Khi cô thức giấc, Menchu vẫn đang ngủ. Cô mặc đồ một cách nhẹ nhàng nhất có thể, để lại một bộ chìa khóa trên bàn và ra khỏi nhà, cẩn thận khóa trái cửa ngoài lại. Đã gần mười giờ, cơn mưa cũng đã nhường chỗ cho một hỗn hợp tối tăm của khói và sương mù, một hỗn hợp làm mờ đi đường nét xám xịt của những tòa nhà và khiến những chiếc xe chạy ngang qua trông giống như những bóng ma, ánh sáng phản chiếu từ đèn pha của chúng vỡ ra trên mặt đường rải nhựa thành vô vàn chấm sáng nhỏ, chúng khoác một tấm mạng ánh sáng huyền ảo lên không khí xung quanh cô trong lúc cô bước đi, hai bàn tay đút sâu vào túi áo mưa.
Belmonte chào đón cô trên chiếc xe lăn của ông, trong căn phòng vẫn mang dấu vết mà bức tranh của Van Huys để lại. Đĩa nhạc bất di bất dịch của Bach vẫn được chơi trên chiếc máy quay đĩa và Julia tự hỏi, trong lúc lấy tập tài liệu ra khỏi túi xách, liệu có phải ông già luôn cố tình bật đĩa nhạc này mỗi lần cô tới hay không. Ông chủ nhà lấy làm tiếc về sự vắng mặt của Muñoz, nhà-toán-học-kiêm-kỳ-thủ-cờ-vua, như ông vẫn gọi với vẻ châm biếm không giấu giếm, rồi chăm chú đọc bản báo cáo Julia mang tới, trong đó trình bày chi tiết về các biến cố lịch sử liên quan tới bức tranh, kết luận cuối cùng của Muñoz về bí ẩn liên quan tới Roger de Arras, những tấm ảnh chụp lại các giai đoạn khác nhau của quá trình phục chế và bản tờ rơi màu vừa được Claymore in ra công bố các chi tiết về bức tranh và cuộc bán đầu giá. Thỉnh thoảng ông già lại gật đầu tỏ vẻ hài lòng, đôi lúc đưa mắt nhìn Julia trong chốc lát trước khi tiếp tục chăm chú đọc tiếp bản báo cáo.
“Tuyệt vời,” ông nói khi đã đọc xong và đóng tập tài liệu lại. “Cô quả là một cô gái trẻ xuất sắc hiếm có.”
“Không chỉ mình tôi. Như ông biết đấy, rất nhiều người đã tham gia vào việc này… Paco Montegrifo, Menchu Roch, Muñoz…” Cô do dự. “Chúng tôi cũng đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia về mỹ thuật.”
“Ý cô muốn nói tới giáo sư Ortega quá cố?”
Julia lúng túng nhìn vị chủ nhà.
“Tôi không biết là ông đã biết cả chuyện đó.”
Ông già mỉm cười ranh mãnh.
“À, như cô thấy đấy, tôi có biết. Khi người ta tìm thấy thi thể ông ấy, cảnh sát đã liên hệ với cháu gái tôi, chồng nó và tôi. Một viên thanh tra tới đây gặp tôi; tôi không nhớ họ ông ta nữa… Ông ta có bộ ria rậm và dáng người rất béo.”
“Ông ta là Feijoo, thanh tra Feijoo.” Julia bối rối đưa mắt nhìn đi chỗ khác. Chết tiệt, cô thầm nghĩ, đám cảnh sát vô dụng mắc dịch. “Nhưng ông không hề nói gì về chuyện này khi tôi đến đây lần trước.”
“Lúc đó tôi đợi cô nói cho tôi biết. Còn nếu cô không nói, tôi đoán hẳn cô có lý do của mình.”
Có chút giữ ý trong giọng nói của ông già, và Julia hiểu cô sắp mất đi một đồng minh.
