It’s the time in the season for a maniac at night.Đang lúc có kẻ điên loạn về đêm.
Blue Öyster Cult
Madness to the Method
Tháng Sáu đã qua đến tuần thứ hai, thời tiết vẫn mát mẻ với mưa lắc rắc và thoáng gió hông hốc. Quang cảnh lộng lẫy rực nắng của đám cưới hoàng gia đã lùi sâu trong trí nhớ: đợt triều dâng ngất ngây của cảm xúc nồng nàn lãng mạn đã tan dần, những món lưu niệm đám cưới, những đoạn băng-rôn chào mừng trưng bày sau cửa sổ các quầy hàng đã được cất đi. Các tờ báo thủ đô quay lại với những chủ đề thường tình hơn, bao gồm một đợt đình công tàu điện sắp đến.
Thế rồi ác mộng vỡ òa trên những trang nhất báo ra thứ Tư. Cái xác không toàn vẹn của một phụ nữ trẻ tuổi được tìm thấy dưới một đám túi rác. Chỉ trong vòng vài giờ sau khi cảnh sát ra lời kêu gọi thông tin đầu tiên, cả thế giới đã được biết rằng một tên Jack the Ripper thế kỷ hai mươi mốt giờ đây đang lộng hành khắp đường phố London.
Ba phụ nữ đã bị tấn công và xà xẻo, nhưng cảnh sát thủ đô dường như không có manh mối nào. Cánh nhà báo tranh nhau viết bài, cố không bỏ sót bất kỳ khía cạnh nào của câu chuyện – nào bản đồ London cho thấy vị trí của mỗi cuộc tấn công, nào ảnh chụp ba nạn nhân. Báo giới ráo riết, như thể quyết tâm bù lại thời gian đã mất, và nhận ra rằng có lẽ họ đã vào cuộc hơi muộn. Họ đã xem vụ án mạng Kelsey Platt là một hành động điên rồ khổ dâm đơn độc, rồi cuộc tấn công theo sau nhắm vào Lila Monkton, cô gái mại dâm mười tám tuổi, gần như không hề tốn chút giấy mực nào. Một cô gái tự bán thân mình ngay trong ngày đám cưới hoàng gia làm sao có thể đẩy được nữ công tước mới được phong ra khỏi trang nhất.
Vụ án mạng của Heather Smart, một nhân viên tài chính hai mươi hai tuổi từ Nottingham, lại là chuyện khác hoàn toàn. Những dòng tít trang nhất như tự viết ra, bởi Heather là một nữ chính mà độc giả hoàn toàn có thể liên hệ đồng cảm được: công việc ổn định, ước muốn trong sáng được đi thăm thú thủ đô và cậu bạn trai là giáo viên tiểu học. Đêm trước đó Heather đã đi xem nhạc kịch Vua Sư Tử, đã ăn dim-sum ở khu Chinatown và chụp hình ở Hyde Park với đội kỵ binh danh dự Life Guard ở phía sau. Báo giới viết bao nhiêu cũng không đủ về dịp nghỉ cuối tuần kéo dài để ăn mừng sinh nhật ba mươi tuổi của bà chị dâu, mà kết cục là cái chết tàn độc nhơ nhớp ở đằng sau cửa hiệu bán video người lớn.
Câu chuyện đó, như những câu chuyện hấp dẫn nhất, sinh sôi nảy nở như trùng biến hình, đẻ ra một chuỗi không dứt những câu chuyện mới, những bài bình luận và phỏng đoán, mỗi bài lại có một điệp khúc phản biện riêng. Nào là luận về thói rượu chè bê tha đáng trách của cô gái người Anh, đi kèm với phản biện về thói đổ thừa nạn nhân. Nào là những bài kinh dị về bạo lực tình dục, nêm nêm với vài lưu ý rằng, so với các nước khác thì ở Anh những cuộc tấn công như thế vẫn khá hiếm. Rồi phỏng vấn những người bạn đang khổ sở dằn vặt, những kẻ đã vô ý bỏ rơi Heather, từ đó rộ lên những đợt ném đá phỉ nhổ trên mạng xã hội, rồi quay lại với lý lẽ bào chữa cho những cô gái đang đau buồn ấy.
