In the presence of another world.Trong sự hiện diện của một thế giới khác.
Blue Öyster Cult,
In the Presence of Another WorldTrong sự hiện diện của một thế giới khác.
Sáng thứ Bảy, Robin và mẹ lái chiếc Land Rover cà tàng từ thị trấn Masham quê nhà đến Harrogate nơi có hiệu may đang sửa áo cưới cho cô. Thiết kế áo phải sửa lại vì ban đầu định là đám cưới tháng Giêng, giờ thành tháng Bảy.
“Cô lại sụt ký nữa rồi,” bà thợ may già nói, tay cài ghim vào thân sau phần thân áo. “Đừng gầy nữa nha. Áo này tròn trịa một chút mặc mới đẹp.”
Robin đã chọn vải và kiểu áo hơn một năm trước, hao hao một mẫu Elie Saab mà ba mẹ cô sẽ không tài nào mua nổi. Sáu tháng nữa ông bà còn phải chịu một nửa chi phí đám cưới anh Stephen. Ngay cả kiểu luộc lại rẻ tiền này cũng là quá tầm tay với mức lương Strike trả cho cô.
Ánh sáng trong phòng thử đó rất tôn dáng, nhưng trong tấm gương lồng khung mạ vàng, Robin trông quá xanh xao, đôi mắt sâu mệt mỏi. Cô thấy vụ sửa thành áo hở vai cúp ngực cứ khó chịu sao đó. Cô thích thiết kế ban đầu một phần cũng vì chi tiết tay dài. Chắc là, cô nghĩ thầm, mình chỉ thấy chán vì đã chờ mặc áo quá lâu.
Phòng thử đồ có mùi thảm mới và nước đánh bóng. Trong khi bà Linda mẹ Robin nhìn bà thợ may cài ghim, gấp rồi kéo từng mét vải chiffon thì Robin rầu rĩ nhìn mình trong gương rồi đổi hướng nhìn giá bày vương miện và hoa giả ở góc phòng.
“À nè, mình đã định làm đầu kiểu gì chưa?” bà thợ may có thói quen dùng ngôi thứ nhất số nhiều như mấy cô y tá. “Hồi tính làm đám cưới mùa đông, mình định đội vương miện phải không? Tôi nghĩ hay thử đội hoa với áo hở vai xem sao.”
“Đội hoa nghe hay đó.” Linda đồng ý từ trong góc phòng.
Hai mẹ con rất giống nhau. Mặc dù không còn mảnh mai như xưa và mớ tóc vàng hung đỏ bới sơ sài trên đầu giờ đây đã lấm tấm sợi bạc, đôi mắt màu xanh xám của Linda y hệt mắt cô con gái. Đôi mắt đó giờ đây nhìn đứa con thứ hai, vừa lo lắng vừa tinh ý – một cái nhìn đã trở nên quen thuộc đến là buồn cười với Strike.
Robin thử một loạt các thể loại vòng hoa đội đầu, chẳng ưng ý cái nào cả.
“Hay cứ để con đội cái vương miện như cũ,” cô nói.
“Hay làm hoa tươi?” Linda gợi ý.
“Cũng được,” Robin đáp, tự nhiên chỉ muốn tránh xa mùi thảm sàn và bộ dạng nhợt nhạt tù túng của mình trong gương. “Hay mình qua hiệu hoa xem họ có gì hay không.”
Robin mừng thầm khi được ở một mình trong phòng thay đồ vài phút. Khi cởi áo cưới ra, mặc quần jeans và áo len vào, cô cố phân tích tâm trạng tồi tệ của mình. Mặc dù vẫn tiếc vì không được đi gặp Wardle, cô cũng đã mong về nhà, để mà cách xa người đàn ông mặc đồ đen không rõ mặt đã đưa cái chân cho mình vài trăm dặm.
Vậy mà cô chẳng thấy nhẹ nhõm gì cả. Cô đã cãi nhau với Matthew một lần nữa trên chuyến tàu lên phía bắc. Ngay cả ở đây, trong phòng thay đồ trên phố James, những lo âu chồng chất cứ ám ảnh cô: văn phòng ngày càng ít khách, chuyện gì sẽ xảy ra nếu Strike không thể thuê cô được nữa. Mặc đồ xong, cô kiểm tra điện thoại. Không có tin nhắn của Strike.