“Tôi từng nghĩ là… Ý tôi là tôi xin lỗi, thực sự xin lỗi… tôi sợ có thể làm ông phật ý vì những tin như thế. Nói cho cùng, ông…”
“Có phải ý cô là vì tuổi tác và tình trạng sức khỏe của tôi không?” Belmonte vỗ hai bàn tay xương xẩu đầy đốm đồi mồi lên bụng mình. “Hay cô lo rằng chuyện đó có thể ảnh hưởng tới số phận bức tranh?”
Julia lắc đầu, không biết phải nói gì. Rồi cô mỉm cười nhún vai, với vẻ bối rối một cách chân thành, như là cách trả lời duy nhất, như cô biết quá rõ, có thể làm ông chủ nhà hài lòng.
“Tôi có thể nói gì đây?” cô thì thầm, tin chắc mình đã chơi đúng quân bài khi Belmonte cũng mỉm cười, chấp nhận bầu không khí đồng lõa mà cô đang đưa ra với ông.
“Đừng lo. Cuộc đời rất khó khăn, và những mối quan hệ giữa con người với nhau còn khó khăn hơn.”
“Tôi có thể cam đoan với ông…”
“Cô không cần phải cam đoan gì với tôi cả. Chúng ta đang nói dở về giáo sư Ortega. Có phải đó là một tai nạn không?”
“Tôi nghĩ thế,” Julia nói dối. “Ít nhất, theo tôi hiểu thì là vậy.
Ông già đưa mắt nhìn xuống hai bàn tay mình. Không thể biết được ông có tin cô hay không.
“Vẫn thật khủng khiếp… cô không nghĩ vậy sao?” Ông nhìn cô hồi lâu, cái nhìn nghiêm nghị trong đó biểu hiện một thoáng lo âu. “Những chuyện như thế, ý tôi muốn nói tới cái chết, luôn làm tôi choáng váng ít nhiều. Và vào tuổi của tôi đáng ra phải ngược lại. Thật kỳ lạ làm sao, đối lập với tất cả các loại logic, một người lại níu kéo lấy cuộc sống theo mức độ quyết liệt tỷ lệ nghịch với quãng thời gian còn lại mà anh ta có thể trông đợi từ cuộc đời.”
Trong một khoảnh khắc, Julia đã định tâm sự với ông phần còn lại của câu chuyện: sự tồn tại của gã kỳ thủ vô hình, những mối đe dọa, những cảm giác u ám đang đè nặng lên cô, lời nguyền đồng hành cùng bức tranh của Van Huys, trong khi dấu vết còn lại của nó, một khoảng trống trơn hình chữ nhật bên dưới một chiếc đinh, đang quan sát họ từ trên tường như một điềm báo chẳng lành. Nhưng như thế cũng có nghĩa là phải đưa ra những lời giải thích cô không cảm thấy mình đủ mạnh mẽ để đề cập đến. Cô cũng e ngại sẽ làm ông già bị nỗi lo sợ ám ảnh nhiều hơn nữa, và theo một cách quá là vô ích.
“Không có gì phải lo ngại cả,” cô lại nói dối, một cách đầy tự tin. “Tất cả đều đang trong tầm kiểm soát. Giống như bức tranh vậy.”
Hai người mỉm cười với nhau, nhưng lần này đầy gượng gạo. Julia không rõ Belmonte có tin cô hay không. Ông ngả lưng ra sau trên chiếc xe lăn và cau trán.