Bao phủ lên mỗi câu chuyện là cái bóng của hung thủ giấu mặt, kẻ điên loạn đang hoành hành, đang phanh thây phụ nữ. Báo giới một lần nữa lại đổ bộ lên phố Denmark để tìm người đàn ông được gởi cho cái chân của Kelsey. Strike quyết định rằng đã đến lúc Robin thực hiện chuyến đi lên Masham vốn liên tục vỡ kế hoạch ấy, để thử áo cưới lần cuối cùng. Phần mình, hắn lại cuốn gói về nhà Nick và Ilsa với chiếc ba lô và cảm giác bất lực tê tái. Một sĩ quan cảnh sát thường phục được cắm sẵn ở phố Denmark phòng khi trong thùng thư lại xuất hiện vật gì khả nghi. Wardle lo là hung thủ sẽ lại gởi một bộ phận nữa cho Robin.
Chịu áp lực của một cuộc điều tra bị truyền thông cả nước săm soi, Wardle đã không thể gặp mặt Strike trong suốt sáu ngày sau khi thi thể Heather được tìm thấy.
Strike đi đến quán The Feathers lúc chớm tới nơi, hắn thấy Wardle mặt mày phờ phạc nhưng có vẻ mong được nói chuyện với hắn, kẻ chân trong chân ngoài vụ án.
“Đúng là nguyên một tuần ăn mày,” Wardle thở dài, đón lấy vại bia Strike vừa mua mời anh ta. “Tôi đã hút thuốc trở lại. April tức lắm.”
Anh ta nốc một hơi bia, rồi kể lại với Strike sự thật quanh vụ phát hiện thi thể Heather. Những câu chuyện trên báo, như Strike đã nhận thấy trước, đưa ra nhiều tình tiết cơ bản đầy mâu thuẫn, mà có thể lại rất quan trọng. Tuy nhiên tất cả đều đổ lỗi cho cảnh sát, cái tội không phát hiện ra cô gái trong vòng hai mươi bốn giờ.
“Cô ta và đám bạn say không biết trời trăng gì nữa,” tay cảnh sát nói, đi thẳng vào câu chuyện. “Bốn người lên taxi, say đến nỗi quên mất Heather. Đi được nguyên một con đường mới nhận ra là cô ta không lên xe cùng.
“Tài xế sôi gan vì cả đám ồn ào bố láo. Một đứa trong bọn còn chửi thề khi tài xế nói không thể quay xe ngay giữa đường. Cãi cọ lớn tiếng, nên mãi năm phút sau tay này mới đồng ý quay lại tìm Heather.
“Cuối cùng khi quay lại chỗ cũ theo trí nhớ… đám này người Nottingham mà, đâu có biết gì London… thì không thấy tăm hơi Heather đâu cả. Xe bò dọc đường, cả đám mở cửa sổ gọi cô ta. Rồi một đứa nói là thấy Heather đang đứng xa xa, chuẩn bị lên xe buýt. Vậy là hai trong số đó ra khỏi xe – chẳng trúng trật gì cả, say quá rồi còn biết gì – cả hai chạy theo xe buýt la hét đòi xe dừng lại trong khi hai đứa còn lại chồm ra khỏi taxi la hét gọi hai đứa kia trở lại để chạy taxi đuổi theo. Rồi con bé ban đầu gây sự với tài xế gọi anh ta là dân Paki ngu si. Anh tài xế đuổi cổ cả đám ra khỏi xe, rồi tót luôn.
