch,” bà luyên thuyên nói thầm, liên tục chặm khăn lên hai gò má lõm, nhấc cặp kính để chặm mắt. “Hai cô cậu có nuôi… nuôi chó… chó Bẹc-giê.”

Mặc dù rất đói, Strike không ăn gì nổi ngay sau khi vừa nói chuyện tai ương của Rhona Laing.

“Cô ấy với Laing có một đứa con, đúng không?” hắn hỏi, nhớ lại tiếng khóc yếu ớt của đứa bé nằm cạnh người mẹ khát khô, đẫm máu. “Đứa nhỏ giờ cũng phải mười tuổi rồi?”

“Thẳng nhỏ chết rồi,” bà thì thầm, nước mắt nhỏ giọt dưới cằm. “Đột tử. Trước nó vẫn hay đau yếu, tội nghiệp. Hai ngày sau khi họ bắt Donnie thì chết. Rồi nó… Donnie… nó gọi điện cho Rhona từ trong tù, nói là nó biết Rhona đã giết… giết… đứa nhỏ và khi ra tù nó sẽ giết Rhona…”

Strike đặt bàn tay tổ chảng lên đôi vai người đàn bà đang nức nở một lúc, rồi nhấc người dậy, tiến đến chỗ cô nhân viên quầy bar, nãy giờ vẫn há hốc miệng nhìn hai người. Brandy có lẽ sẽ quá mạnh với sinh vật yếu ớt như chim sẻ đang ngồi cạnh hắn. Mợ Joan của Strike, chỉ lớn tuổi hơn bà Bunyan một chút, vẫn xem rượu port là thuốc an thần. Hắn gọi một ly port rồi mang đến cho bà.

“Đây. Bác uống cái này đi.”

Đáp lại tấm thịnh tình của hắn là một màn nước mắt nữa, nhưng sau một hồi chặm chiếc khăn ướt nhẹp, bà run rẩy nói, “Anh thật là tử tế.” Bà nhấp rượu, khẽ rùng mình thở hắt ra, chớp mắt nhìn hắn, hàng mi hồng hồng như mi mắt heo con.

“Bác có biết Laing đi đâu sau khi đến chỗ Rhona không?”

“Có,” bà thì thâm. “Ben có cho người dò la ở sở làm, qua bên cục quản chế. Nghe đâu nó chuyển tới Gateshead, nhưng tui chẳng biết chừ còn ở đó không.”

Gateshead. Strike nhớ người tên Donald Laing hắn đã tìm thấy trên mạng. Gã đã rời Gateshead đến Corby chăng? Hay đây là hai người khác hoàn toàn?

“Dù răng,” bà Bunyan tiếp, “sau đó nó không dám quấy rầy Rhona và Ben nữa.”

“Cháu cá là không dám đâu,” Strike nói, cầm dao nĩa lên. “Nhà cảnh sát, còn nuôi chó bẹc-giê nữa? Anh ta đâu có dại.”

Nghe lời hắn, bà có vẻ được an ủi, mạnh dạn hơn. Rồi với nụ cười đẫm lệ rụt rè, bà bắt đầu gẩy gót món nui macaroni sốt phô mai.

“Hai người lập gia đình sớm,” Strike bình luận, hắn muốn nghe thêm bất kỳ điều gì về Laing, bất kỳ điều gì có thể là manh mối về hành tung, thói quen của gã.

Bà gật đầu, nuốt rồi nói:

“Quá sớm. Rhona bắt đầu đi lại với hắn khi mới mười lăm tuổi, tụi tui không ưng xí mô. Tụi tui có nghe nhiều chuyện về Donnie Laing. Có một đứa con gái kể là bị nó ép ngay trong sàn nhảy ở Hội Nông Dân Trẻ. Nhưng chuyện không tới đâu; cảnh sát nói không đủ bằng chứng. Tụi tui cố can ngăn Rhona, nói thằng nớ rắc rối lắm,” bà thở dài, “nhưng nói rứa chỉ khiến con bé thêm quyết tâm. Con Rhona nhà tui bướng lắm.”