Cô chỉ trả lời nhát gừng giữa những chậu hoa mimosa và lily mười lăm phút sau đó. Chủ hiệu hoa cứ lăng xăng lít xít, áp hết bông này đến bông kia lên tóc Robin rồi vô ý làm mấy giọt nước lạnh lẽo, xanh xanh từ cành hoa hồng chảy xuống áo len màu kem của cô.
“Mình đi Bettys đi,” Linda gợi ý khi cuối cùng hai mẹ con cũng chọn xong kiểu hoa đội đầu.
Bettys of Harrogate là một di sản địa phương, một phòng trà lâu đời ở thị trấn nghỉ dưỡng này. Bên ngoài Bettys có chậu vườn treo, khách đứng xếp hàng dưới mái hiên màu đen viền vàng lắp kính. Bên trong có đèn bàn thân bằng hộp thiếc đựng trà, ấm trà trang trí, ghế ngồi êm ái và nhân viên mặc đồng phục vải ren thêu màu trắng kiểu Anh truyền thống. Từ nhỏ Robin luôn háo hức mỗi khi được đi Bettys, cô đã thích thú nhìn những hàng lợn béo bằng bột hạnh nhân trong tủ kính khi chờ mẹ mua bánh trái cây khô ướp rượu đựng trong hộp thiếc đặc biệt.
Hôm nay, ngồi cạnh cửa sổ nhìn ra bồn hoa màu sắc sặc sỡ, trông như đồ nặn bằng đất sét của trẻ con, Robin không muốn ăn gì, chỉ gọi một ấm trà rồi lại mở điện thoại ra xem. Chẳng có gì mới.
“Con có sao không?” Linda hỏi cô.
“Con không sao,” Robin đáp. “Con xem có tin gì không đó mà.”
“Tin gì mới được chứ?”
“Tin về cái chân,” Robin đáp. “Tối hôm qua Strike đi gặp Wardle – cảnh sát thủ đô.”
“À,” Linda đáp, hai người im lặng cho tới khi trà được mang ra.
Linda đã gọi một chiếc bánh Fat Rascal – bánh scone lớn đặc sản của Bettys. Bà phết bơ lên bánh rồi hỏi:
“Tự con với Cormoran sẽ cố tìm cho được ai gởi cái chân chứ?”
Có gì đó trong giọng bà khiến Robin trả lời thận trọng.
“Tụi con chỉ muốn biết cảnh sát đang làm gì, có vậy thôi.”
“À ha.” Linda nhai bánh, quan sát Robin.
Robin có cảm giác tội lỗi vì cô cứ bực bội cả ngày. Áo cưới tốn bộn tiền mà cô còn cứ cáu kỉnh mãi.
“Xin lỗi mẹ, con nóng nảy quá.”
“Không sao.”
“Chỉ là… Matthew cứ nói hoài chuyện con làm cho Cormoran.”
“Biết rồi, tối hôm qua có nghe.”
“Trời đất, con xin lỗi mẹ!”
Robin cứ tưởng hai người đã cố không lớn tiếng đến nỗi đánh thức ba mẹ cô. Hai người cãi nhau suốt chặng đường về Masham, nín nhịn qua bữa tối với ông bà, rồi tiếp tục cãi nhau trong phòng khách khi Linda và Michael đã đi ngủ.
“Coi bộ nhắc tên Cormoran nhiều lần, hả? Mẹ đoán chắc Matthew…?”
“Ảnh không lo lắng,” Robin đáp.
Matthew vẫn quyết coi công việc của Robin như trò đùa, nhưng khi buộc phải nghiêm túc – ví dụ, khi có người gởi cho cô một cái chân cắt lìa, thì anh lại giận dữ thay vì lo lắng.