“Tóm lại,” Wardle mệt mỏi, “bao nhiêu gạch đá tụi tôi nhận vì tội không tìm thấy cô ta trong vòng hai mươi bốn tiếng suy cho cùng chỉ vì thói rượu chè và tật phân biệt chủng tộc của tụi nó. Đám gái ngớ ngẩn đó cứ tưởng Heather đã lên xe buýt, vậy là tụi tôi phí thêm một ngày rưỡi truy cho ra một phụ nữ mặc áo khoác giống như Heather. Thế rồi ông chủ hàng băng đĩa người lớn mở cửa đem túi rác ra và phát hiện thấy cô ta nằm dưới một đống túi rác, mũi và tai đã bị chặt phăng.”
“Vậy chỗ đó báo nói đúng,” Strike nói.
Gương mặt bị xà xẻo của cô gái là một chi tiết mà hết thảy báo chí đều nhất trí.
“Ừ, chỗ đó đúng,” Wardle nặng nhọc tiếp. “‘Con quỷ Shacklewell. Nghe cũng kêu chán.”
“Nhân chứng?”
“Không ai thấy cái đếch gì cả.”
“Còn Devotee và chiếc xe mô-tô thì sao?”
“Loại ra rồi,” Wardle thú thật, mặt mày ủ ê. “Anh ta có bằng chứng ngoại phạm vững chắc trong vụ Heather – mắc đi đám cưới – và tụi tôi cũng không cũng có được gì trong hai vụ còn lại.”
Strike có cảm giác như Wardle muốn nói với hắn điều gì đó, hắn ngỏng tai chờ đợi.
“Tôi không muốn báo giới ngửi ra chỗ này,” Wardle tiếp, hạ giọng, “nhưng tụi tôi nghĩ y đã từng làm hai vụ nữa.”
“Lạy Chúa,” Strike thốt, thực sự choáng váng. “Khi nào?”
“Cũ rồi,” Wardle nói. “Một án mạng chưa phá được ở Leeds, năm 2009. Gái mại dâm, quê ở Cardiff. Bị dao đâm. Y không xà xẻo chỗ nào trên người cô này, nhưng lấy đi cái dây chuyền cổ nạn nhân lúc nào cũng đeo rồi thảy xác xuống một con mương ở ngoại thành. Mất hai tuần mới tìm ra xác.
“Thế rồi, năm ngoái, một cô gái bị giết và phanh thây ở Milton Keynes. Tên là Sadie Roach. Cậu bạn trai bị túm. Tôi đã tra cứu hết rồi. Gia đình vận động kịch liệt đòi thả, cuối cùng kháng án thì được thả. Cậu ta không có liên hệ gì với vụ án mạng, trừ chuyện hai người đã cãi nhau và có lần cậu ta dùng dao nhíp dọa một tay khác.
“Tụi tôi mời chuyên gia tâm lý và pháp y phân tích cả năm vụ. Kết luận là có đủ điểm tương đồng cho thấy nhiều khả năng hung thủ chỉ là một. Có vẻ như y dùng hai con dao, một dao tỉa lưỡi nhọn và một dao bầu. Tất cả nạn nhân đều dễ tổn thương – gái mại dâm, say rượu, mất thăng bằng cảm xúc – trừ Kelsey ra tất cả đều bị đón đường. Y thu chiến tích từ cả năm người, vẫn còn quá sớm để nói liệu ta có tìm được mẫu DNA tương đồng ở họ không. Nhiều khả năng là không. Dường như y không giao cấu với ai trong số đó. Y sướng theo kiểu khác.”
Strike đang đói, nhưng có gì đó khiến hắn không muốn cắt ngang sự im lặng rầu rĩ của Wardle. Tay cảnh sát uống thêm bia rồi nói, mà không nhìn thẳng vào mắt Strike, “Tôi đang rà soát những tay anh đưa. Brockbank, Laing và Whittaker.”
Giờ mới chịu rà với soát.
“Brockbank có vẻ đáng quan tâm,” Wardle nói.
