Muñoz mỉm cười nửa miệng, theo kiểu máy móc, lạnh nhạt, khiến ông ta dường như không hề bộc lộ bất cứ điều gì, kể cả là cố gắng thể hiện sự thông cảm.
“Vậy ra tất cả là thế,” ông ta khẽ nói, rảo bước lên đi ngang hàng với Julia.
“Phải.” Cô bước đi, đầu cúi xuống đắm chìm trong suy nghĩ. Đưa tay ra khỏi túi chiếc áo khoác da của mình, cô vuốt những lọn tóc đang xòa ra trên mặt. “Giờ ông đã biết toàn bộ câu chuyện. Ông có quyền được biết, tôi cho là thế. Ông xứng đáng được như vậy.”
Người kỳ thủ nhìn thẳng về phía trước, ngẫm nghĩ về cái quyền mới vừa nhận được đó.
“Tôi hiểu,” ông ta lẩm bẩm.
Hai người thong thả rảo bước đi cạnh nhau. Trời lạnh buốt. Những con phố hẹp kín đáo vẫn chìm trong màn đêm, ánh sáng từ những ngọn đèn đường chỉ đủ soi sáng từng khoảng mặt đường nhựa ướt sũng, làm chúng sáng lên như được phủ một lớp véc ni mới. Dần dần những chiếc bóng trở nên bớt tối tăm hơn khi buổi bình minh nặng nề xám xịt hé rạng ở cuối đại lộ phía xa, nơi hình dáng của các tòa nhà, nổi bật lên trên nền ánh sáng, chuyển dần từ đen sang xám.
“Liệu có lý do đặc biệt nào,” Muñoz hỏi, “khiến cô giữ kín phần này của câu chuyện với tôi tới tận bây giờ không?”
Cô đưa mắt nhìn ông ta trước khi trả lời. Dường như người kỳ thủ có vẻ quan tâm, một cách mơ hồ, nhưng không hề cảm thấy bị xúc phạm. Ông ta lơ đãng nhìn con phố vắng tanh trải ra phía trước họ, hai tay đút trong túi áo mưa, cổ áo kéo dựng lên.
“Tôi nghĩ có thể ông sẽ thích không can dự đến nó hơn.”
“Tôi hiểu rồi.”
Khi hai người rẽ vào góc phố, họ được một chiếc xe dọn rác đang ồn ào ép rác vào thùng chào đón, và Muñoz giúp cô len lỏi đi qua chỗ những thùng rác trống rỗng.
“Giờ cô nghĩ mình sẽ làm gì?” ông ta hỏi.
“Tôi không biết nữa. Hoàn tất công việc phục chế, chắc vậy. Và viết một bản báo cáo dài về câu chuyện liên quan tới bức tranh. Nhờ ông, thậm chí tôi còn có thể ít nhiều trở nên nổi tiếng nữa.”
Muñoz lắng nghe một cách lơ đãng, như thể tâm trí ông ta đang để tận đâu đâu.
“Thế còn cuộc điều tra của cảnh sát thì sao?”
“Giả sử đúng là có một kẻ sát nhân thì họ sẽ tìm ra hắn thôi. Họ luôn tìm ra thủ phạm mà.”
“Cô có nghi ngờ ai không?”
Julia bật cười.
“Lạy Chúa, không!” Cô cau mày trong lúc trầm ngâm suy nghĩ về khả năng đó. “Ít nhất tôi cũng hy vọng là không.” Cô nhìn Muñoz. “Tôi cho rằng điều tra một tội ác mà có thể không phải là một tội ác rất giống điều ông vừa làm với bức tranh.”
Muñoz cười nửa miệng.
“Tất cả là vấn đề logic, tôi nghĩ vậy,” ông ta trả lời. “Và có thể đó là một điểm tương đồng giữa các kỳ thủ cờ vua và thám tử.” Julia không chắc ông ta đang nghiêm chỉnh hay bỡn cợt. “Hình như Sherlock Holmes cũng chơi cờ.”
“Ông có đọc tiểu thuyết trinh thám không?”
“Không. Dù những cuốn sách tôi đọc về mặt nào đó cũng giống như thế.”
“Sách nào vậy?”
“Sách về cờ vua, tất nhiên rồi. Cũng như sách về các câu đố toán học, các bài toán suy luận, những chủ đề kiểu như vậy.”
