Thật khó hiểu. Cô rít một hơi thuốc dài, giữ điếu thuốc trên tay phải trong lúc dùng tay trái sắp xếp lại các tấm ảnh chụp tia X trên mặt bàn. Ai đó, nhiều khả năng là chính tác giả bức họa, đã lồng một kiểu câu đố vào bức tranh rồi giấu nó dưới một lớp sơn. Hoặc có thể là một người khác đã làm việc ấy vào một thời điểm muộn hơn. Có nghĩa là có cả một quãng thời gian xấp xỉ năm trăm năm để cô phỏng đoán thời điểm xuất hiện dòng chữ. Ý nghĩ đó khiến Julia thích thú. Tìm ra lời giải cho câu đố này hẳn sẽ không quá khó khăn. Xét cho cùng, đó chính là nghề của cô.
Cô cầm các tấm ảnh lên rồi đứng dậy. Luồng sáng ảm đạm chiếu qua khung cửa sổ lớn trên mái nhà nằm nghiêng rọi thẳng vào bức tranh đặt trên giá vẽ. Bức Ván cờ, chất liệu sơn dầu trên nền gỗ, được Pieter Van Huys vẽ vào năm 1471. Cô đứng trước bức họa, chăm chú nhìn nó hồi lâu. Đó là một bức họa vẽ cảnh nội thất với những chi tiết tỉ mỉ của thế kỷ 15, kiểu bối cảnh mà cùng với nó các bậc thầy hội họa vĩ đại của trường phái Flemish, những người đầu tiên sử dụng sơn dầu, đã đặt nền móng cho hội họa hiện đại. Các nhân vật chính trong tranh là hai người đàn ông trung niên có dáng vẻ quý phái ngồi hai bên một bàn cờ với ván cờ đang chơi dở.
Ở hậu cảnh phía bên phải, gần khung cửa sổ có đỉnh hình chóp mở ra phong cảnh bên ngoài, một quý bà mặc đồ đen đang chăm chú đọc cuốn sách đặt trong lòng. Bối cảnh được hoàn tất với những chi tiết tỉ mỉ điển hình của trường phái Flemish, được họa lại với sự hoàn hảo gần như ám ảnh: nội thất và đồ trang trí, nền nhà lát gạch trắng đen, các họa tiết trên tấm thảm, một vết nứt nhỏ trên tường, bóng của một cái đinh nhỏ xíu trên một trong những thanh rầm nhà. Bàn cờ và các quân cờ được thể hiện cũng chính xác như những khuôn mặt, bàn tay và trang phục của các nhân vật trong tranh, với mức độ tả thực hoàn hảo, đem đến cho toàn bộ bức họa dáng vẻ tinh xảo đến khó tin, màu sắc của nó vẫn còn sống động khác thường dù không tránh khỏi bị tối màu do quá trình ôxy hóa từ từ của lớp dầu véc ni nguyên bản.
Ai đã giết hiệp sĩ? Julia nhìn xuống tấm ảnh đang cầm trong tay, rồi nhìn trở lại bức họa, không thể phát hiện ra trên đó bất cứ dấu vết nào của dòng chữ bị che giấu nếu nhìn bằng mắt thường. Thậm chí việc kiểm tra kỹ càng hơn bằng cách sử dụng một chiếc kính hiển vi hai mắt có độ phóng đại bảy lần cũng không giúp phát hiện ra điều gì. Cô kéo tấm rèm cuốn trên cửa sổ trần xuống, làm cả căn phòng chìm vào bóng tối, rồi kê một chiếc giá ba chân có lắp đèn soi tử ngoại bên trên lại gần giá vẽ. Dưới ánh đèn tử ngoại, tất cả các chất liệu lâu đời nhất, màu vẽ và dầu bóng sẽ phát huỳnh quang, trong khi những chất liệu có tuổi đời ngắn hơn sẽ hiện màu tối hoặc đen, nhờ đó để lộ ra bất kỳ chi tiết chỉnh sửa hay vẽ lại nào sau này. Tuy nhiên, trong trường hợp này ánh đèn tử ngoại chỉ làm hiện lên một bề mặt phát huỳnh quang đồng nhất, kể cả phần che đi dòng chữ. Kết quả này cho thấy những từ bí hiểm đó hoặc đã bị chính họa sĩ vẽ đè lên, hoặc đã bị che phủ không lâu sau khi bức họa hoàn tất.