“Anh tìm ra hắn rồi sao?” Strike hỏi, giữ nguyên vại bia đưa lên môi.
“Chưa, nhưng tụi tôi biết hắn từng thường xuyên đi nhà thờ dưới Brixton, cho tới năm tuần trước.”
“Nhà thờ? Anh có chắc là đúng người không?”
“Lính cựu, dáng cao, từng chơi rugby, cằm dài, một bên mắt trũng xuống, tai vễu, tóc đen cắt đinh,” Wardle đọc ro ro. “Tên Noel Brockbank. Cao tầm một mét chín mươi – chín ba. Giọng miền Bắc nặng trịch.”
“Đúng hắn rồi,” Strike nói. “Đi nhà thờ sao?”
“Đợi xíu,” Wardle nói, đứng dậy. “Mắc tè quá.”
Mà, tại sao không? Strike ngẫm nghĩ khi đi đến quầy bar gọi thêm hai vại bia mới. Quán đông dần lên quanh hắn. Hắn mang bia về bàn, lấy thêm một tờ thực đơn, nhưng không tập trung gọi món được. Các bé gái trong ca đoàn… hắn ta đâu phải là kẻ đầu tiên…
“Lúc nãy mắc quá,” Wardle nói, trở lại với Strike. “Tôi đi ra ngoài làm điếu, anh ngồi đó đợi…”
“Nói hết chuyện Brockbank đã,” Strike lên tiếng, đẩy ly bia qua bên kia bàn.
“Nói thật, tụi tôi tình cờ tìm ra hắn ta.” Wardle đáp, ngồi xuống trở lại, đón lấy vại bia. “Một tay trong đám tụi tôi khi đó đang bám theo bà mẹ của một trùm ma túy địa phương. Tụi tôi không tin Mẹ Già vô tội như bà ấy khăng khăng, nên cử người đi theo đến nhà thờ, thế là gặp ngay Brockbank đứng ở cửa phát sách thánh ca. Hắn ta bắt chuyện với cảnh sát mà không biết là ai, mà tay của bọn tôi cũng không biết Brockbank đang bị tìm kiếm liên quan tới vụ án mạng nào.
“Bốn tuần sau đó tay này nghe tôi nói chuyện đang tìm một Noel Brockbank trong vụ Kelsey Platt, nói là đã gặp một người cùng tên hồi tháng trước dưới Brixton. Thấy chưa?” Wardle nói, thoáng cái cười khẩy thông thường. “Tôi cũng để tâm đến mấy bài mách nước của anh đó chứ hả Strike. Sau vụ Landry còn không biết để tâm thì đúng dại.”
Anh chỉ để tâm khi không làm ăn được gì với Digger Malley và Devotee, Strike nghĩ thầm, nhưng hắn ậm ừ tỏ vẻ cảm kích ơn huệ rồi quay lại ý chính.
“Anh nói là Brockbank không đi nhà thờ nữa sao?”
“Ờ,” Wardle thở dài. “Hôm qua tôi có xuống đó, nói chuyện với cha sở. Còn trẻ măng, nhiệt tình, nhà thờ quận nội thành mà… chắc anh biết loại đó,” Wardle kể, chẳng trúng trật gì bởi vì xưa nay Strike hầu như chỉ tiếp xúc với các linh mục trong quân đội. “Anh ta rất kiên nhẫn với Brockbank. Nói là đời Brockbank khổ sở lắm.”
“Chấn thương não, thương binh giải ngũ, mất gia đình, nọ kia kia nọ đúng không?” Strike hỏi.
“Đại để vậy,” Wardle đáp. “Nói là nhớ con trai lắm.”
“À ha,” Strike chùng giọng. “Vậy anh có biết Brockbank hiện ở đâu không?”
‘‘Không, nhưng nghe đâu bạn gái của hắn ta…”
“Alyssa?”
Hơi nhướng mày, Wardle đút tay vào túi trong áo khoác, rút sổ ghi chép ra tra cứu.