“Nếu con chưa thấy lo thì bây giờ nên lo đi là vừa,” Linda nói. “Có người vừa gởi cho con một bộ phận của một phụ nữ đã chết, Robin à. Cách đây chưa lâu, Matt gọi điện báo con đang ở bệnh viện vì bị chấn động. Mẹ không nói con bỏ việc đi!” Bà thêm vào, quyết không nhượng bộ trước vẻ mặt trách móc của Robin. “Mẹ biết con muốn làm việc này! Với lại…” bà đặt nửa phần bánh Fat Rascal lớn hơn vào bàn tay không buồn chống cự của Robin, “… mẹ không hỏi Matt có lo hay không. Mẹ định hỏi nó có ghen không.”
Robin uống trà Bettys Blend đậm đặc. Cô thoáng nghĩ hay là mua trà này đem về văn phòng. Siêu thị Waitrose ở Ealing chẳng có loại nào ngon như vậy. Strike vốn thích trà đậm.
“Đúng là Matt có ghen.” Cuối cùng cô đáp.
“Mẹ đoán hẳn nó không có lý do gì để ghen?”
“Đương nhiên là không!” Robin nóng nảy. Cô thấy như mình vừa bị phản bội. Mẹ cô vốn lúc nào cũng đứng về phía cô, lúc nào cũng…
“Đâu cần phải nóng vậy,” Linda đáp, bình tĩnh. “Mẹ đâu có ý nói con đã làm chuyện gì không phải.”
“Vậy thì tốt,” Robin đáp, ăn bánh scone trong vô thức. “Bởi vì con chưa có làm gì như vậy hết. Cormoran là sếp con, có vậy thôi.”
“Và là bạn nữa chứ,” Linda gợi ý, “theo như kiểu con nói về anh ta.”
“Đúng vậy,” Robin đáp, tính thật thà buộc cô nói thêm, “nhưng không phải là bạn bè thông thường.”
“Tại sao không?”
“Ảnh không thích nói mấy chuyện riêng tư. Lạnh như nước đá.”
Trừ một buổi tối đặc biệt – sau lần đó không ai nhắc đến nữa – hôm đó Strike đã say đứng còn không vững; trừ lần đó ra, hắn không bao giờ kể chuyện đời tư cho cô nghe.
“Hai người hợp nhau mà, đúng không?”
“Đúng vậy.”
“Đàn ông thường thấy khó chấp nhận chuyện bạn gái mình nói chuyện hợp với những người đàn ông khác.”
“Vậy con phải làm gì, chỉ làm việc với phụ nữ thôi sao?”
“Không,” Linda đáp. “Ý mẹ là: rõ ràng Matthew đang thấy mình bị đe dọa.”
Đôi khi Robin vẫn ngờ rằng mẹ cô tiếc chuyện cô không có nhiều bạn trai trước khi gắn bó sâu sắc với Matthew. Hai mẹ con rất gần gũi: cô là con gái duy nhất mà. Giờ đây, giữa phòng trà đầy tiếng lách cách lao xao, Robin nhận ra cô đang sợ bà Linda sẽ nói rằng nếu cô muốn, từ hôn bây giờ vẫn không quá trễ. Tuy đang mệt mỏi và buồn chán, và mặc dù mấy tháng qua hai người không êm ấm gì, cô biết mình yêu Matthew. Áo cưới đã may xong, nhà thờ đã đặt chỗ, tiệc cũng trả tiền gần hết. Bây giờ cô phải đi tiếp và về đích chứ.
“Con không thích Strike kiểu đó. Với lại, ảnh có bạn gái rồi: đang cặp với Elin Toft. Cô này dẫn chương trình trên kênh Radio Three.”
Cô hi vọng là mẩu thông tin đó sẽ khiến mẹ cô mất tập trung, bà vốn thích nghe các chương trình radio khi nấu ăn hay làm vườn.
“Elin Toft? Có phải là cái cô tóc vàng đẹp ơi là đẹp lên ti-vi nói về các nhà soạn nhạc thời kỳ Lãng Mạn hôm trước không?” Linda hỏi.