“Lúc đó anh ta đã bị tố cáo hiếp dâm rồi sao?” Strike hỏi. Món cá và khoai của hắn rất ngon. Quán đông dần lên, hắn thấy nhẹ nhõm: cô nhân viên quầy bar không thể đứng đó mà hóng mãi được.

“Thiệt rứa. Nhà nớ dữ dằn lắm.” Bà Bunyan nói, vẻ chanh chảnh thị dân mà hắn đã quá quen thuộc từ thời thơ ấu. “Mấy anh em nhà nớ, lúc mô cũng đánh lộn, cũng dính vô cảnh sát, nhưng Donnie là đứa hư nhứt. Tới anh ruột còn ghét. Tui nghĩ mẹ nó cũng không ưa chi nó, nói thiệt là rứa. Nghe đồn là,” bà tự tin hẳn, “nó không phải con của ông nớ. Cha mẹ nhà nớ suốt ngày gây sự, lúc có bầu Donnie thì đang ly thân. Người ta nói bà nớ ăn nằm với một tay cảnh sát quanh đó. Tui không biết có chuyện rứa không. Tay cảnh sát dọn đi, ông Laing dọn về lại nhưng ông Laing không ưa chi Donnie, tui biết. Không ưa xí mô. Họ nói là vì ông nớ biết Donnie không phải con mình. Donnie hư nhứt nhà. To con lắm. Vô đội thiếu niên bảy người…”

“Bảy người gì kia?”

“Đội rugby bảy người,” bà nói, và ngay cả quý bà nhỏ nhắn, hiền lành này cũng ngạc nhiên là Strike không hiểu ngay rằng, với Melrose, rugby gần với tôn giáo hơn là thể thao. “Nhưng họ đuổi nó ra. Vô kỷ luật. Có đứa cày xới bãi Greenyards ngay tuần sau khi họ đuổi nó ra. Tức là cái sân bóng đó,” bà thêm vào, đáp lại vẻ ngơ ngác khó hiểu của gã người Anh.

Rượu port khiến bà Bunyan nói nhiều hẳn. Bà chính thức mở đài.

“Sau nớ nó chơi đấm bốc. Nó ăn nói khéo lắm, thiệt tình. Khi Rhona mới cặp kè với nó – Rhona mười lăm tuổi còn nó mười bảy – có người kể với tui thực ra nó không phải là người xấu. Thiệt tình,” bà lập lại, gật đầu trước vẻ mặt ngờ vực của Strike. “Nếu không biết rõ nó thì rất dễ có cảm tình. Nếu muốn nó có thể ra bộ dễ thương lắm, Donnie Laing mà.

“Nhưng anh cứ hỏi Walter Gilchrist coi nó dễ thương ra răng. Walter đuổi việc nó ở nông trại – tại khi mô cũng đi trễ – rứa rồi mấy hôm sau có đứa châm lửa đốt chuồng bò. Người ta không cách chi chứng minh Donnie đốt. Cũng không chứng minh được chính nó phá sân bóng, nhưng tui biết quá còn chi.

“Rhona không chịu nghe lời. Con bé cứ tưởng là hiểu nó. Cứ nói nó bị người ta hiểu lầm, nọ kia kia nọ. Còn nói tụi tui răng mà thành kiến, đầu óc hẹp hòi. Nó muốn đi lính. Đi cho khuất mắt, tui nhủ. Tui mong là Rhona sẽ quên nó nếu nó đi thiệt.

“Rồi nó quay lại. Làm Rhona có bầu nhưng để sảy. Rhona giận tui vì tui nói…”

Bà Bunyan không muốn kể tiếp đã nói gì, nhưng Strike có thể đoán được.

“… rồi Rhona không thèm nói chuyện với tui nữa, cứ rứa mà cưới nó khi nó về phép lần sau. Vợ chồng tui không được mời dự,” bà kể tiếp. “Rồi hai người đi đảo Cyprus. Nhưng tui biết chính nó giết con mèo nhà tui.”