“Ừ, đúng vậy,” anh ta tiếp. “Alyssa Vincent. Làm sao anh biết vậy?”
“Cả hai vừa bị đuổi việc ở một tụ điểm múa thoát y. Lát nữa tôi sẽ giải thích,” Strike vội vã nói, khi Wardle bắt đầu tỏ ra mất tập trung. “Nói tiếp chuyện Alyssa đi.”
“À, cô này kiếm được nhà ở trợ cấp ở phía đông London gần nhà mẹ. Brockbank nói với cha sở là sẽ dọn vào ở chung với cô ấy và mấy đứa con.”
“Mấy đứa con?” Strike hỏi lại, hắn nghĩ ngay đến Robin.
“Hai đứa con gái nhỏ, nghe nói vậy.”
“Ta có biết cái nhà này ở đâu không?” Strike hỏi.
“Chưa biết. Cha sở rất tiếc khi hắn dọn đi,” Wardle nói, sốt ruột liếc mắt ra phía vỉa hè nơi có vài người đang đứng hút thuốc. “Tôi có moi được từ cha là Brockbank đi nhà thờ hôm Chủ Nhật ngày ba tháng Tư, tức là dịp cuối tuần mà Kelsey chết.”
Thấy Wardle càng lúc càng sốt ruột, Strike không nói gì nữa, chỉ đề nghị hai người ra vỉa hè làm điếu thuốc.
Cả hai châm thuốc, đứng phì phèo cạnh nhau trong vài phút. Dân đi làm qua lại trên phố, vẻ mệt mỏi sau nhiều giờ ở văn phòng. Đêm đang xuống. Ngay trên đầu họ, giữa màu chàm của màn đêm đang tràn đến và sắc đỏ rực như san hô của mặt trời đang lặn là một dải bầu trời hẹp không màu, chỉ có không khí trống rỗng nhạt nhẽo.
“Lạy Chúa, lâu nay tôi thèm thuốc kinh được,” Wardle nói, rít một hơi dài như bú sữa mẹ rồi tiếp tục câu chuyện cũ. “À, vậy là Brockbank đi nhà thờ dịp cuối tuần đó, hay đỡ đần trong nhà thờ. Nghe đâu rất mát tay với con nít.”
“Còn không mát,” Strike lầm bầm.
“Gan thật, nhỉ?” Wardle nói, phả khói về phía bên kia đường, dán mắt vào tác phẩm điêu khắc Day của Epstein, tác phẩm tô điểm cho văn phòng Giao Thông London cũ. Một cậu bé đứng trước một người đàn ông ngồi trên ngai, thân mình cậu vặn vẹo, vừa ôm lấy ông vua phía sau vừa chĩa chim chóc về phía người xem. “Giết rồi xà xèo một đứa con gái, rồi đi nhà thờ như chưa có chuyện gì cả?”
“Anh là dân Công giáo sao?” Strike hỏi.
Wardle choáng váng.
“Đúng rồi,” anh ta nghi ngại đáp. “Mà sao kia?”
Strike lắc đầu, thoáng mỉm cười.
“Tôi biết bọn biến thái đâu quan tâm gì,” Wardle đáp, hơi tự ái. “Tôi chỉ… với lại, tụi tôi đã cử người đi tìm xem hiện giờ hắn sống ở đâu. Nếu là nhà ở trợ cấp, và giả sử Alyssa Vincent là tên thật thì sẽ không quá khó.”
“Tuyệt,” Strike đáp. Cảnh sát có những nguồn lực mà hắn và Robin không thể bì được. Cuối cùng, có lẽ là bây giờ, sẽ có được chút ít thông tin chắc chắn. “Còn Laing thì sao?”