“Chắc vậy,” Robin đáp, không hào hứng gì mà, rồi mặc dù cú đánh lạc hướng đã thành công, cô đổi đề tài. “Vậy mẹ tính đẩy chiếc Land Rover đi hả?”
“Ừ. Chiếc đó bán cũng chẳng được gì. Hay đem bỏ bãi… trừ khi,” Linda tiếp, chợt nghĩ ra, “hai đứa muốn lấy xe? Thuế còn một năm, mà chiếc đó không hiểu sao lần nào cũng lọt qua được đăng kiểm.”
Robin nhai bánh scone, nghĩ ngợi. Matthew luôn càm ràm chuyện không có xe, một thiệt thòi mà theo anh là do lương của Robin quá bèo. Chiếc A3 Cabriolet của ông anh rể khiến anh ghen muốn đổ bệnh. Robin biết anh sẽ không thấy vậy với chiếc Land Rover cũ kỹ, luôn có mùi lông chó ướt và mùi ủng đi mưa, nhưng một giờ sáng hôm đó trong phòng khách, Matthew đã liệt kê ước đoán lương lậu của hết thảy bạn bè, rồi đắc chí kết luận là lương của Robin đứng ngay cuối bảng xếp hạng. Robin đột nhiên thấy mình hơi ác khi tưởng tượng ra cảnh nói với chồng chưa cưới, “Nhưng mà mình có chiếc Land Rover rồi Matt, cần gì để dành tiền mua Audi nữa!”
“Nó sẽ rất tiện cho công việc,” cô nói, “nếu tụi con cần đi khỏi London. Strike sẽ không phải thuê xe.”
“Mm,” Linda đáp, vẻ như lơ đễnh nhưng cặp mắt vẫn nhìn vào gương mặt Robin.
Cả hai về nhà, Matthew đang dọn bàn ăn với bố vợ tương lai. Anh thường siêng năng giúp việc bếp núc ở nhà ba mẹ Robin hơn lúc ở nhà với cô.
“Áo sao rồi em?” anh hỏi, Robin đoán đây chắc là động thái giảng hòa.
“Cũng được,” Robin đáp.
“Phải kiêng không được kể trước với anh hả?” anh nói, cô không mỉm cười, Matthew tiếp, “Anh cá là em mặc áo rất xinh.”
Mềm lòng, cô đưa tay ra, anh nháy mắt, siết ngón tay cô. Rồi Linda đặt xuống bàn một đĩa khoai tây nghiền giữa hai người và tuyên bố cho hai người chiếc Land Rover cũ.
“Gì kia bác?” Matthew nói, mặt thất thần hoảng hốt.
“Anh cứ nói là muốn mua xe mà,” Robin nói, thấy tự ái giùm cho mẹ mình.
“Ừ, nhưng mà… chiếc Land Rover, ở London?”
“Tại sao không?”
“Ổng sợ mất hình ảnh,” Martin em cô lên tiếng, nó vừa bước vào phòng, tay cầm tờ báo; nó đang xem tin về mấy con ngựa chuẩn bị đua giải Grand National chiều hôm đó. “Nhưng mà hợp với bà chị lắm, Rob à. Tưởng tượng ra cảnh bà chị với Lò Cò Sư Phụ phóng xe tới hiện trường án mạng.”
Chiếc cằm vuông của Matthew như siết lại.
“Im đi, Martin,” Robin nạt, vừa lườm cậu em vừa ngồi xuống bàn ăn. Dám mà gọi Strike là Lò Cò Sư Phụ ngay trước mặt cô tiếp.
“Chắc ông cười thôi chứ làm gì,” Martin tỉnh bơ.
“Vì hai người bằng vai phải lứa?” Robin nói tiếp, giọng khó chịu. “Cả hai đều có thành tích trong quân ngũ, đều từng liều mạng chiến đấu chắc?”
Martin là người duy nhất trong số bốn anh em nhà Ellacott không theo học đại học, và là người duy nhất vẫn còn sống chung với ba mẹ. Nó vốn hay tự ái chuyện mình không bằng ai.
“Bà nói vậy ý đíu gì… không lẽ tui phải đi lính hả?” nó hỏi, giọng gây sự.