“Có một chuyện liên quan tới bức tranh tôi muốn nói với cô.” Ông dừng lời để suy nghĩ một lát trước khi tiếp tục. “Hôm trước, sau khi cô và ông bạn kỳ thủ của cô tới gặp tôi, tôi có nghĩ về bức tranh của Van Huys. Cô còn nhớ cuộc tranh luận của chúng ta về việc cần thiết phải có một hệ thống để hiểu một hệ thống khác, và rằng cả hai đều cần đến một hệ thống cao hơn, rồi cứ như vậy tiếp diễn đến vô tận, cô có nhớ không? Và bài thơ của Borges về cờ vua và về việc vị thần nào ở trên Chúa điều khiển các kỳ thủ di chuyển các quân cờ? Thế này nhé, tôi nghĩ có điều gì kiểu đó như thế với bức tranh này. Điều gì đó vừa chứa đựng chính nó vừa tự lặp lại chính nó, điều gì đó liên tục đưa cô lùi về tới tận điểm xuất phát. Theo quan điểm của tôi, chìa khóa thực sự để giải mã bức Ván cờ không đi theo một đường thẳng, một quá trình được khởi động từ một điểm bắt đầu. Thay vì thế, bức tranh này dường như quay trở lại hết lần này tới lần khác, như thể đang thu mình lại vậy. Cô hiểu ý tôi chứ?”
Julia gật đầu, chăm chú lắng nghe những lời ông nói. Những gì cô vừa nghe được là một lời khẳng định linh tính của chính cô, nhưng lần này được diễn tả bằng các thuật ngữ logic và nói ra thành lời. Cô nhớ tới bản sơ đồ đã thiết lập, sau đó được Muñoz chỉnh sửa thành sáu tầng không gian lồng vào nhau, tới vòng quay bất tận trở lại điểm xuất phát, tới những bức tranh ẩn trong tranh.
“Tôi còn hiểu rõ hơn ông có thể ngờ,” cô nói. “Chuyện này giống như thể bức tranh đang tự tố cáo chính nó vậy.”
Belmonte có vẻ bối rối.
“Tự tố cáo chính nó ư? Điều này có phần đi quá xa so với ý tưởng của tôi.” Hơi nhướng mày, vị chủ nhà bác bỏ nhận xét thoạt nghe có vẻ lạc đề của cô. “Tôi đang nói tới một việc khác kia.” Ông chỉ tay về phía chiếc máy quay đĩa. “Hãy lắng nghe Bach.”
“Chúng ta luôn làm thế mà.”
Belmonte dành cho cô nụ cười của một người cùng hội cùng thuyền.
“Hôm nay tôi không định nhờ đến âm nhạc của Johann Sebastian làm bạn đồng hành, nhưng rồi tôi quyết định đánh thức ông ấy vì cô. Đây là Tổ khúc Pháp số 5, và cô sẽ nhận ra nó bao gồm hai nửa, mỗi nửa đều được lặp lại. Âm chủ trong nửa đầu tiên là son, và nó kết thúc với âm chủ là rê. Được rồi chứ? Giờ hãy lắng nghe. Đúng vào lúc dường như bản nhạc đã kết thúc ở nốt này, ông bạn Bach hay lừa lọc bất ngờ lôi chúng ta nhảy thẳng trở lại điểm khởi đầu, lại với son là âm chủ đạo, rồi sau đó lại trôi trở về rê. Và, dù chúng ta không hiểu bằng cách nào, điều này cứ thế lặp đi lặp lại. Cô nghĩ thế nào?”
“Tôi nghĩ điều đó thật đáng kinh ngạc.” Julia đang chăm chú lắng nghe giai điệu của bản nhạc. “Giống như một vòng lặp liên tục. Như những bức tranh và bản vẽ của Escher[1], trong đó có một dòng nước chảy hiền hòa, rồi biến thành một thác nước và theo cách nào đó không lý giải nổi quay trở lại điểm xuất phát ban đầu. Hay một cầu thang không dẫn tới đâu cả, chỉ đơn thuần quay trở lại điểm đầu của chính cầu thang đó.”
Belmonte gật đầu hài lòng.
“Chính xác. Và hoàn toàn có thể chơi tổ khúc này trên nhiều âm chủ khác nhau.” Ông nhìn lên khoảng trống hình chữ nhật trên tường. “Cái khó, tôi nghĩ, là phải biết cần đặt mình vào đâu trên những vòng quay đó.”