Họ cùng băng qua đại lộ vắng tanh. Khi hai người sang tới vỉa hè bên kia, Julia lén nhìn người bạn đồng hành lần nữa. Trông ông ta không có vẻ gì là một người thông minh xuất chúng, và cô không dám chắc mọi thứ diễn ra suôn sẻ với ông ta ngoài đời thực. Bước đi cắm cúi với hai bàn tay đút trong túi áo, chiếc cổ áo sơ mi nhàu nhĩ thò ra ngoài, đôi tai to nhô lên trên chiếc áo mưa cũ kỹ, trông ông ta đúng chính xác như con người thật của mình, một nhân viên văn phòng vô danh, với sự giải thoát duy nhất khỏi cảnh khốn khó là những gì cờ vua đem đến, một thế giới của những khả năng kết hợp, những thế cờ và giải pháp. Điều lạ lùng nhất ở ông ta là tia sáng trong ánh mắt luôn tắt ngấm mỗi khi ông ta rời cái nhìn khỏi bàn cờ, cũng như cách ông ta cúi đầu xuống như thể đang bị thứ gì đó nặng nề đè sau gáy, nghiêng đầu về phía trước, có lẽ để cho phép thế giới bên ngoài lướt qua mà không xâm chiếm thế giới của ông ta nhiều hơn những gì thực sự cần thiết. Ông ta làm cô ít nhiều nghĩ đến hình ảnh các tù binh chiến tranh mà cô từng trông thấy trong những bộ phim tài liệu cũ, nặng nề lê bước với cái đầu cúi gằm. Người bạn đồng hành lúc này của cô có dáng vẻ không lẫn vào đâu được của một người thua trận từ trước cả khi trận chiến bắt đầu, của một người thức giấc vào mỗi buổi sáng chỉ để thất bại.
Thế nhưng vẫn còn một điều gì đó nữa. Khi Muñoz giải thích về một nước đi, lần theo đầu mối rối rắm của ván cờ, ở ông ta lóe lên một tia sáng của thứ gì đó vững chắc, thậm chí xuất chúng. Như thể, hoàn toàn đối nghịch với vẻ bề ngoài, bên trong con người ông ta đang tồn tại một tài năng hiếm có về mặt nào đó, về logic, về toán học, hoặc cũng có thể là thứ gì khác nữa, thứ đem đến cho lời nói và cử chỉ của ông ta sự tự tin nhất định và uy quyền không thể bác bỏ.
Cô nhận ra mình không biết gì về ông ta ngoài việc ông ta chơi cờ và là một nhân viên kế toán. Nhưng giờ đã quá trễ để tìm hiểu nhiều hơn về người đàn ông này. Nhiệm vụ của ông ta đã kết thúc và khó có khả năng họ còn gặp lại nhau.
“Chúng ta có một mối quan hệ thật lạ lùng,” cô nói.
“Về cờ vua mà nói, đó là một mối quan hệ hoàn toàn bình thường,” ông ta đáp. “Hai người, cô và tôi, gặp gỡ nhau trong khoảng thời gian của một ván cờ.” Ông ta lại mỉm cười một cách lơ đãng, không mang bất cứ ý nghĩa nào. “Hãy gọi cho tôi bất cứ khi nào cô muốn chơi một ván cờ nữa.”
“Ông làm tôi bối rối,” cô lập tức buột miệng, “thực sự đấy.”
Ông ta ngạc nhiên nhìn cô, không còn mỉm cười nữa.
“Tôi không hiểu.”
“Tôi cũng vậy.” Julia thoáng cảm thấy do dự, không chắc chắn lắm về những gì cô muốn nói. “Ông dường như là hai con người khác nhau, đôi lúc thật rụt rè kín đáo, với vẻ gì đó vụng về. Nhưng chỉ cần có bất cứ điều gì liên quan tới cờ vua xuất hiện, ông lập tức trở nên tự tin đến mức đáng kinh ngạc.”
“Vậy sao?” Khuôn mặt người kỳ thủ không biểu lộ bất cứ cảm xúc nào, dường như Muñoz đang chờ đợi phần nhận xét còn lại của cô.
“À, thực sự là vậy đấy,” cô lắp bắp, hơi bối rối về nhận xét có phần thiếu tế nhị của mình. “Tôi nghĩ những gì tôi vừa nói thật ngớ ngẩn vào lúc sớm tinh mơ thế này. Tôi xin lỗi.”
Người bạn đồng hành của cô có một cục yết hầu rất lớn, lộ rõ trên cổ áo sơ mi không cài khuy của ông ta, và quả thực ông ta cũng đang cần cạo râu gấp. Đầu ông ta hơi nghiêng sang trái, như thể đang ngẫm nghĩ về những gì cô vừa nói. Nhưng ông ta không hề có vẻ gì ngạc nhiên.