“Martin!” Linda nghiêm giọng. “Ăn nói kiểu gì vậy!”
“Bả có hay gây sự với anh vì tội còn nguyên hai chân không hả Matt?” Martin hỏi.
Robin thả dao nĩa xuống rồi đi ra khỏi bếp.
Hình ảnh cái chân bị cắt lìa lại hiện ra trước mắt cô, xương chày trắng sáng lộ ra giữa thớ thịt chết, móng chân bân bẩn mà chủ nhân có lẽ chưa kịp chùi rửa sơn phết…
Rồi cô bật khóc, lần đầu tiên kể từ lúc nhận gói bưu kiện. Hoa văn trên thảm cầu thang mờ đi trước mắt cô, Robin loạng choạng nắm lấy nắm cửa phòng ngủ. Cô bước tới giường, thả người xuống, úp mặt trên tấm chăn sạch sẽ, hai vai rung bần bật, nức nở, tay ôm lấy gương mặt ướt nhẹp, cố không khóc nấc lên. Cô không muốn ai trong số những người dưới nhà lên với mình; cô không muốn nói năng giải thích gì; chỉ muốn ngồi một mình để xả hết những cảm xúc đã cố kìm nén suốt tuần.
Cách em trai cô bông phèng về vụ chân cẳng của Strike cũng giống với mấy câu đùa của Strike về cái chân. Một phụ nữ đã chết, mà rất có thể đã chết trong hoàn cảnh ác ôn tàn khốc, và dường như chẳng ai để tâm nhiều như Robin. Cái chết và lưỡi rìu đã biến người phụ nữ không quen đó thành một đống thịt, một vấn đề cần được giải quyết; và cô – Robin, cảm thấy như thể cô là người duy nhất nhớ rằng có một người từng sống, từng hít thở, đã từng dùng cái chân đó, có lẽ là chỉ mới một tuần trước thôi…
Sau mười phút khóc liên tục, cô nằm ngửa lại, mở mắt giàn giụa và nhìn quanh căn phòng cũ như cầu viện tiếp sức.
Căn phòng này từng là nơi an toàn duy nhất với cô. Trong ba tháng sau khi bỏ ngang đại học cô gần như không rời khỏi phòng, ngay cả khi ăn uống. Tường lúc trước có màu hồng chói – một sai lầm khi cô mười sáu tuổi. Cô mơ hồ nhớ nhận ra màu đó không hợp, nhưng không muốn nhờ ba sơn lại, vậy là Robin cố che cái màu chói lói rực rỡ đó bằng mấy tấm poster, dán càng nhiều càng tốt. Dưới chân giường từng có hình ban nhạc Destiny’s Child khổ lớn nhìn cô. Mặc dù giờ chỗ đó không có gì ngoài giấy dán tường màu xanh lục xám mà Linda đã dán lên sau khi Robin dọn xuống London với Matthew, Robin vẫn hình dung được Beyoncé, Kelly Rowland và Michelle Wiliams đang nhìn cô từ bìa album Survivor. Hình ảnh đó dính chặt với thời gian tồi tệ nhất trong đời Robin.
Trên tường bây giờ chỉ còn treo hai tấm ảnh lồng khung: một là chụp Robin với lớp cuối cấp vào ngày bế giảng (Matthew đứng hàng sau, đẹp trai nhất khóa, không thèm làm mặt xấu hay đội mũ hề) và tấm kia chụp Robin mười hai tuổi, cưỡi Angus – con ngựa lùn Highland già nua, một con vật lông lá bờm xờm, bướng bỉnh, mạnh mẽ ở nông trại của bác cô mà Robin từng rất cưng, mặc dù nó nghịch ơi là nghịch.
Cạn kiệt, mệt lả, cô chớp mắt, đưa tay lau gương mặt ướt nhẹp. Có tiếng nói nghe không rõ vọng lên từ bếp ngay dưới phòng cô. Robin chắc mẹ cô sẽ khuyên Matthew nên để cô ở một mình một lúc, cô hi vọng anh sẽ nghe lời. Cô cảm giác như mình có thể ngủ một mạch hết cả hai ngày cuối tuần.