Cô tắt đèn và kéo rèm lên. Thứ ánh sáng xám mờ như ánh thép của buổi sáng mùa thu lại rọi vào chiếc giá vẽ và bức họa; nó tràn ngập khắp gian phòng bừa bộn sách với những chiếc giá chật ních sơn, cọ vẽ, véc ni và dung môi, sàn nhà bày la liệt dụng cụ thợ mộc, khung tranh và các dụng cụ đo chính xác, những bức tượng cổ, khung căng toan bằng gỗ và đồng, những bức tranh dựng úp vào tường, nằm trên tấm thảm Ba Tư đắt giá nhưng đã dính đầy màu. Trong một góc nhà, trên chiếc bàn viết kiểu Louis XV, đặt một dàn âm thanh hifi vây quanh bởi những chồng đĩa của: Don Cherry, Mozart, Miles Davis, Satie, Lester Bowie, Michael Hedges, Vivaldi[1]… Tấm gương khung mạ vàng kiểu Venice treo trên tường đang hiện lên hình ảnh hơi mờ của Julia: tóc ngang vai, hai quầng thâm nhẹ (do thiếu ngủ) dưới đôi mắt to, đen và chưa được trang điểm của cô. Mỗi khi César nhìn thấy khuôn mặt cô hiện lên giữa chiếc khung mạ vàng của tấm gương đó, ông thường nói trông cô đáng yêu như một trong những người mẫu của Leonardo da Vinci, mỹ nhân đẹp nhất của tôi. Và cho dù có thể coi César là một chuyên gia sành sỏi về các chàng trai trẻ hơn là các cô gái đẹp, Julia biết rõ những gì ông nói hoàn toàn đúng. Ngay cả cô cũng rất thích ngắm mình trong tấm gương có khung mạ vàng đó, vì nó luôn đem đến cho cô cảm giác vừa đột ngột đi qua bên kia một cánh cửa thần kỳ, một cánh cửa đã giúp cô vượt qua không gian và thời gian, trả lại cho cô hình ảnh của chính mình với tất cả sự khỏe khoắn đầy sức sống của một vẻ đẹp thời Phục hưng của Italia.
Cô mỉm cười khi nghĩ về César. Cô luôn mỉm cười mỗi khi nghĩ đến ông, kể từ khi còn là một cô bé. Đó là một nụ cười trìu mến, thường cũng là một nụ cười đồng lõa. Cô đặt những tấm ảnh chụp tia X xuống bàn, dụi điếu thuốc vào chiếc gạt tàn nặng nề bằng đồng có chữ ký của nhà điêu khắc Tây Ban Nha Benlliure[2] rồi ngồi xuống trước chiếc máy chữ của mình.
VÁN CỜ
Sơn dầu trên ván gỗ. Trường phái Flemish. Vẽ năm 1471.
Nghệ sĩ: Pieter Van Huys (1415-1481).
Vật liệu nền: Ba tấm ván gỗ sồi được ghép lại bằng keo.
Kích thước: 60 × 87 cm (gồm ba tấm ván giống hệt nhau có kích thước 20 × 87 cm).
Độ dày của ván: 4 cm.
Tình trạng bảo tồn vật liệu nền: Không bị cong vênh. Không có tổn hại đáng kể do mọt gây ra.
Tình trạng bảo tồn bề mặt tranh: Các lớp cấu trúc gắn và liên kết với nhau tốt. Không có thay đổi về màu sắc. Có vài vết rạn do lão hóa theo thời gian, nhưng không có hiện tượng phồng hay bong tróc.