“Ông nói đúng. Sẽ mất nhiều thời gian để lý giải, song có điều gì đó tương tự đang diễn ra trong bức tranh. Đúng vào thời điểm dường như câu chuyện kết thúc, nó lại bắt đầu một lần nữa, nhưng đi theo một hướng khác. Hay có vẻ như đi theo một hướng khác. Bởi vì có lẽ thực ra chúng ta chưa bao giờ rời khỏi chỗ mình đang đứng.”
Belmonte nhún vai.
“Đó là một nghịch lý mà cô và ông bạn kỳ thủ của cô cần tìm ra lời giải. Tôi thiếu các thông tin cần thiết. Như cô biết đấy, tôi chỉ là một kẻ nghiệp dư mà thôi. Thậm chí tôi còn không thể đoán ra người ta có thể lần ngược trở lại ván cờ.” Ông nhìn Julia hồi lâu. “Thật đáng xấu hổ, nếu nghĩ tới những gì tôi vừa nói về Bach.”
Julia ngẫm nghĩ về những lý giải mới mẻ cô không hề trông đợi này. Những sợi len từ một cuộn len, cô thầm nghĩ. Quá nhiều sợi cho một cuộn len duy nhất.
“Ngoài cảnh sát và tôi ra, gần đây có ai đến tìm gặp ông không, ai đó cũng quan tâm tới bức tranh ấy? Hoặc là tới cờ vua?”
Ông già nghĩ ngợi hồi lâu trước khi trả lời, như thể cố xác định xem dụng ý ẩn sau câu hỏi là gì.
“Không có ai như thế cả. Khi vợ tôi còn sống, vẫn hay có khách đến chơi nhà. Bà ấy quảng giao hơn tôi. Nhưng kể từ khi góa vợ, tôi chỉ còn giữ liên hệ với vài người bạn cũ. Như Esteban Cano chẳng hạn. Cô còn quá trẻ để có thể biết ông ấy khi ông ấy là một nghệ sĩ violin thành công. Nhưng ông ấy đã qua đời hai năm nay rồi. Sự thực là số bạn bè ít ỏi của tôi đang dần dần biến mất.” Vị chủ nhà mỉm cười cam chịu. “Còn có Pepe, một người bạn tốt. Pepin Perez Gimenez, cũng đã nghỉ hưu như tôi, ông ấy vẫn tới câu lạc bộ và thỉnh thoảng ghé qua đây chơi với tôi một ván cờ. Nhưng ông ấy đã gần bảy mươi và phải chịu đựng những cơn đau nửa đầu khủng khiếp nếu chơi lâu hơn nửa giờ. Ông ấy từng là một kỳ thủ giỏi. Và còn cả cháu gái của tôi nữa.”
Lúc đó, khi đang lấy một điếu thuốc ra, Julia chợt sững lại. Khi cô cử động lại, động tác của cô trở nên rất chậm chạp, như thể bất cứ cử chỉ quá phấn khích hay nóng vội nào cũng có thể khiến điều cô vừa nghe thấy tan biến mất.
“Cháu gái ông cũng chơi cờ sao?”
“Lola hả? Phải, rất giỏi.” Ông già nở một nụ cười lạ lùng, như thể hối tiếc vì phẩm chất đáng quý này của cô cháu gái không mở rộng sang những lĩnh vực khác của cuộc sống. “Chính tôi đã dạy nó chơi cờ, từ nhiều năm trước; nhưng nó đã vượt xa thầy nó.”
Julia cố giữ bình tĩnh. Cô gồng mình lên để có thể châm điếu thuốc một cách thản nhiên và từ tốn phả ra hai ngụm khói trước khi tiếp tục nói. Song cô có thể cảm thấy tim mình đang phi nước đại.
“Vậy cháu gái ông nghĩ thế nào về bức tranh? Cô ấy có tán thành việc ông bán nó đi không?” Một cú thăm dò năm ăn năm thua.
“Cháu gái tôi vô cùng tán thành chuyện đó. Và chồng nó thậm chí còn hăng hái hơn.” Giọng nói của ông già có chút gì đó cay đắng. “Không nghi ngờ gì nữa, Alfonso đã tính được anh ta sẽ đặt tới đồng xu cuối cùng có được từ bức tranh của Van Huys vào ô số mấy trên guồng quay roulette.”