“À,” Wardle nói, dụi điếu thuốc đầu tiên, ngay lập tức châm tiếp điếu nữa. “Tụi tôi có nhiều thông tin về tay này hơn. Sống một mình ở chung cư Wollaston Close mười tám tháng cho tới nay. Lãnh trợ cấp tàn tật. Dịp cuối tuần hôm ngày hai và ba tháng Tư thì bị viêm phổi, ông bạn Dickie phải ghé qua giúp một tay. Đi chợ mua đồ ăn còn không nổi.”
“Tiện quá nhỉ,” Strike nói.
“Hoặc đúng là vậy,” Wardle đáp. “Tụi tôi kiểm tra lại với Dickie, tay này xác nhận toàn bộ những thứ Laing đã khai với tụi tôi.”
“Laing có ngạc nhiên khi cảnh sát hỏi thăm động tĩnh không?”
“Ban đầu thì có vẻ hơi choáng.”
“Hắn ta có cho các anh vào nhà không?”
“Không tới đoạn đó. Tụi tôi gặp hắn ta chống gậy băng qua bãi đỗ xe rồi cuối cùng hỏi chuyện trong quán cà phê gần đó.”
“Quán Ecuador trong đường hầm?”
Wardle nhìn Strike như muốn ăn tươi nuốt sống, Strike tỉnh bơ nhìn lại.
“Anh cũng đi rình mò hắn ta phải không? Đừng phá nha Strike. Tụi tôi đang làm việc.”
Strike đã có thể nói rằng chỉ sau khi bị báo chí săm soi và không làm ăn gì được với những manh mối ruột thì Wardle mới chịu đầu tư nghiêm túc đi tìm ba nghi can mà Strike đưa ra. Hắn quyết định im lặng là hơn.
“Laing không hề ngu ngốc,” Wardle tiếp. “Tụi tôi không cần hỏi lâu thì hắn ta đoán được ngay là việc gì. Hắn ta biết hẳn anh đã cung cấp tên của hắn. Hắn đã đọc trên báo vụ anh bị gởi cái chân.”
“Quan điểm của hắn về vụ đó ra sao?”
“Hình như có tí chút Đẹp mặt chưa, cho đáng đời,” Wardle đáp, mém cười, “nhưng tóm lại là, đúng như dự đoán. Một chút tò mò, một chút thủ thế.”
“Trông hắn ta có đau yếu gì không?”
“Có,” Wardle nói. “Hắn ta không biết tụi tôi sẽ đến, tụi tôi tình cờ thấy hắn chống gậy lê lết. Tới gần thấy không khỏe mạnh gì. Mắt đỏ ngầu. Da nứt nẻ kiểu gì ấy. Hơi rạc.”
Strike không nói gì. Nỗi ngờ vực về bệnh tật của Laing cứ dai dẳng trong đầu hắn. Mặc dù đã tận mắt nhìn những tấm hình cho thấy Laing đã dùng steroid và bị thương tổn ngoài da, Strike vẫn thấy mình không thể tin nổi chuyện Laing đau yếu thực sự.
“Hắn ta làm gì khi những nạn nhân còn lại bị giết?”
“Khai là ở nhà một mình,” Wardle nói. “Không có gì để chứng minh đúng sai cả.”
"Hmm," Strike đáp.
Hai người trở vào trong quán. Một cặp đã chiếm bàn cũ, vậy là họ tìm một bàn khác cạnh vách kính nhìn ra đường.
“Còn Whittaker thì sao?”
“À, tối qua tụi tôi túm được. Đang đi đèn đóm cho một ban nhạc.”
“Anh chắc không đó?” Strike hỏi lại, ngờ vực, nhớ rằng Shanker cũng quả quyết rằng Whittaker khoe như thế, nhưng trên thực tế thì sống ăn bám Stephanie.
“Ừ, tôi chắc. Tụi tôi ghé thăm cô bạn gái nghiện…”
“Có vào trong nhà không?”