Một tiếng sau cô vẫn nằm trên giường, mơ màng nhìn ra cửa sổ đến ngọn cây chanh trong vườn, thì Matthew gõ cửa, rồi bước vào, tay cầm tách trà.
“Bác nói đem lên cho em.”
“Cảm ơn,” Robin đáp.
“Cả nhà chuẩn bị xem đua ngựa Grand National. Matt đặt cược lớn vô con Bailabriggs.”
Không nhắc gì đến chuyện cô đã buồn ra sao, hay những lời thô bỉ của Martin; cung cách của Matthew như muốn nói cô đã làm việc gì đáng xấu hổ, và anh đang cho cô cơ hội chuộc lỗi. Cô biết ngay là anh không hề biết cái chân ấy đã gợi lên chuyện gì trong cô. Không, anh chỉ thấy bực mình vì Strike, người mà cả nhà Ellacott chưa hề gặp, một lần nữa lại choán chỗ trong câu chuyện cuối tuần. Cứ như vụ Sarah Shadlock ở trận rugby đang lặp lại.
“Em không thích xem ngựa bị gãy cổ,” Robin đáp. “Với lại, em còn phải làm việc.”
Anh đứng đó nhìn cô, rồi bước ra, đóng cửa hơi mạnh tay một chút, khiến cánh cửa bật mở trở lại sau lưng anh.
Robin ngồi dậy, vuốt tóc, hít một hơi sâu rồi đi lấy túi đựng máy tính trên bàn trang điểm. Cô đã áy náy khi mang máy theo, áy náy khi nghĩ rằng khi về nhà cô sẽ tranh thủ thời gian theo đuổi hướng điều tra của riêng mình. Thái độ tha thứ, kẻ cả của Matthew khiến cô hết thèm áy náy. Cứ để anh xem đua ngựa. Cô còn nhiều việc hay hơn để làm.
Trở lại giường, cô chất gối sau lưng, bật máy tính, mở những trang đã đánh dấu sẵn chưa kể với ai, Strike cũng không hề biết – kiểu gì hắn cũng nghĩ cô chỉ phí thời gian.
Cô đã bỏ ra vài giờ theo đuổi hai hướng điều tra riêng rẽ nhưng có liên quan đến nhau từ những bức thư mà cô nài nỉ Strike mang đến cho Wardle: thư của cô gái muốn chặt bỏ chân và lá thư của người muốn làm một số chuyện với cái mỏm chân của Strike – một lá thư khiến cô buồn nôn.
Robin luôn thích tìm hiểu tâm trí con người. Sự nghiệp đại học của cô, mặc dù dang dở, đã tập trung vào môn tâm lý. Cô gái gởi thư cho Strike dường như mắc chứng rối loạn nhận dạng toàn vẹn cơ thể, hay còn gọi là BIID: bệnh nhân thường có một ham muốn vô lý, là muốn được cắt bỏ một phần cơ thể lành lặn.
Sau khi đã đọc một số bài báo khoa học trên mạng, Robin biết rằng bệnh nhân BIID rất hiếm gặp và nguyên nhân chính xác gây bệnh vẫn chưa được biết. Những trang mạng hỗ trợ người bệnh cho thấy người bệnh thường bị ghét bỏ. Những lời bình luận giận dữ rải rác khắp diễn đàn, lên án người mắc BIID rằng họ chỉ thèm muốn vị trí của những kẻ không may mắn, của những người bệnh tật thật sự; rằng họ muốn gây sự chú ý bằng cách gớm ghiếc, ghê tởm. Phần phản pháo cũng không thua gì: vậy người viết nghĩ rằng bệnh nhân muốn bị BIID chăng? Họ không hiểu rằng người chuyển năng gặp khó khăn ra sao ư? (chuyển năng tức là có mong muốn và nhu cầu bị liệt hay bị khuyết chi). Robin tự hỏi không biết Strike sẽ nghĩ gì về câu chuyện của người mắc chứng BIID. Cô đoán hắn sẽ không thấy thông cảm gì sất.