“Nhưng anh ta đâu đã có số tiền ấy,” Julia chen vào.
Ông già đón nhận cái nhìn của cô, trong đôi mắt nhạt màu ươn ướt của ông lóe lên một tia sáng sắc lạnh, nhưng nó cũng nhanh chóng tắt ngấm.
“Vào thời của tôi,” ông nói với thái độ vui vẻ khó tin, còn trong đôi mắt chỉ còn lại vẻ mỉa mai một cách bình thản, “chúng tôi thường hay nói không nên đếm gà con trước khi trứng nở.”
“Cháu gái ông đã bao giờ đề cập tới điều gì đó bí hiểm liên quan tới bức tranh, các nhân vật hay ván cờ được vẽ trong đó chưa?”
“Theo như tôi nhớ thì chưa. Cô là người đầu tiên đề cập tới chuyện đó. Với chúng tôi, đó luôn là một bức tranh đặc biệt, nhưng không có gì khác thường hay bí ẩn.” Ông trầm ngâm nhìn lên khoảng trống hình chữ nhật trên tường. “Mọi thứ dường như đều rất hiển nhiên.”
“Ông có biết liệu vào khoảng thời gian trước hay cùng lúc Alfonso giới thiệu ông với Menchu Roch, cháu gái ông có thương lượng với một ai khác không?”
Belmonte cau mày. Khả năng này dường như khiến ông rất không hài lòng.
“Tôi chắc chắn hy vọng là không. Nói cho cùng, bức tranh đó là của tôi.” Khuôn mặt ông đầy vẻ tinh quái của người ý thức được mọi thứ. “Và hiện tại vẫn là như thế.”
“Tôi có thể hỏi thêm một câu nữa không, don Manuel?”
“Tất nhiên rồi.”
“Ông có bao giờ nghe thấy cháu gái mình và chồng cô ấy nói tới việc hỏi ý kiến tư vấn của một chuyên gia về lịch sử mỹ thuật không?”
“Tôi không nghĩ thế đâu. Tôi không nhớ chúng có làm như thế, và tôi nghĩ tôi sẽ nhớ nếu chúng làm vậy.” vẻ ngờ vực hiện rõ trong đôi mắt ông. “Đó là công việc của giáo sư Ortega, đúng vậy không? Lịch sử mỹ thuật. Tôi hy vọng cô không đang cố ám chỉ…”
Julia nhận ra cô đã đi quá xa, vậy là cô trưng ra một trong những nụ cười dễ mến nhất có thể.
“Không hẳn là tôi nói tới Alvaro Ortega, mà có thể là bất cứ chuyên gia nào khác về lịch sử mỹ thuật. Việc cháu gái ông có thể tò mò muốn biết giá trị của bức tranh hay tìm hiểu lịch sử của nó cũng không phải là một ý nghĩ gì quá kỳ lạ.”
Belmonte trầm ngâm nhìn ngắm hai mu bàn tay đầy đốm đồi mồi với vẻ suy nghĩ.
“Cháu gái tôi không bao giờ nhắc tới điều đó. Và tôi nghĩ chắc nó có làm thế, vì chúng tôi vẫn thường nói chuyện về bức tranh của Van Huys. Nhất là những lúc chúng tôi chơi lại ván cờ đang chơi dở của các nhân vật trong tranh. Chúng tôi chơi tiếp nó, tất nhiên rồi. Và cô biết chuyện gì đã xảy ra không? Cho dù quân trắng có vẻ đang có lợi thế, Lola đã luôn giành phần thắng với quân đen.”
❀ ❀ ❀
[1] : Maurits Cornells, Escher: nghệ sĩ đồ họa người Hà Lan, được biết đến với những tác phẩm hội họa toán học, về những kiến trúc bất khả thi, khám phá về chiều vô tận.