“Cô ta chỉ nói chuyện ngoài cửa, cũng không ngạc nhiên gì,” Wardle nói. “Cái nhà hôi rình. Rồi, cô ta nói là hắn đã đi với đám kia, đưa địa chỉ nhạc hội cho tụi tôi và đúng là hắn ở đó thật. Xe tải mini cũ đậu bên ngoài, ban nhạc còn già hơn xe. Nghe tiếng ban Death Cult bao giờ chưa?”
“Chưa.”
“Khỏi nghe gì cho mất công, dở như mắm.” Wardle nói. “Tôi phải ngồi nghe nửa tiếng mới tới gần được Whittaker. Ở tầng hầm một quán dưới Wandsworth. Hôm sau đó tôi bị ù tai cả ngày.
“Whittaker dường như đã đoán trước tụi tôi sẽ đến tìm,” Wardle nói. “Nghe đâu hắn ta thấy anh đứng ngoài xe tải vài tuần trước.”
“Tôi có kể cho anh vụ đó,” Strike nói. “Nồng nặc khói hàng hít…”
“À, ừ…” Wardle đáp. “Nghe này, tôi không tin tưởng gì hắn ta, nhưng hắn ta nói là Stephanie có thể cung cấp chứng cứ ngoại phạm nguyên ngày hôm đám cưới hoàng gia, vậy nên loại trừ được vụ gái mại dâm ở Shacklewell, và hắn ta khai là đi diễn với Death Cult vào cả hai dịp lúc Kelsey và Heather bị giết.”
“Kín lịch đúng cả ba vụ, hả?” Strike nói. “Gọn quá. Death Cult có xác nhận là hắn ta đi theo mấy hôm đó không?”
“Thực lòng thì đám đó hơi bị mơ hồ,” Wardle nói. “Tay ca sĩ chính đeo máy trợ thính. Tôi không biết có nghe hết câu hỏi của tôi không nữa. Đừng lo, tôi đã cho người kiểm tra lại hết lời khai rồi,” anh ta thêm vào khi thấy Strike sắp nhăn trán. “Tụi tôi sẽ biết được là hắn có ở đó không.”
Wardle ngáp rồi duỗi người.
“Tôi phải về lại văn phòng,” anh ta nói. “Đêm nay dễ mà thức trắng. Sau khi báo chí bâu vào thì tụi tôi có quá trời thông tin.”
Strike cực kỳ đói bụng, nhưng tửu quán thật ồn ào và hắn cảm thấy muốn ngồi ăn ở chỗ nào đó có thể nghĩ ngợi được. Hắn và Wardle cùng đi ra đường, vừa đi cả hai vừa châm thuốc mới.
“Chuyên gia tâm lý có nói một chuyện,” Wardle kể khi tấm màn bóng tối trải dần qua bầu trời trên đầu họ. “Nếu ta đúng, và nếu ta đang đối mặt với một kẻ giết người hàng loạt, thì tên này có lẽ là loại cơ hội. Y có một cách thức gây án cực kỳ khéo léo – y hẳn là người giỏi tính toán, có vậy mới lọt lưới nhiều lần vậy – nhưng ở Kelsey thì có thay đổi. Y biết chính xác cô ta ở đâu. Những lá thư và chuyện y biết rằng sẽ không có ai ở đó: hoàn toàn đã mưu tính trước.
“Vấn đề ở chỗ, tụi tôi đã xem khá kỹ rồi, nhưng tụi tôi không thể tìm thấy bằng chứng cho thấy bất kỳ tay nào trong đám nghi can của anh từng tiếp xúc với cô ta. Tụi tôi gần như phá nát máy tính của Kelsey, nhưng không có gì cả. Cô ta chỉ nói vụ chân cẳng với hai đứa dở hơi Jason và Tempest. Kelsey hầu như không bạn bè gì, mà có thì toàn là con gái. Điện thoại cũng không có gì đáng ngờ. Như tụi tôi biết, không ai trong số ba tay đó từng sống hay làm việc ở Finchley hoặc Shepherds Bush, chứ đừng nói là bén mảng đến gần trường lớp của Kelsey. Họ cũng không có liên hệ nào với người thân của cô ta. Làm thế quái nào mà một trong số đó lại có thể tới gần đủ để lôi kéo Kelsey mà gia đình không ai hay biết?”