Tình trạng bảo tồn lớp phủ bề mặt: Không có vết gỉ muối hay bị ẩm rõ rệt. Lớp sơn bóng bề mặt bị sẫm màu nghiêm trọng do quá trình ôxy hóa; nên tách bỏ lớp sơn véc ni cũ để sơn lại lớp véc ni mới.
Bình cà phê reo lục bục trong bếp. Julia đứng dậy rót cho mình một cốc to, cà phê đen, không đường. Cô quay lại với cốc cà phê cầm ở một tay, tay kia chùi vào chiếc áo len rộng thùng thình kiểu đàn ông đang mặc bên ngoài bộ pyjama. Một cú bấm nhẹ bằng ngón trỏ, và giai điệu bản Concerto cho đàn luýt và viola trữ tình của Vivaldi tràn ngập khắp căn phòng, bồng bềnh trong ánh sáng xám mờ của buổi sáng. Cô nhấp một ngụm cà phê đen đặc quánh và đắng đến tê đầu lưỡi. Sau đó cô lại ngồi xuống, đôi chân trần đặt lên tấm thảm, và tiếp tục gõ bản báo cáo.
Kiểm tra dưới đèn tử ngoại và tia X: Không phát hiện thấy thay đổi quan trọng nào, dù là chỉnh sửa hay vẽ lại sau này. Các ảnh chụp tia X cho thấy một dòng chữ khắc chìm được viết bằng kiểu chữ Gothic vào cùng thời điểm bức tranh được vẽ (xem các ảnh chụp kèm theo). Dòng chữ này không thể được phát hiện bằng các phương pháp kiểm tra thông thường. Có thể khiến cho dòng chữ lộ ra mà không làm tổn hại đến bức tranh gốc bằng cách loại bỏ lớp sơn đang phủ đè lên nó.
Cô rút tờ giấy ra khỏi chiếc máy chữ, cho nó vào một chiếc phong bì cùng các bức ảnh chụp tia X, uống nốt chỗ cà phê lúc này vẫn còn nóng, rồi ngồi xuống hút một điếu thuốc nữa. Trên chiếc giá vẽ trước mặt cô, ở đằng trước quý bà chăm chú đọc sách bên cửa sổ, hai kỳ thủ đang để hết tâm trí vào ván cờ tới giờ đã kéo dài được năm thế kỷ, ván cờ được Pieter Van Huys họa lại một cách chân thực và tài tình đến mức, giống như tất cả những chi tiết khác trong bức tranh, những quân cờ trông như thể nổi bật hẳn lên trên bề mặt. Cảm giác hiện thực rõ rệt đến mức bức tranh dễ dàng đạt được những hiệu ứng mà các bậc thầy Flemish cổ điển tìm kiếm: đưa người xem hòa nhập vào tổng thể của bức họa, thuyết phục anh ta rằng không gian anh ta đang đứng cũng chính là không gian được thể hiện trong tác phẩm, như thể bức họa là một mảnh ghép của thực tế, hay thực tế là một mảnh ghép của bức họa. Bổ sung cho hiệu ứng này là khung cửa sổ bên phải của bối cảnh, mở ra một phong cảnh nằm phía sau bối cảnh trung tâm, và một tấm gương lồi tròn treo trên bức tường bên trái, phản chiếu hình ảnh thu nhỏ của các kỳ thủ và bàn cờ, bị biến dạng theo đúng góc nhìn phối cảnh của người xem, những người sẽ đứng đối diện với bối cảnh trong tranh. Nhờ đó, bức họa đã đạt được thành công đáng kinh ngạc trong việc kết hợp ba tầng mặt phẳng – khung cửa sổ, căn phòng và tấm gương – vào một không gian. Như thể, Julia thầm nghĩ, người xem được phản chiếu vào giữa hai kỳ thủ, vào hẳn bên trong bức tranh.