Ở tầng dưới, cửa phòng khách mở ra, cô nghe có tiếng người bình luận trên ti-vi, rồi tiếng ba cô mắng con chó Labrador già màu sô-cô-la, đuổi nó ra ngoài vì tội vừa đánh rắm, rồi tiếng Martin cười hô hố.
Robin thấy bực mình. Vì quá mệt mỏi, cô không nhớ nổi tên cô gái đã viết thư cho Strike, chính là người đã xin lời khuyên làm sao chặt chân. Cô nhớ hình như là Kylie hay tương tự vậy. Kéo chuột xuống trang mạng hỗ trợ người bệnh đông đúc nhất, cô cố tìm một bí danh liên quan đến cô gái ấy, bởi một thiếu nữ có sở thích lạ đời như vậy thì biết đi đâu khác để trút bầu tâm sự, ngoài thế giới ảo?
Cửa phòng ngủ vẫn còn hé sẵn sau khi Matthew đi ra, bật mở tung khi Rowntree, con chó Labrador ngoắc đuôi bước vào. Nó chạy đến chỗ Robin đòi một cái vuốt tai lơ đễnh, rồi nằm phủ xuống cạnh giường. Đập đuôi xuống sàn một lúc, con vật khò khè chìm vào giấc ngủ. Trong tiếng ngáy khụt khịt của nó, Robin tiếp tục rà khắp trang diễn đàn.
Đột nhiên, cô có cảm giác phấn chấn trong giây lát - một cảm giác quen thuộc kể từ khi cô bắt đầu làm việc cho Strike. Đó là cảm giác thành công khi đang đi tìm một mẩu thông tin nhỏ xíu, có thể có một ý nghĩa gì đó, hoặc không là gì cả, đôi lúc lại giúp giải quyết được tất cả vấn đề.
Khôngchốndungthân: Có ai biết gì về Cameron Strike không?
Nín thở, cô mở chủ đề ra.
W@nBee: tay thám tử một chân đó hả? Ừ, ông ấy là lính cựu.
Khôngchốndungthân: Nghe đâu ông ấy tự ấy đó.
W@nBee: Không, tra đi, ông ấy từng ở Afghanistan mà.
Chỉ có vậy. Robin rà thêm vài chủ đề trên diễn đàn, nhưng Khôngchốndungthân không theo đuổi chủ đề đó nữa, cũng không xuất hiện thêm lần nào. Điều đó không có ý nghĩa gì cả; người này có thể đã đổi bí danh. Robin tiếp tục tìm kiếm cho đến khi thỏa mãn rằng cô đã lục khắp ngõ ngách của trang mạng, nhưng tên của Strike không xuất hiện nữa.
Cơn phấn chấn nguội dần. Ngay cả khi giả định rằng người viết thư và Khôngchốndungthân là một người, thì chuyện cô ta tin rằng Strike tự chặt chân cũng đã rõ từ trong thư. Đâu có nhiều bệnh nhân khuyết chi nổi tiếng để mà hi vọng là người đó tự chặt chân tay mình.
Tiếng hét cổ vũ vọng lên từ phòng khách bên dưới. Bỏ diễn đàn BUD, Robin trở lại với hướng điều tra thứ hai.
Cô muốn nghĩ rằng mình đã mạnh mẽ hơn rất nhiều kể từ khi làm việc ở văn phòng thám tử. Tuy vậy, những bước đầu tiên của Robin vào thế giới của những người mắc chứng khoái cảm khiếm khuyết – tức bị hấp dẫn giới tính với bệnh nhân khuyết chi, chỉ sau vài cái nhấp chuột, đã khiến cô thấy buồn nôn ghê tởm, cảm giác đó như còn vương vấn hồi lâu sau khi cô tắt máy. Giờ đây cô thấy mình đang đọc tâm sự của một người đàn ông (cô giả định người này là đàn ông) – liên tưởng tình dục lớn nhất của ông này là một phụ nữ đã cắt hết cả bốn chi, cắt trên khuỷu tay và khớp đầu gối. Điểm cắt chính xác có vẻ rất quan trọng. Người thứ hai (chắc chắn không thể là phụ nữ rồi) từ khi còn rất trẻ đã vừa thủ dâm vừa nghĩ đến chuyện vô tình chặt chân mình và bạn. Khắp nơi trên trang mạng thảo luận về sự hấp dẫn của mỏm cụt, của sự bó buộc ở bệnh nhân khuyết chi, Robin cho rằng ở đây tình trạng khuyết tật là một hình thái cực đoan của chứng bạo dâm.