"Ta biết Kelsey lả người lật lọng khó lường," Strike đáp. "Đừng quên vụ cậu bạn trai tưởng tượng hóa ra là người thật, từng đưa đón ở Café Rouge."
“Ừ,” Wardle thở dài. “Tụi tôi vẫn không có manh mối nào về cái xe khốn nạn đó. Tụi tôi có đăng mô tả trên báo, nhưng chẳng có gì sất."
“Cô cộng sự của anh sao rồi?” anh ta tiếp, dừng lại bên ngoài cánh cửa gương trước nơi làm việc, nhưng có vẻ như quyết tâm hút đến mi-li-mét thuốc lá cuối cùng. “Không choáng quá chứ?”
"Cô ấy ổn," Strike đáp. "Cô ấy đang về Yorkshire để thử áo cưới. Tôi bắt cô ấy nghỉ phép: gần đây cô làm suốt cả cuối tuần.”
Robin đã đi mà không phàn nàn gì. Ở lại thì làm được gì, với báo giới rình mò trên phố Denmark, một công việc lương hưởng chẳng ra gì, cảnh sát giờ đây đã ôm sô cả Brockbank, Laing và Whittaker và họ làm việc hiệu quả hơn nhiều so với văn phòng thám tử của hai người?
“Chúc may mắn,” Strike nói khi hai người chia tay. Tay cảnh sát đưa một tay lên đáp lễ, vẫy chào, rồi biến mất vào trong tòa nhà to lớn đằng sau lăng kính lấp lánh xoay tròn với dòng chữ New Scotland Yard.
Strike thả bộ về phía ga tàu, thèm một cái kebab và thầm giải bài toán Wardle vừa đưa ra. Làm thế nào một trong số những nghi can của hắn có thể đến gần Kelsey Platt đủ để nắm được động tĩnh và lấy được lòng tin của cô ta?
Hắn nghĩ đến Laing, sống một mình trong căn hộ chung cư Wollaston ảm đạm, ăn trợ cấp, béo phì, bệnh tật, già hơn cái tuổi ba mươi tư. Laing từng là một kẻ có khiếu hài hước. Liệu Laing còn có khả năng mồi chài, khiến một cô gái lên ngồi mô -tô cho hắn chở, rồi tin tưởng rủ hắn về căn hộ ở Shepherds Bush, mà cả gia đình không hề hay biết?
Còn Whittaker thì sao, với mùi cocaine nồng nặc, hàm răng đen bứ, mớ tóc xơ xác đen đủi đó? Đúng là Whittaker từng có thời sở hữu khả năng quyến rũ mê mệt đàn bà con gái, và Stephanie nghiện ngập ốm o dường như thấy hắn ta rất hấp dẫn, nhưng Kelsey xưa nay chỉ thích trai tóc vàng gọn gàng sạch sẽ, chỉ lớn hơn mình vài tuổi.
Rồi đến Brockbank. Với Strike, tay cựu tiền vệ cánh bệ vệ da ngăm đó thật kinh tởm, và khác một trời một vực với Niall xinh trai. Brockbank đã sinh sống làm ăn cách xa nhà của Kelsey hàng dặm, và mặc dù cả hai đều đi nhà thờ, hai nhà thờ lại nằm ở hai bờ sông Thames. Đến giờ, cảnh sát hẳn đã tìm ra được bất kỳ mối liên hệ nào giữa hai giáo xứ đó, nếu có.
Liệu từ chuyện không hề có mối liên hệ nào giữa Kelsey và ba nghi can đó, ta có thể loại trừ cả ba chăng? Trong khi lô-gic dường như đang cố nói có, điều gì đó bên trong Strike vẫn tiếp tục bướng bỉnh thì thầm không.