“Tôi hiểu,” ông ta nói, rồi cử động cằm như thể xác nhận mình đã hiểu, mặc dù Julia khó có thể biết chính xác ông ta đã hiểu điều gì. Ông ta đưa mắt nhìn xuyên qua cô, như thể hy vọng sẽ có ai lại gần mang theo một lời nói bị lãng quên. Và rồi ông ta làm một điều khiến Julia sẽ nhớ mãi cùng sự kinh ngạc. Ngay ở đó, chỉ bằng sáu câu nói, với giọng bình thản lạnh lùng như thể ông ta đang nói về một người thứ ba nào đó, ông ta tóm tắt lại cho cô nghe cả cuộc đời mình, hoặc đó là điều mà Julia nghĩ ông ta đã làm, mà không hề dừng lại hay cân nhắc trong khi nói, với cùng sự chính xác ông ta vẫn thể hiện khi bình luận các nước đi trong một ván cờ. Chỉ sau khi ông ta đã nói xong và chìm vào im lặng, một nụ cười thoáng qua mới trở lại trên môi ông ta, với vẻ tự giễu cợt nhẹ nhàng chính bản thân mình, vẻ giễu cợt không hề che giấu, giễu cợt chính người ông ta vừa mô tả lại, con người mà trong sâu thẳm nội tâm mình ông ta chẳng hề cảm thấy có chút trắc ẩn hay coi thường nào, chỉ đơn giản là sự đồng cảm pha lẫn thất vọng.
Julia chỉ biết đứng sững ra đó, không biết phải nói gì, tự hỏi mình bằng cách nào một con người kiệm lời có thể diễn tả mọi điều về mình rõ ràng đến thế. Cô vừa được biết về một đứa trẻ từng chơi cờ trong đầu mình, ngước mắt nhìn chăm chăm lên trần phòng ngủ mỗi khi bị bố phạt vì bỏ bê việc học tập; về những người phụ nữ có khả năng mổ xẻ chi tiết, với sự tỉ mỉ của một người thợ sửa đồng hồ, những cơ chế vận hành bên trong của một người đàn ông; về nỗi cô độc tìm đến với con người sau những thất bại và về sự thiếu vắng niềm hy vọng. Julia không có thời gian để nhập tâm tất cả, và tới lúc cuối cùng, mà cũng gần như là lúc khởi đầu, cô không dám chắc trong đó bao nhiêu là do ông thuật lại cho cô nghe, bao nhiêu là do cô tự tưởng tượng ra, nếu giả thiết rằng Muñoz còn làm thêm gì khác ngoài đơn thuần cúi đầu xuống mỉm cười như một võ sĩ giác đấu mệt mỏi chán chường, dửng dưng hoàn toàn với việc những ngón tay cái quyết định số phận anh ta đang hướng lên trên hay xuống dưới. Khi ông ngừng lời – nghĩa là, nếu ông vừa thực sự nói – và thứ ánh sáng xám xịt của buổi bình minh chiếu sáng một nửa khuôn mặt ông, Julia hiểu một cách hoàn toàn rõ ràng ý nghĩa của cái khoảng nho nhỏ gồm sáu mươi tư ô vuông đen và trắng đó với người đàn ông này: một chiến trường thu nhỏ, trên đó diễn ra bí ẩn của chính sự sống, của thành công và thất bại, của những thế lực khủng khiếp giấu mình đang nắm trong tay vận mệnh con người.
Cô hiểu ra điều đó, cũng như hiểu ra nụ cười chưa bao giờ thực sự thành hình trên đôi môi ông. Cô chầm chậm cúi đầu trong lúc ông ngước mắt nhìn lên bầu trời và nhận xét về việc thời tiết hôm đó lạnh ra sao. Cô đưa bao thuốc lá ra mời; ông nhận một điếu, và đây là lần đầu tiên, mà cũng gần như là lần cuối cùng cô thấy Muñoz hút thuốc. Họ lại cùng rảo bước cho tới khi đến tòa nhà nơi Julia sống. Đến lúc này, dường như Muñoz sẽ ra đi mãi mãi. Ông bắt tay cô, chào tạm biệt, nhưng Julia chợt nhìn thấy một chiếc phong bì nhỏ, chừng cỡ một chiếc danh thiếp thông thường, gài trên song sắt khung cửa nhỏ bên cạnh chuông cửa nhà cô. Khi mở phong bì và xem qua những gì được ghi trên tấm thẻ nằm trong đó, cô hiểu Muñoz không thể ra đi, chưa thể, và rất có thể còn vài điều nữa, những điều chẳng tốt lành gì, sẽ xảy ra trước khi chúng cho phép cô chia tay ông.