Từ dưới nhà vọng lên giọng mũi rộn ràng của bình luận viên giải Grand National và tiếng cậu em trai hò hét cổ vũ. Robin tiếp tục rà soát các diễn đàn, tìm xem có ai nhắc đến Strike và tìm mối liên hệ giữa chứng lệch lạc tình dục này và tính bạo lực.
Robin thấy đáng chú ý ở chỗ không ai trong số những người đang trút bầu tâm sự trên diễn đàn lại thấy hưng phấn trước bạo lực hay đau đớn. Ngay cả người đàn ông mơ cùng cắt chân với bạn kia cũng bày tỏ rất rõ ràng: vụ chặt chân chỉ là tiền đề cần thiết để có được mỏm cụt.
Liệu một người có thể cảm thấy bị kích dục bởi Strike-bệnh-nhân-khuyết-chi, đến độ muốn đi chặt chân phụ nữ gởi cho hắn? Matthew có lẽ sẽ nghĩ thế. Robin bỉ bôi nghĩ thầm, là Matthew sẽ nghĩ rằng người nào quái đến nỗi đi thích mỏm chân cụt cũng sẽ đủ điên để đi chặt tay chân người khác: hẳn anh sẽ cho khả năng đó là rất cao. Tuy nhiên, theo như những gì Robin còn nhớ từ lá thư của RL, và sau khi đọc tâm sự trên mạng của những người có khoái cảm khiếm khuyết khác, cô lại nghĩ, khi nói muốn bù đắp cho Strike, nhiều khả năng RL nghĩ tới nhiều trò mà có lẽ Strike sẽ thấy còn khó chịu hơn bị cưa chân.
Đương nhiên, RL có thể vừa là người có khoái cảm khiếm khuyết, vừa loạn trí…
“ÔI MẸ ƠI! ÔI MẸ ƠI! NĂM TRĂM BẢNG!” Martin hét lên. Có tiếng chân thình thịch rộn ràng từ lối sảnh, có vẻ như Martin thấy phòng khách không đủ rộng để nhảy bài ăn mừng vừa trúng cá độ. Rowntree choàng tỉnh, nhảy dựng lên, sủa ăng ẳng ngái ngủ. Tiếng ồn khiến Robin không nghe bước chân Matthew đang tới gần, cho đến khi anh đẩy cửa bước vào. Ngay lập tức, cô bấm chuột lui liên tục, lùi lại qua những trang mạng về sự hấp dẫn giới tính của người khuyết chi.
“Anh,” cô nói. “Chắc là Ballabrigs thắng hả.”
“Ừ,” Matthew đáp.
Lần thứ hai trong ngày, anh đưa tay ra. Robin đẩy máy tính qua một bên, Matthew kéo cô đứng dậy, ôm lấy cô. Hơi ấm của anh truyền cho cô cảm giác nhẹ nhõm, bình yên. Cô không thể chịu thêm một đêm cãi nhau nữa.
Rồi anh đẩy cô ra, mắt anh nhìn chăm chăm qua vai cô.
“Gì vậy?”
Cô nhìn xuống máy tính. Ở giữa màn hình sáng trắng đầy chữ là một định nghĩa đóng khung:
Khoái cảm khiếm khuyết danh từ
Một chứng lệch lạc tình dục theo đó khoái cảm có được từ liên tưởng tình dục hay hành vi tình dục với người khuyết chi.
Im lặng trong giây lát.
“Có mấy con ngựa bị chết?” Robin hỏi, giọng căng thẳng. “Hai,” Matthew trả lời, rồi bước ra khỏi phòng.