“Cái gì kia?” Strike hỏi, giật mình.

“Tui biết là nó mà. Tụi tui nói với Rhona là con bé đang mắc sai lầm tệ hại, trước khi Rhona cưới nó. Đêm đó tụi tui không thấy Purdy đâu cả. Ngày hôm sau Purdy nằm trên bãi cỏ, chết queo. Bác sĩ thú y nói Purdy bị bóp cổ.”

Trên màn hình plasma sau lưng bà Bunyan, Dimitar Berbatov mặc đồ đỏ thắm đang ăn mừng bàn thắng vào lưới Fullham. Không khí đầy giọng Border. Ly tách cụng lanh canh, dao nĩa va lách cách trong khi bạn đồng hành của Strike tiếp tục kể chuyện chết chóc phanh thây.

“Tui biết nó làm chớ, tui biết hắn giết Purdy,” bà sốt sắng. “Cứ nhìn những việc nó làm với Rhona và đứa nhỏ. Thằng nớ ác lắm.”

Tay bà loay hoay mở khóa cái xắc, rút ra một xấp hình nhỏ.

“Ông nhà tui cứ nói, ‘Giữ làm chi rứa? Đốt hết đi.’ Nhưng tui hay nghĩ có lúc mình cần hình của nó. Đây,” bà nói, đặt xấp hình vào tay Strike đang đón. “Của anh hết, anh cứ giữ. Gateshead. Nó chuyển xuống nớ.”

Một lúc sau, khi bà Bunyan đã ra về – lại đầm đìa nước mắt, lại rối rít cảm ơn, Strike trả tiền rồi đi bộ ra Millers of Melrose, một hàng thịt gia truyền mà hắn đã để ý thấy khi nhởn nhơ đi quanh thị trấn. Ở đó hắn tự thưởng cho mình vài cái bánh nướng nhân thịt nai mà hắn đoán hẳn là ngon hơn rất nhiều so với bất kỳ món gì mua ở nhà ga trước khi lên tàu đêm về London.

Quay lại bãi xe qua một con phố ngắn, nơi có hoa hồng vàng nở rộ, Strike lại nghĩ đến hình xăm trên cánh tay bạo lực đó.

Nhiều năm trước, thị trấn đáng yêu này, bao quanh là nông trại, xa xa là ba đỉnh của dãy Eildon Hill, đã từng có một ý nghĩa nào đó với Donnie Laing. Vậy mà Laing không hề là dân lao động chân chất, không hề có tinh thần đồng đội, không hề được coi trọng ở một nơi người ta luôn tự hào về tính kỷ luật và trung thực. Melrose đã chối bỏ kẻ đốt chuồng bò, kẻ bóp cổ mèo, kẻ phá sân bóng rugby, vậy là Laing tìm nơi nương tựa ở chỗ mà lắm kẻ hoặc tìm thấy sự cứu rỗi, hoặc nhận được hình phạt không thể tránh khỏi: Quân đội Anh quốc. Rồi sa chân tù tội, rồi khi nhà tù quẳng ra gã đã tìm về quê nhưng không ai muốn thấy mặt gã nữa.

Phải chăng Donald Laing đã được chào đón nồng hậu hơn ở Gateshead? Phải chăng từ đó gã đã dọn về Corby? Hay, Strike tự nhủ, khi hắn gập người chui vào chiếc Mini của Hardacre, rằng những nơi ấy chỉ là chốn dừng chân tạm thời, trên đường tìm đến London và Strike?

òn nhìn cái chân. Giờ hắn để ý thấy bên dưới có một tờ giấy đánh máy. Vốn được đào tạo nghiệp vụ điều tra trong quân đội Anh quốc, Strike cố kìm ham muốn kéo tờ giấy ra đọc; hắn không thể can thiệp vào bằng chứng pháp y. Thay vì đó, hắn loạ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.