Cô đứng dậy đến bên giá vẽ. Khoanh hai tay trước ngực, cô đứng nhìn bức họa hồi lâu, hoàn toàn bất động, ngoại trừ việc thỉnh thoảng rít một hơi thuốc lá và nheo mắt trước làn khói. Một trong hai kỳ thủ, người ngồi bên trái, có vẻ chừng ba mươi lăm tuổi. Mái tóc nâu của ông ta được cạo sát ngay bên trên tai theo kiểu thời Trung cổ; ông ta có chiếc mũi diều hâu mạnh mẽ, cái nhìn tập trung cao độ. Ông ta mặc một chiếc áo chẽn được vẽ bằng một thứ màu đỏ mà đáng ngưỡng mộ thay, đã kháng cự lại cả thời gian và quá trình ôxy hóa của lớp sơn dầu. Người đàn ông này đeo trên cổ phù hiệu Hiệp sĩ Cừu Vàng[3] và gắn bên vai phải là một cây trâm vô cùng tinh xảo, các đường nét chạm khắc trên đó được vẽ lại rất chi tiết tỉ mỉ, thậm chí cả nhưng tia sáng nhỏ long lanh trên mỗi viên đá quý. Ông ta ngồi với khuỷu tay trái và bàn tay phải đặt xuống hai bên bàn cờ. Giữa các ngón tay của bàn tay phải, ông ta đang cầm một quân cờ: một quân hiệp sĩ trắng[4]. Bên cạnh đầu ông ta là dòng chú thích nhận diện viết bằng kiểu chữ Gothic: FERDINANDUS OST. D.
Kỳ thủ còn lại có vóc người gầy hơn, trạc bốn mươi tuổi. Trán ông ta nhẵn thín, và mái tóc màu sậm gần như đen bắt đầu ngả xám ở hai bên thái dương, nơi chỉ có thể lờ mờ nhận ra những nét cọ trắng loại mảnh nhất. Chi tiết này, cùng với vẻ mặt và toàn bộ thần thái ở con người ông ta, đem đến cho kỳ thủ thứ hai vẻ chín chắn từng trải hơn độ tuổi. Khuôn mặt nhìn nghiêng của ông ta toát lên vẻ bình thản và cao quý. Không như kỳ thủ thứ nhất, người đàn ông này không mặc triều phục sang trọng mà chỉ khoác trên mình một chiếc áo giáp da đơn giản với miếng giáp che cổ bằng thép sáng bóng, đem lại cho người mặc dáng vẻ của một chiến binh không lẫn vào đâu được. Ông ta cúi người xuống bàn cờ nhiều hơn đối thủ của mình, như thể đang dồn hết tâm trí vào ván cờ, dường như hoàn toàn lãng quên mọi thứ xung quanh mình, hai cánh tay ông ta khoanh lại bên mép bàn. Sự tập trung cao độ của người đàn ông có thể được thấy rõ qua những nếp nhăn mờ thẳng đứng giữa hai bên lông mày của ông ta. Ông ta nhìn chăm chăm vào các quân cờ như thể chúng đang thách thức ông ta với một tình thế cực kỳ khó khăn mà người ta phải dốc hết năng lực trí tuệ mới có thể tìm ra lời giải. Dòng chú thích trên đầu ông ta ghi: RUTGIER AR. PREUX.
Quý bà ngồi bên cửa sổ được tách riêng ra khỏi hai kỳ thủ bằng việc sử dụng một đường phối cảnh sắc bén đưa bà lên một mặt phẳng cao hơn bên trong khuôn khổ bức tranh. Lớp vải nhung đen trên chiếc váy của bà, được tạo độ phồng với những chỗ điểm xuyết khéo léo bằng bóng mờ màu trắng và xám, dường như đang vượt ra khỏi bức tranh và hướng về phía người xem. Vẻ chân thực của nó không hề kém cạnh ngay cả khi so sánh với những chi tiết tỉ mỉ đến hoàn hảo của đường viền tấm thảm, hay độ chính xác trong việc thể hiện sàn nhà lát gạch cũng như từng mắt gỗ, khớp nối và từng ván gỗ trên rầm nhà. Nhoài người lại gần bức tranh để nghiên cứu những hiệu ứng này kỹ càng hơn, Julia run lên vì cảm giác ngưỡng mộ của một người trong nghề trào lên trong lòng. Chỉ một bậc thầy như Van Huys mới có thể sử dụng màu đen trên một bộ xiêm y ấn tượng đến vậy, tận dụng màu sắc bằng chính sự thiếu hụt màu sắc ở một mức độ mà ít người dám làm. Và tất cả sống động đến mức Julia có cảm giác bất cứ lúc nào cô cũng có thể nghe thấy tiếng sột soạt khe khẽ của nhung trên lớp da được chạm nổi của chiếc ghế đẩu lùn.
Cô ngắm nhìn khuôn mặt người phụ nữ. Một khuôn mặt rất xinh đẹp và quá nhợt nhạt so với mốt thời thượng lúc bấy giờ. Mái tóc dày vàng óng được cẩn thận chải mượt mà từ hai bên thái dương ra phía sau và búi gọn lại trong một tấm mạng màu trắng. Hai cánh tay nằm trong lần vải dệt hoa Damask màu xám nhạt, hé ra từ trong các ống tay áo xòe; hai bàn tay dài và mảnh mai cầm một cuốn sách ghi các bài kinh cầu nguyện. Ánh sáng chiếu qua khung cửa sổ làm lóe lên ánh kim loại từ cả chiếc khóa cài đang mở của cuốn sách lẫn chiếc nhẫn vàng duy nhất tô điểm cho bàn tay của người phụ nữ. Hai hàng mi đang cụp xuống, che khuất đôi mắt chắc hẳn có màu xanh lam, thể hiện vẻ bình yên và khiêm tốn đầy đức hạnh đặc trưng của chân dung phụ nữ thời kỳ đó. Ánh sáng trong tranh đến từ hai nguồn, khung cửa sổ và tấm gương, vừa kết nối người phụ nữ với hai kỳ thủ vừa tách bà riêng ra một cách tinh tế, khiến chân dung người phụ nữ càng trở nên ấn tượng hơn với các góc nhìn theo phối cảnh và các mảng bóng tối. Dòng chú thích của người phụ nữ ghi: BEATRIZBURG. OST. D.
Julia lùi lại vài bước để nhìn tổng thể bức họa. Không còn nghi ngờ gì nữa: đây là một kiệt tác, với đầy đủ tài liệu làm bằng chứng được các chuyên gia công nhận. Có nghĩa nó sẽ đạt được một mức giá cao trong cuộc bán đấu giá do công ty Claymore tổ chức vào tháng Một. Biết đâu một dòng chữ được giấu kín, cùng với những tài liệu bằng chứng lịch sử phù hợp, sẽ còn nâng giá trị của bức tranh lên cao hơn nữa. Mười phần trăm cho Claymore, năm phần trăm cho Menchu Roch, phần còn lại cho chủ sở hữu của bức tranh. Chưa đến một phần trăm cho phí bảo hiểm cũng như thù lao của cô trong việc phục chế và làm sạch bức họa.
Cô cởi quần áo, bước vào dưới vòi hoa sen, cửa để mở, cho phép giai điệu của Vivaldi tiếp tục bầu bạn với mình dưới làn hơi nước. Phục chế bức Ván Cờ để đưa nó ra thị trường nghệ thuật có thể đem lại cho cô một khoản kha khá. Chỉ trong vòng vài năm sau khi được cấp bằng, Julia đã tạo dựng được danh tiếng vững chắc và trở thành một trong những chuyên gia phục chế tác phẩm nghệ thuật được các bảo tàng và nhà buôn đồ cổ săn đón nhất. Làm việc có phương pháp và nghiêm ngặt, bản thân cũng là họa sĩ vào thời gian rảnh, cô được biết đến như một chuyên gia phục chế luôn tôn trọng tác phẩm gốc, một khía cạnh mang tính đạo đức không phải lúc nào các đồng nghiệp của cô cũng đồng tình. Trong mối quan hệ tinh thần đầy khó khăn và thường khá lúng túng giữa một chuyên gia phục chế và tác phẩm mà anh ta hay cô ta phải xử lý, trong cuộc giằng co quyết liệt giữa bảo tồn và phục chế mới, cô gái trẻ có ưu điểm là không bao giờ để tầm nhìn của mình chệch khỏi một nguyên lý cơ bản: không tác phẩm nghệ thuật nào có thể được phục chế về trạng thái nguyên thủy của nó mà không phải chấp nhận những tổn thất đáng kể. Julia tin rằng những điều như quá trình lão hóa tự nhiên theo thời gian, những lớp gỉ, sự thay đổi của màu sắc và lớp véc ni, thậm chí cả những tì vết, những chỗ vẽ lại hay chỉnh sửa, tất cả, cùng với dòng chảy của thời gian, đều trở thành một hợp phần hữu cơ của tác phẩm nghệ thuật, không kém gì sáng tác ban đầu. Có lẽ cũng vì điều đó, những bức họa từng qua tay cô chưa bao giờ gặp nguy cơ bị trang hoàng lại bởi những màu sắc và ánh sáng lạ hoắc mới tinh được giả thiết là vóc dáng ban đầu của chúng – “những ả điếm bự son dày phấn,” César vẫn hay gọi chúng như thế – mà luôn được xử lý một cách tinh tế, cho phép hòa nhập các dấu ấn của thời gian vào tác phẩm.
Cô bước ra khỏi phòng tắm, người quấn trong một chiếc áo choàng, mái tóc ướt đẫm nhỏ nước xuống hai bờ vai. Châm một điếu thuốc lá nữa, cô đứng trước bức họa trong lúc mặc đồ: một đôi giày đế thấp, một chiếc váy có xếp li màu nâu và một chiếc áo khoác da. Cô đưa mắt nhìn hình ảnh của mình trong tấm gương Venice treo trên tường một cách hài lòng, rồi quay sang hai kỳ thủ mặt mày căng thẳng và nháy mắt với họ đầy khiêu khích. Ai đã giết hiệp sĩ? Trong lúc cô cho những bức ảnh và bản báo cáo vào túi, câu hỏi đó cứ lởn vởn trong đầu cô như một câu đố đầy thách thức. Cô bật hệ thống báo động điện tử lên, rồi xoay hai vòng chìa trong ổ khóa an toàn. Quis necavit equitem. Theo cách này hay cách khác, câu hỏi đó phải có ý nghĩa nào đó. Cô nhẩm đi nhẩm lại những từ đó trong lúc xuống cầu thang, lướt các ngón tay theo lan can mạ đồng thau. Cô thực sự bị bức tranh và dòng chữ bí ẩn khơi dậy trí tò mò, song vẫn còn một chuyện khác nữa: Cô đang có một dự cảm xấu rất lạ, giống hệt như cảm giác cô đã từng có khi còn là một cô bé đứng ở đầu cầu thang, cố tìm đủ can đảm để nhìn vào tầng áp mái tối om.
❀ ❀ ❀
[1] : Những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ kèn nổi tiếng thế giới.
[2] : nhà điêu khắc nổi tiếng Tây Ban Nha.
[3] : Một dòng hiệp sĩ do Công tước Philip đệ tam xứ Burgundy thành lập năm 1430.
[4] : Để phù hợp với câu chuyện, một số quân cờ vua sẽ được dịch sát theo tên gọi gốc, thay vì theo cách thường gọi của người Việt, vốn lấy cảm hứng từ cờ tướng. Cụ thể, quân hiệp sĩ thay cho quân mã, giám mục thay cho tượng và tháp thay cho xe.